Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Ứng dụng TMĐT vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành hàng gạo XK

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Hình 2.1: Các hình thức chiêu thị truyền thông giữa ngoại tuyền (offline) và trực tuyến (online)
Error: Reference source not found
Hình 2.2: Các thành phần của quá trình truyền tin Error: Reference source not found
Hình 2.3: Mô hình thang hiệu ứng Error: Reference source not found
Hình 2.4: Quy trình thiết kế chương trình quảng bá thương hiệu Error: Reference source not found
Hình 3.1: Quá trình nghiên cứu Error: Reference source not found
Hình 4.1: Giao diện trang chủ của Công ty www.angimex.com.vn Error: Reference source not found
Hình 4.2: Sitemap của website www.angimex.com.vn Error: Reference source not found
Hình 4.3: Các button trong website www.angimex.com.vn Error: Reference source not found
Hình 4.4: Giao diện website www.vinafood1.com Error: Reference source not found
Hình 4.5: Giao diện website www.vinafood2.com.vn Error: Reference source not found
Hình 4.6: Giao diện website www.imexcuulong.com.vn Error: Reference source not found
Hình 4.7: Giao diện đặt hàng trong website www.imexcuulong.com.vn.Error: Reference source not
found
Hình 4.8: Giao diện đặt hàng trong website www.tigifood.com Error: Reference source not found
Hình 4.9: Giao diện đặt hàng trong website www.angiangtourimex.com.vn.Error: Reference source
not found
Hình 5.1: Các hình thức chiêu thị truyền thông giữa trực tuyến (online) và ngoại tuyến (offline)
Error: Reference source not found
Bảng 3.1: Nội dung và cách thu thập thông tin thứ cấp Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Nội dung và cách thu thập thông tin sơ cấp Error: Reference source not found
Bảng 3.3: Nội dung và cách thu thập thông tin giá cả Error: Reference source not found
Bảng 4.1: Tỷ trọng xuất khẩu gạo qua các năm 2003, 2004, 2005 và 2006 Error: Reference source
not found
Bảng 4.2: Sản lượng xuất khẩu gạo trực tiếp tại các thị trường Error: Reference source not found
Bảng 4.3: Danh mục đầu tư trang thiết bị của ANGIMEX 2007-2009 Error: Reference source not
found
Bảng 4.4: Danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Error: Reference source not found
Bảng 5.1: Thống kê chủng loại gạo xuất khẩu chủ yếu trong tháng 02 và hai tháng đầu năm 2007
Error: Reference source not found
Bảng 5.2: Đánh giá mức độ sẵn sàng TMĐT của các thị trường xuất khẩu gạo của ANGIMEX
Error: Reference source not found
Bảng 5.3: Mục tiêu thực hiện từ tháng 10/2008 đến 2009 Error: Reference source not found
Bảng 5.4: Từ khóa thường dùng trong ngành xuất nhập khẩu Error: Reference source not found
Bảng 5.5: Hoạch định chi phí cho kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương
hiệu cho ngành hàng gạo xuất khẩu của Công ty Angimex Error: Reference source not found
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ hình thức tiêu thụ năm 2006 Error: Reference source not found
Biểu đồ 4.2: Thị phần xuất khẩu gạo các doanh nghiệp xuất khẩu gạo hàng đầu năm 2005 Error:
Reference source not found
i
TÓM TẮT
Với tốc độ phát triển nhanh chóng của Internet, các phương tiện truyền thông, thương mại điện tử đã
ngày một nhanh chóng trở thành một lĩnh vực kinh doanh đáng quan tâm đối với cả thế giới không riêng
gì Việt Nam. Đây cũng chính là một công cụ ứng dụng hiệu quả vào hoạt động kinh doanh, nhất là đối
với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Bởi thương mại điện tử sẽ giúp các doanh nghiệp mở rộng, tiếp
cận thị trường quốc tế một cách dễ dàng và ít tốn chi phí hơn so với cách tiếp cận truyền thống. Đồng
thời, thương mại điện tử cũng sẽ giúp cho các doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh, tăng doanh thu,
giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh.
Nhận thức được những lợi ích từ thương mại điện tử, cùng với sự sẵn sàng thương mại điện tử của
Công ty, địa phương và quốc gia, Công ty CP Xuất nhập khẩu An Giang đã triển khai ứng dụng thương
mại điện tử vào hoạt động kinh doanh. Hiện nay, Angimex đang ứng dụng ở ấp độ đầu tiên là thương
mại thông tin. Nhưng ứng dụng thương mại điện tử cần có một kế hoạch cụ thể xúc tiến triển khai chứ
không đơn thuần là xây dựng website là xong. Từ lý do đó, tôi thực hiện đề tài Ứng dụng thương mại
điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành hàng gạo xuất khẩu của Công ty Angimex.
Để triển khai đề tài tốt, trước nhất tôi chọn lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu gạo, đặc biệt là gạo cao
cấp để ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu.
Trước nhất, thông qua những phân tích thị trường, ta chọn thị trường mục tiêu cho kế hoạch ứng
dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành hàng gạo xuất khẩu là Singapore và
Indonesia. Đây là hai thị trường tiềm năng tiêu thụ gạo cao cấp và có mức độ sẵn sàng thương mại điện
tử cao. Phân khúc thị trường mục tiêu là những công ty nhập khẩu gạo của Singapore và Indonesia. Mục
tiêu thông tin nhìn chung của nhóm khách hàng cũ và mới là củng cố uy tín, lòng tin đối với thương
hiệu. Qua phân tích, ta xác định insight của cả hai nhóm là Uy tín là tiêu chí quan trọng khi lựa chọn
một đối tác xuất nhập khẩu. Từ insight này ta thiết kế thông điệp cho kế hoạch ứng dụng thương mại
điện tử là: ANGIMEX – Nhà xuất khẩu gạo uy tín hàng đầu Việt Nam.
Sau khi đã xác định mục tiêu và thiết kế thông điệp, ta triển khai kế hoạch ứng dụng thương mại
điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành hàng gạo xuất khẩu của Công ty Angimex. Với đặc
trưng kinh doanh xuất khẩu gạo, ta xác định hai nhóm truyền thông chính là Tiếp thị tổng hợp và Chiêu
thị truyền thông tổng hợp. Các công cụ này được triển khai trong 15 tháng với các mục tiêu cụ thể cho
từng quý. Trong các công cụ, ta lưu ý đến hai công cụ quan trọng là Cung cấp thông tin và Công cụ tìm
kiếm. Hai công cụ này giữ vai trò chủ đạo, nhằm tạo sức bật chính cho việc xúc tiến website. Đồng thời,
ta cũng thực hiện các công cụ của Tiếp cận tổng hợp với vai trò ngoại tuyến. Từ những công việc cần
thực hiện, ta hoạch định ngân sách theo những công việc đó.
Sau cùng, để đánh giá tính hiệu quả cho kế hoạch này ta có thể tự đo lường theo một số tiêu chí,
hoặc thuê dịch vụ bên ngoài. Bên cạnh đó, ta cũng có thể sử dụng một số công cụ đo lường trực tuyến
để đánh giá hiệu quả website Công ty.
ii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.Lý do chọn đề tài:
Là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu uy tín của Việt Nam, Angimex đã không ngừng đẩy
mạnh ứng dụng những công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh nhằm ngày càng phục vụ khách hàng
tốt hơn. Trong đó, hoạt động ứng dụng thương mại điện tử có thể nói là đáng chú ý, nhất là đối với một
doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Xuất khẩu gạo là lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính của Angimex, bên cạnh xuất khẩu ủy thác,
xuất khẩu trực tiếp là mảng kinh doanh Công ty chú ý nhất. Hiện nay, để có được những khách hàng
nhập khẩu gạo, chủ yếu là Công ty tiếp cận thông qua sự giới thiệu của các Hiệp hội, tham gia hội trợ,
… Nhưng cách tiếp cận khách hàng này không tạo thế chủ động cho Công ty trong việc tìm kiếm đúng
thị trường mình muốn đánh vào. Điều trăn trở này đã thúc đẩy Angimex xúc tiến các hoạt động
marketing, nhằm đưa hình ảnh thương hiệu Angimex đến với khách hàng nhiều hơn. Song, các hoạt
động xúc tiến xuất nhập khẩu thường tốn kém và gặp nhiều hạn chế về khoảng cách địa lý, văn hóa,
thông tin liên lạc,… Để giải quyết một phần khó khăn trên, Angimex đã triển khai ứng dụng thương mại
điện tử vào hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, thương mại điện tử sẽ giúp cho Công ty tăng lợi thế cạnh
tranh, có cơ hội quảng bá thương hiệu trên phạm vi toàn cầu, mở rộng thị trường, tăng doanh thu và
giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh,… Từ những lợi ích trên, Angimex đã tiến hành triển khai từng
bước ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của mình. Cụ thể là Công ty đã triển khai
xây dựng và hoàn thiện website trong hai năm qua. Nhưng để ứng dụng thương mại điện tử tốt, không
chỉ dừng lại ở việc sở hữu một website, mà ta còn phải biết cách xúc tiến website mình đến với đúng đối
tượng khách hàng, đúng thị trường mình quan tâm.
Bên cạnh đó, sự thành công của kế hoạch cũng phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng thương mại điện tử
của địa phương và quốc gia. Tại An Giang, các nghiên cứu, khảo sát, hội thảo cũng đang dần được thực
hiện nhằm đánh giá, hỗ trợ cho các doanh nghiệp An Giang có điều kiện nhìn nhận và ứng dụng thương
mại điện tử tốt hơn. Đồng thời, hiện nay An Giang cũng đã có triển khai hải quan điện tử, xúc tiến các
website của các sở ban ngành và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong tỉnh cũng đã có những sự đầu
tư nhất định cho thương mại điện tử.
Những năm trở lại đây, các chỉ tiêu đánh giá mức độ sẵn sàng thương mại điện tử của Việt Nam
không ngừng được cải thiện, chứng tỏ nước ta đang dần hoàn chỉnh môi trường cho thương mại điện tử
hoạt động thuận lợi. Chính phủ Việt Nam đang dần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ sở hạ tầng
nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp tận dụng thương mại điện tử tốt hơn. Hiệp hội Thương mại điện tử
Việt Nam cũng đã ra đời nhằm bảo vệ, đoàn kết và hỗ trợ cho các tổ chức doanh nghiệp về thương mại
điện tử.
Đối với mức độ sẵn sàng của Angimex, ban lãnh đạo Công ty đã nhận thức được những ích lợi từ
ứng dụng thương mại điện tử, cũng như đã có những sự chuẩn bị về các mặt nhân sự, kết nối và nội
dung.
Nhìn chung, mức độ sẵn sàng tại địa phương, quốc gia và của Công ty đề đã có đủ, việc quan trọng
cần làm tiếp theo là phải có một kế hoạch triển khai ứng dụng thương mại điện tử cụ thể. Từ lý do đó,
iii
tôi quyết định thực hiện đề tài “Ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cho
ngànhgạo xuất khẩu của công ty Xuất Nhập Khẩu An Giang”.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài này được thực hiện với các mục tiêu nghiên cứu sau:
- Xác định thị trường mục tiêu cho việc ứng dụng thương mại điện tử trong quảng bá thương hiệu
gạo Angimex
Tại Angimex, ứng dụng thương mại điện tử là nhằm hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh truyền thống,
vì thế mà thương mại điện tử chỉ thật sự hiệu quả khi ta xác định rõ thị trường nào ta có thể tiếp cận
thông qua phương pháp này. Đồng thời, đây cũng là một trong các thị trường mà công ty đang hướng
đến xây dựng thương hiệu và chào hàng. Vì trong thực tế, có những thị trường công ty mong muốn
hướng đến, nhưng xét về cơ sở hạ tầng, trình độ kiến thức ứng dụng thương mại điện tử thì họ chưa đạt
được, khi này phương pháp quảng bá thương hiệu bằng thương mại điện tử không còn hiệu quả.
- Xác định mục tiêu thông tin và thiết kế thông điệp cho ứng dụng thương mại điện tử trong quảng
bá thương hiệu gạo Angimex
- Lập kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành hàng gạo
xuất khẩu của công ty Angimex.
1.3.Phạm vi nghiên cứu:
Để có thể ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu Angimex có hiệu quả và cụ
thể, tôi chọn ứng dụng trước hết cho ngành hàng gạo xuất khẩu, đặc biệt là những mặt hàng gạo cao cấp,
gạo thơm và nếp.
Lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là xuất khẩu gạo. Nhưng do sự phụ thuộc vào những chính
sách xuất khẩu của Chính phủ, do vấn đề an ninh lương thực, nên Công ty có xu hướng thu hẹp số lượng
xuất khẩu, chú trọng đến thị trường gạo cao cấp, đa dạng hóa sản phẩm với gạo thơm và nếp. Đây cũng
là các mặt hàng không bị ảnh hưởng bởi chính sách tạm dừng xuất khẩu của Chính phủ, vì được nhận
định việc xuất khẩu hai mặt hàng này không ảnh hưởng đến vấn đề anh ninh lương thực. Đồng thời, ba
mặt hàng này có giá giao dịch cao hơn gạo thường, cho kim ngạch xuất khẩu cao.
1.4.Ý nghĩa thực tiễn:
Người ta đã chứng minh được rằng việc ứng dụng thương mại điện tử vào quảng bá thương hiệu có
thể mang lại các lợi ích như sau:
Đối với các doanh nghiệp:
- Quảng bá thông tin và tiếp thị cho một thị trường toàn cầu với chi phí thấp nhất.
- Tăng doanh thu
- Tạo lợi thế cạnh tranh
Đối với người tiêu dùng: được phục vụ tốt hơn thông qua các chương trình chăm sóc khách hàng
trực tuyến, ngoại tuyến
iv
Nếu công ty áp dụng thành công đề tài này, công ty có thể sẽ đạt được các lợi ích trên. Mặt khác, đề
tài này có thể tạo tiền đề cho các nghiên cứu xây dựng chiến lược, kế hoạch thương mại điện tử cho
công ty Angimex. Đồng thời, đề tài có thể tạo cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp khác tại địa
phương tiến hành quảng bá thương hiệu bằng cách ứng dụng thương mại điện tử.
1.5.Cấu trúc của đề tài nghiên cứu:
Chương 1 – Giới thiệu: Chương này giới thiệu về đề tài: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, chủ
đề, vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu: Tại chương này, ta sẽ tìm hiểu những lý thuyết
cần thiết để thực hiện đề tài và mô hình triển khai nghiên cứu.
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Phần này giới thiệu về quá trình, cách thức thực hiện đề tài
một cách chi tiết.
Chương 4 – Hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại công ty ANGIMEX và các công ty khác
trong ngành: Ta sẽ hiểu rõ tình hình ứng dụng công nghệ thông tin cũng như mức độ sẵn sàng cho
thương mại điện tử của Công ty và các công ty đối thủ.
Chương 5 - Lập kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành
hàng gạo xuất khẩu của công ty Angimex: Chương này sẽ đi vào quy trình lập kế hoạch ứng dụng một
cách chi tiết và phù hợp với thực tế
Chương 6 - Kết luận: Cuối cùng, ta sẽ kết luận những kết quả thực hiện nghiên cứu, kế hoạch thực
hiện, những hạn chế của đề tài và nhửng kiến nghị để thực hiện đề tài trong thực tế.
v
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT - MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương Cơ sở lý thuyết – Mô hình nghiên cứu sẽ cung cấp cho ta những lý thuyết liên quan đến
lĩnh vực thương mại điện tử và những mô hình nghiên cứu để lập kế hoạch ứng dụng thương mại điện
tử vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành hàng gạo xuất khẩu của Công ty Angimex. Chương này sẽ
là cơ sở để ta triển khai những công việc liên quan đến kế hoạch cần phải thực hiện.
2.1.Thương mại điện tử
2.1.1 Thương mại điện tử là gì
Hiện nay, khái niệm thương mại điện tử chưa được thống nhất, vẫn còn tồn tại nhiều cách định
nghĩa khác nhau. Nhưng nhìn chung, ta có hai quan điểm khái niệm thương mại điện tử như sau:
• Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hẹp:
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua
các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng viễn thông khác.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo,
bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao
nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng
Internet".
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC),
"Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công
nghệ tin học kỹ thuật số".
• Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng:
Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương
tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ
tín dụng.
Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm vi hoạt động của Thương
mại điện tử:
Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế
(UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để
bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng.
Các quan hệ mang tính thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch
sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối;
đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các
vi
công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận
khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên
chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".
Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu
hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi
rất nhỏ trong thương mại điện tử.
Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua
các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và
hình ảnh".
Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt động mua bán hàng hoá;
dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử,
vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp
thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng
tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ
pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới
(như siêu thị ảo)
Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thương mại" (commerce) trong "thương mại điện tử" không chỉ là
buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn
hơn nhiều, do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền
kinh tế. Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn
bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.
Bên cạnh đó, còn có một định nghĩa cho ta thấy hết những hoạt động của thương mại điện tử:
“Thương mại điện tử đơn giản là các giao dịch được thực hiện thông qua các mạng công cộng và cá
nhân, bao gồm một loạt các hoạt động như bán lẻ điện tử (e-Tailing), thị trường điện tử (e-
Marketplace), dẫn dắt điện tử (e-Procurement), chính phủ điện tử (e-Government) và các dịch vụ ngân
hàng điện tử (e-Banking), ERM (Enterprise Resource Management), CRM (Customer Relationship
Management), MRP (Materials Requirements Planning) và VCM (Voice Connection Management)”
1
Với đề tài này, ta có thế hiểu thương mại điện tử theo định nghĩa trên, vì nó bao quát tất cả những
ứng dụng của thương mại điện tử.
2.1.2 Các mô hình ứng dụng thương mại điện tử
Dựa vào các chủ thể tham gia giao dịch thương mại điện tử, người ta phân thành các mô hình ứng
dụng thương mại điện tử gồm:
• Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B
B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Theo
Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), thương mại điện tử B2B chiếm tỷ
trọng lớn trong thương mại điện tử (khoảng 90%). Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các
hệ thống ứng dụng thương mại điện tử như mạng giá trị gia tăng (VAN); dây chuyền cung ứng hàng
hóa, dịch vụ (SCM); các sàn giao dịch thương mại điện tử… Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm
1
Th.S Lương Mai Em. Tài liệu giảng dạy Nhập môn Thương mại điện tử. 2006
vii
kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở một mức độ cao, các giao
dịch này có thể diễn ra một cách tự động, thương mại điện tử B2B đem lại nhiều lợi ích thực tế cho
doanh nghiệp, đặc biệt giúp giảm các chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp
thị, đàm phán; tăng các cơ hội kinh doanh…
• Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng – B2C
B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử.
Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu
dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng. Giao dịch
B2C tuy chiếm tỷ trọng ít (khoảng 10%) trong thương mại điện tử, nhưng có phạm vi ảnh hưởng rộng.
Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập website, hình thành cơ sở
dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người
tiêu dùng. Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Doanh
nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán
hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa
hàng, có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc.
• Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước – B2G
B2G là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong đó cơ quan nhà nước
đóng vai trò khách hàng. Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến
hàng qua các phương tiện điện tử. Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập các website, tại đó đăng tải
thông tin về nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hóa, dịch vụ và
lựa chọn nhà cung cấp trên website. Điều này, một mặt giúp tiết kiệm các chi phí tìm nhà cung cấp, mặt
khác giúp tăng cường tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công.
• Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau – C2C
C2C là loại hình giao dịch giữa các cá nhân với nhau. Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm
cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người bán, người cung cấp dịch
vụ. Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng
một website có sẵn để đấu giá một số món hàng mình có. C2C góp phần tạo nên sự đa dạng của thị
trường.
• Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân – G2C
G2C là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân. Đây chủ yếu là các giao dịch mang
tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của thương mại điện tử. Ví dụ, khi người dân đóng
tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ sơ trực tuyến, v.v…
2.1.3 Các cấp độ phát triển của thương mại điện tử
Thương mại điện tử được chia thành nhiều cấp độ phát triển. Nhưng nhìn chung ta có hai cách phân
chia sau:
Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triển thương mại điện tử
• Cấp độ 1 – hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng. Ở mức độ này, website
rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm mà không có các chức năng
phức tạp khác.
viii
• Cấp độ 2 – có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc phức tạp hơn, có
nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người xem có thể liên lạc với doanh
nghiệp một cách thuận tiện.
• Cấp độ 3 – chuẩn bị thương mại điện tử: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch vụ
qua mạng. Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên
mạng. Các giao dịch còn chậm và không an toàn.
• Cấp độ 4 – áp dụng thương mại điện tử: website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu
trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, các hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can
thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả.
• Cấp độ 5 – thương mại điện tử không dây: doanh nghiệp áp dụng thương mại điện tử trên các
thiết bị không dây như điện thoại di động, pocket PC (máy tính bỏ túi) v.v… sử dụng giao thức truyền
thông không dây WAP (Wireless Application Protocal).
• Cấp độ 6 – cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người ta có thể truy cập
vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim,
v.v…) và thực hiện các loại giao dịch.
Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển thương mại điện tử
• Cấp độ 1 – thương mại thông tin (i-commerce với i: information): doanh nghiệp có website
trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ… Các hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo
cách truyền thống.
• Cấp độ 2 – thương mại giao dịch (t-commerce với t: transaction): doanh nghiệp cho phép
thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng , có thể bao gồm cả thanh toán trực
tuyến.
• Cấp độ 3 – thương mại tích hợp (c-business với c: colaborating, connection: tích hợp, kết
nối): website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, mọi
hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng
kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả.
Trong đề tài này, chúng ta sẽ sử dụng cách phân chia thứ hai để đánh giá mức mức độ phát triển
thương mại điện tử của công ty Angimex. Vì với cách chia thứ hai, ta có thể đánh giá vị trí ứng dụng
thương mại điện tử của Công ty đơn giản, nhanh hơn so với cách phân chia đầu tiên.
2.1.4 Một số định nghĩa liên quan trong thương mại điện tử
Để có thể hiểu rõ hơn về thương mại điện tử, ta cần nắm một số định nghĩa chuyên ngành. Những
định nghĩa sau được diễn giải theo khía cạnh kinh tế nhiều hơn khía cạnh công nghệ thông tin nhằm
giúp ta dễ hình dung được những lợi ích của thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh.
2.1.4.1 Website
Website là một “Show-room” trên mạng Internet – nơi trưng bày và giới thiệu thông tin, hình ảnh về
doanh nghiệp và sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp (hay giới thiệu bất kỳ thông tin nào khác) cho
mọi người trên toàn thế giới truy cập bất kỳ lúc nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần).
Website là một tập hợp một hay nhiều trang web, giống như một quyển sách là tập hợp nhiều trang
sách. Có thể có những website chỉ có một trang web, nhưng ít gặp trường hợp này. Nếu nói “Doanh
ix
nghiệp tôi muốn xây dựng trang web” là không chính xác về mặt từ ngữ, mà phải nói là “Doanh nghiệp
tôi muốn xây dựng một website”.
Đặc điểm tiện lợi của website: thông tin dễ dàng cập nhật, thay đổi, khách hàng có thể xem thông tin
ngay tức khắc, ở bất kỳ nơi nào, tiết kiệm chi phí in ấn, gửi bưu điện, fax, thông tin không giới hạn
(đăng tải thông tin không hạn chế, không giới hạn số trang, diện tích bản in …) và không giới hạn phạm
vi địa lý.
Để một website hoạt động được, ta cần phải có tên miền (domain), lưu trữ (hosting) và nội dung (các
trang web hay cơ sở dữ liệu thông tin).
- Domain: hay còn gọi là tên miền của website. Có nhiều loại tên miền: tên miền quốc gia (có đuôi
tận cùng là .vn, .uk, .th …); và tên miền quốc tế (có đuôi tận cùng là .com, .net, .org …). Tên miền quốc
tế có thể được mua trên mạng Internet. Tên miền quốc gia của Việt Nam ta có thể tham khảo chi tiết tại
http://www.vnnic.vn
- Host (hay còn gọi là hosting, web hosting): là nơi không gian trên máy chủ (server) có cài dịch
vụ Internet như http, ftp,…, nơi đó bạn có thể chứa nội dung trang web hay dữ liệu trên không gian đó.
Lý do bạn phải thuê Web Hosting để chứa nội dung trang web, dịch vụ mail, ftp, vì những máy tính đó
luôn có một địa chỉ cố định khi kết nối vào Internet (đó là địa chỉ IP) , còn như nếu bạn truy cập vào
internet như thông thường hiện nay thông qua các ISP (Internet Service Provider - Nhà cung cấp dịch vụ
Internet) thì địa chỉ IP trên máy bạn luôn bị thay đổi, do đó dữ liệu trên máy của bạn không thể truy cập
được từ những máy khác trên Internet.
Tùy theo nhà cung cấp dịch vụ Web hosting mà chất lượng cũng khác nhau như:
- Tốc độ truy cập Internet tại server Web hosting đó.
- Dung lượng đĩa cho phép bạn có thể chứa được nhiều trang web hoặc dữ liệu của bạn hay
không.
- Các tiện ích như các hệ quản trị cơ sở dữ liệu có hỗ trợ để giúp bạn viết một chương trình Web
trên đó không.
Có hai loại hosting. Đó là Unix hosting và Window hosting
- Unix Hosting:
Unix là hệ thống server cũ mà hầu hết các nhà cung cấp host Việt Nam đang sử dụng. Khi host trên
server này, người soạn web phải có kiến thức viết web bằng HTML rất vất vả, soạn từng trang hoặc
soạn script CGI rất cực nhọc và phải upload bằng FTP. Nếu có sửa lại thư mục hoặc mất một trang thì
phải kiểm tra lại toàn bộ các đường dẫn đến trang đó. Các tiện ích như counter đếm số người truy cập,
form nhập liệu cũng phải viết bằng ngôn ngữ CGI đều phải viết riêng, rất mất thì giờ như thể người ta
phải chế tạo lại cái bánh xe vậy.
- Window Hosting:
Server WINDOW hiện nay đang là thời thượng vì Microsoft cố gắng hỗ trợ hoàn toàn và dễ dàng
cho người dùng mà ngay cả người không chuyên nghiệp vẫn có thể tạo ra trang web nhìn rất ư chuyên
nghiệp. Một trong những tính năng của server window là có hỗ trợ Frontpage extension.
2.1.4.2 Các nguyên tắc thiết kế, trình bày website
• Nguyên tắc 7C: Đây là 7 nguyên tắc dùng để phân tích tính hiệu quả của một website.
x

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét