Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
Phễu Acid nitric đặc (d=1.4)
Bếp điện, lò nung điều chỉnh được nhiệt độ ( 600- 700
0
C)
- Tiến hành
Dùng pipet lấy chính xác 100 ml thực phẩm ( nếu là sản phẩm lỏng) hoặc lấy cân
100 g thực phẩm ( nếu là sản phẩm khô) cho vào capxun. Thêm vào capxun 0,5g MgO
2
và
0,5g Ca(CH
3
COO)
2
để tăng tốc độ vô cơ hoá và chống việc tạo thành các hợp chất bay
hơi chủa kim loại nặng khi đốt ( vô cơ hoá). Các chất này nhất thiết không được chứa
thiếc, đồng và chì. Đặt capxun trên bếp cách cát, đốt cho thực phẩm cháy hoàn toàn thành
than. Đặt capxun vào lò nung, nung ở nhiệt độ 600- 700
0
C, đến khi sản phẩm biến hoàn
toàn thành tro xám, khoảng 3 giờ. Lấy capxun ra khỏi lò nung, để nguội, cho vào capxun
20 ml acid nitric đặc ( tuyệt đối không chứa đồng và chì) và 50 ml nước cất hai lần, nước
tráng cũng chuyển vào bình định mức. Thêm nước cất đến vạch mức, lắc kỹ.
• Phương pháp ướt
- Dụng cụ, hoá chất
Capxun dung tích 250 ml Bếp cách cát
Pipet 100 ml Giấy lọc
Bình định mức dung tích 250 ml Phễu
Cân kỹ thuật
Bếp điện, lò nung điều chỉnh được nhiệt độ ( 600- 700
0
C)
- Hoá chất: Acid nitric đặc ( d = 1,4)
Acid sunfuric đặc (d = 1,84)
Amon axetat NH
4
(CH
3
COO)
2
- Tiến hành
Lấy lượng mẫu như trên cho vào capxun. Thêm vào capxun 3 ml acid nitric đặc và
50 ml acid sunfuric đặc. Đặt capxun lên bếp điện, đun sôi dung dịch trong capxun. Tiếp
tục đun và cứ mỗi phút lại nhỏ thêm 5- 20 giọt acid nitric đặc. Khí NO
2
màu nâu sẽ thoát
ra (làm trong tủ hút hơi).
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 5 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
Nếu thấy dung dịch trong capxun thẫm màu lại thì tăng tốc nhỏ acid nitric đặc. Khi
dung dịch trở nên nhạt màu thì giảm tốc độ nhỏ acid nitric đặc, đến khi dung dịch không
màu thì thôi. Tiếp tục đun cho khói trắng bốc đi hết, rồi lại tiếp tục đun sôi 10 phút nữa.
Nếu sau đó dung dịch vẫn không màu thì việc vô cơ hoá đã hoàn toàn xong. Nếu dung
dịch đen trở lại thì nhỏ acid nitric. Lấy capxun ra khỏi bếp điện. Cho vào capxun 0,20g
amonaxetat, khuấy cho tan hết. Chuyển toàn bộ dung dịch từ capxun vào bình định mức
dung tích 250 ml. Thêm nước cất hai lần đến vạch mức, lắc kỹ. Nếu dung dịch capxun bị
đục thì phải lọc trước khi chuyển vào bình định mức.
• Ghi chú: Phương pháp đốt khô nói trên để xác định đồng và chì cũng được thừa
nhận để xác định thiếc. MgO
2
để tách ra oxy hoạt động giúp oxy hoá nhanh các chất hữu
cơ. Ca(CH
3
COO)
2
đóng vai trò phá vỡ MgO
2
làm tăng oxy hoạt động phóng vào chất hữu
cơ, do đó làm tăng tốc độ đốt. Cũng có thể dùng Mg(CH
3
COO)
2
và NaCl: Mg(CH
3
COO)
2
và Ca(CH3COO)2; NH
4
Cl và NaCl, (NH
4
)
2
CO
3
…
Song hỗn hợp MgO
2
và Ca(CH
3
COO)
2
tỷ lệ 1/1 làm cho tốc độ đốt chất hữu cơ
nhanh nhất.
Nếu đốt khô không dùng hỗn hợp MgO
2
và canxi axetat, thì các muối thiếc dễ bay
hơi và một phần Sn nằm dưới dạng không tan là acid β
-
metastanic. Sự mất thiếc trong
đốt khô như vậy có thể từ 2,7 đến 77%.
2.2. Phương pháp định lượng bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử.
2.2.1. Nguyên tắc chung:
Các mẫu thực phẩm sau khi được vô cơ hoá hoàn toàn, được phun vào hệ thống
quang phổ hấp thụ nguyên tử, rồi người ta đo độ hấp thụ bức xạ từ nguồn phát bởi hơi
nguyên tử trong mẫu (được chuyển thành hơi nguyên tử tự do).
Nguyên lý của phương pháp này như sau: Nguồn sáng đơn sắc được phát từ đèn
Cathod rỗng ( HCl) hoặc đèn phóng điện phi cực (EDL) hay đèn phổ liên tục có biến điện
qua vùng nguyên tử hoá đến bộ cảm biến ( detector) để đo cường độ bức xạ hay hấp thụ.
Mỗi kim loại có bước sóng hấp thụ đặc trưng riêng.
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 6 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
Đèn cathod rỗng (HCL) hay đèn phi cực (EDL) được cấu tạo do chính nguyên tố đó
được làm nguồn phát bức xạ đặc trưng. Điều này làm cho phương pháp ổn định và ít bị
nhiễu.
Cường độ bức xạ bị hấp thụ tỷ lệ thuận với nồng độ nguyên tố có trong mẫu ( trong
một giới hạn nồng độ). Đây chính là cơ sỏ để phân tích định lượng.
2.2.2. Ứng dụng.
Phương pháp này được dùng để xác định hàm lượng kim loại có trong mẫu thuỷ sản,
mẫu nước và nước thải.
2.3 .Phương pháp cực phổ.
2.3.1. Khái niệm về phương pháp cực phổ.
Phương pháp cực phổ có thể định tính và định lượng nhiều chất bằng cách điện phân
dung dịch phân tích trên điện cực giọt thuỷ ngân, rồi sau đó vẽ đường biểu diễn Dòng-
Thế ghi sự biến đổi cường độ dòng theo sự biến đổi cường độ thế điện cực của sự thuỷ
phân.
Về nguyên tắc phương pháp cực phổ bao gồm các giai đoạn:
- Đặt các thế khác nhau vào điện cực để khử các ion khác nhau vì mỗi ion có một
thế khử tương ứng xác định, do đó qua thế khử của ion có thể định tính được ion đó.
- Nếu tăng dần thế của điện cực nhúng vào dung dịch chất cần xác định thì cường
độ dòng sẽ tăng lên đồng thời cho tới khi đạt được thế khử của ion trong dung dịch.
Trong điều kiện nhất định, cường độ dòng tăng tỷ lệ thuận với nồng độ ion khử.
Do sự phụ thuộc giữa cường độ dòng và nồng độ mà định lượng được ion đó.
• Tiến hành phân tích:
Dung dịch phân tích được nạp vào bình định phân có điện cực thuỷ ngân. Anot là lớp
thuỷ ngân ở đáy bình. Catôt là giọt thuỷ ngân rơi liên tục từ giọt mô quản.
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 7 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
Đặt vào điện cực thế tăng dần sẽ tạo được dòng có điện cực tăng dần, cường độ này
được điều chỉnh bằng một điện kế. Sau đó sẽ thu được một đường phụ thuộc Dòng - Thế
(đường cong vôn – ampe)
Dòng khuyếch tán là dòng được tạo do sự khử ion trên điện cực giọt thuỷ ngân.
Dòng khuyếch tán được tính theo công thức Incovit:
id = 605.Z.D
1/2
.m
2/3
. t
1/6
Trong đó : id : cường độ dòng khuyếch tán
Z : hoá trị ion bị khử
D : hệ số khuyếch tán hoặc số phân tử gam ion khử khuyếch tán qua bề
mặt 1 cm
2
trong 1 đơn vị thời gian để cho gadian nồng độ bằng đơn vị.
C : nồng độ ion khử miliion g/ lit.
M : khối lượng thuỷ phân rời khỏi mao quản trong đơn vị thời gian, tính
ra mg/giây.
T : thời gian giọt thuỷ phân rơi khỏi mao quản, s.
Trong thực tế khó xác định được hệ số khuyếch tán D, nên người ta đo song song
dung dịch chất tiêu chuẩn và chất phân tích, rồi thiết lập đường cong vôn – ampe của cả
hai dung dịch và tính nồng độ (X) chất cần phân tích theo công thức:
x =
tc
x
h
ha.
Trong đó : a : khối lượng chất trong dung dịc tiêu chuẩn.
hx và h
tc
: chiều cao sóng của dung dịc phân tích và dung dịch tiêu chuẩn.
Phương pháp cực phổ không chỉ xác định các cation, nó còn có thể xác định được
các anion và phân tử có khả năng khử trên điện cực giọt thuỷ ngân.
• Ưu điểm của phương pháp:
Độ nhạy cao có thể xác định các chất có nồng độ 10
-5
- 10
-6
gam/lit.
Có thể đồng thời xác định nhiều chất không cần tách biệt chúng.
Nhanh: chỉ tốn vài phút để xác định nồng độ chất trong dung dịch.
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 8 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
• Chuẩn bị dung dịch xác định:
Cân 10 – 50 g sản phẩm vào bát sứ rồi đem sấy khô hoặc cô trên nồi cách thuỷ đến
cạn khô. Sau đó thêm vào bát 10 – 12 giọt acid sunfuric đặc (d = 1,84) rồi đưa vào lò
nung đốt ở 500
0
C đến thành tro. Lấy bát ra để nguội thêm vào 2 – 3ml acid clohydric đặc
(d = 1,19) và cô đến khô trên nồi cách thuỷ.
Cặn trong bát được hoà tan bằng acid hydric loãng (1/1) đun nhẹ trên nồi cách thuỷ.
Chuyển tất cả vào bình định mức dung tích 50 ml (dung dịch chỉ chiếm nữa thể tích của
bình). Trung hoà acid bằng amoniac. Thêm nước cất đến vạch mức lắc kỹ rồi lọc. Giữ lấy
kết tủa hydroxyt chì và thiếc trên giấy lọc. Nước lọc I dùng để xác định đồng.
Kết tủa trên giấy lọc được hoà tan bằng acid HCl (1/1) nóng, thêm vào 2 – 3 g acid
tactric, 1 lượng natri sunfit và đun trên nồi cách thuỷ cho bốc hết SO
2
đi. Sau khi làm lạnh
dung dịch được chuyển vào bình định mức dung tích 50 ml, trung hoà acid dư bằng
amoniac đặc đến dư, thêm nước cất đến vạch mức lắc kỹ rồi lọc. Nước lọc II dùng để xác
định chì. Kết tủa hydroxyt thiếc được hoà tan trong HCl(1/1) trong bình định mức 50 ml,
thêm 0,1g canxi hypophotphit CaH
2
PO
2
và thêm acid Clohydric (1/1) đến vạch. Lọc dung
dịch này, nước lọc III dùng để xác định thiếc.
2.3.2.Ứng dụng.
Trong phân tích thực phẩm phương pháp cực phổ dùng để xác định các ion kim loại
nặng, muối ăn, đường fructoza, saccaroza, các vitamin C, B1, xác định đặc tính nấm men
và vài độc tố chất hữu cơ.
2.4. Phương pháp Iod.
2.4.1. Cơ sở của phương pháp.
Phương pháp này dựa vào tính oxy hoá khử của iod trong dung dịch:
I
2
+ 2e = 2I
–
Với điện thế tiêu chuẩn E
0
I
2
PI
-
= 0,54(V) không lớn cũng không bé. Từ đó ta thấy:
I
2
là chất oxy hoá đối với một số chất khử có E
0
< 0,54 (V)
I
–
là chất khử đối với một số chất oxy hoá có E
0
> 0,54 (V)
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 9 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
Do đó có thể dùng I
2
để xác định một số chất khử có E
0
< 0,54 (V) và dùng I
-
để xác
định một số chất oxy hoá có E
0
> 0,54 (V).
Chỉ thị của phương pháp này là hồ tinh bột ( chỉ thị đặc biệt) : I
2
hấp thụ hồ tinh bột
tạo thành hợp chất màu xanh.
2.4.2 Ứng dụng.
- Xác định nồng độ chất khử như : Thio sunfat natri, SO
3
2 -
, Sn
2+
, H
2
S, AsO
3
3 -
, Cu
+
…
- Xác định các chất oxy hoá : MnO
4
-
,Cr
2
O
7
-
,Cl
2
, Br
2
, Fe
3+
…
Ngoài ra còn dùng để xác định nồng độ của các acid.
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 10 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
CHƯƠNG III: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Các thiết bị phân tích
- Mẫu lương thực - thực phẩm
3.2.Phương pháp nghiên cứu.
Tham khảo tài liệu
CHƯƠNG IV: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1. Xác định chì.
4.1.1. Phương pháp chiết chuẩn độ.
Trong môi trường trung tính hoặc kiềm, ion chì (Pb
2+
) tạo với ditizon thành chì
ditizonat màu đổ tím tan trong dung môi hữu cơ:
Pb
2+
+ 2HDz = Pb(HDz)
2
+ 2H
+
Vì Pb(HDz)
2
tan rất ít trong dung môi hữu cơ, do đó khi dùng môi trường trung tính
thì tốt nhất nên dùng nông độ của ditizon trong cacbon tetra clorua là 50 µm (mà phân tử
gam: 12,81 mg/lit). Trong cloroform, Pb(HDz)
2
tan gấp 17 lần trong cacbon tetra clorua.
Do đó để xác định chì người ta hay dùng cloroform để trung hoà ditizon.
Ion chì cũng tác dụng với ditizon trong môi trường acid yếu, ở pH > 7 thì thu Pb
2+
vào dạng Pb(HDz)
2
hoàn toàn.
Dung dịch Pb(HDz)
2
trong cloroform bị thuỷ phân ở pH > 9,5.
Trong dung dịch sau khi vô cơ hoá thực phẩm có thể cũng có mặt các ion sau : Sn
2+
,
Cu
2+
, Zn
2+
, Fe
2+
… Các ion này có thể bị liên kết(bị che dấu) bằng kali xyannua (KCN)
nhưng Sn
2+
không bị che dấu bởi KCN nên phải tách Sn
2+
ra khỏi dung dịch trước khi xác
định chì, cách tách như sau.
Lấy 25 ml dung dịch từ bình định mức cho vào cốc dung tich 250 ml, cho vào cốc 10
ml Brôm (Br
2
) và đun trên bếp điện để đuỗi hết hơi SnBr
4
. Tiếp tục đun, thêm nước cất
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 11 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
vào, rồi lại tiếp tục đun cho tới khi dung dịch không còn màu đỏ của Brôm. Lúc đó,
dung dịch chỉ còn chứa ion Pb
2+
, Cu
2+
, Zn
2+
, Fe
2+
…
• Dụng cụ hoá chất:
Cân phân tích
Cốc dung tích 250 ml
Bình định mức 1000 ml
Phễu chiết dung tích 100 ml
Buret 10 ml.
Giấy thử pH
Dung dịch chì tiêu chuẩn 25µm: hoà tan 8.28mg Pb(NO
3
)
2
tinh khiết loại I trong
nước cất hai lần đến thành 1000ml (trong bình định mức 1000ml) 1ml dung dịch này
chứa 5,175g chì.
Dung dịch ditizon tiêu chuẩn:
Ditizon trong cloroform dung dịch 50µm: can chính xác ( trên cân phân tích) 12,81
mg ditizon tinh khiết loại I cho vào một cốc. cho 200ml cloroform (CHCl
3
) vào cốc,
khuấy nhẹ cho tan hết ditizon. Chuyển dung dịch vào bình định mức 1000ml. Thêm
cloroform đến vạch mức lắc kỹ.
Dung dịch Amoniac 2N: Lấy 150ml amoniac dung dịch 25% cho vào bình định mức
dung tích 1000ml, lấy thêm nước cất đến vạch mức, lắc kỹ. Thêm Kalicianua tinh thể.
Hidroxilamin hidroclorua (NH
2
OH.HCl) tinh thể. Acid Nitric dung dịch 2N: hoà tan
128ml HNO
3
đặc (d =1,4) với nước cất thành 1000ml.
Tiến hành:
1. Dung dịch đã loại Sn
2+
ở trên được chuyển vào phễu chiết. Cho vào phễu và tinh
thể NH
2
OH.HCl, lắc cho tan hết. Cho vào phễu một lượng (bằng hạt ngô) tinh thể KCNi
lắc cho tan hết. Điều chỉnh PH dung dịch đến PH
≥
7.5 (theo giấy đo pH) bằng NH
4
OH
2M hoặc HNO
3
2M.
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 12 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
2. Nạp ditizon dung dịch 500um vào buret 10ml. Nhỏ 1ml dung dịch ditizon vào
phễu chiết chứa dung dịch mẫu trên, lắc 30 giây. Nếu Pb
2+
thì trong phần dung môi
Cloroform xuất hiện màu đỏ tím của chì ditrat. Chiết bỏ phần màu đỏ tím đó đi (phải
chiết bỏ thật cẩn thận để phần dung dịch mẫu không chảy ra). Lại cho thêm 1ml dung
dịch ditizon vào phễu chiết lắc 30 giây và lại tách bỏ phần màu đỏ tím. Cức tiếp tục như
trên cho đến khi nào màu cuả phần dung môi trong phễu chiết kém đỏ,tức là lượng Pb
2+
trong dung dịch đã giảm đi nhiều thì giảm lượng dung dịch ditizon nhỏ vào phiểu chiết
khấu xuống đến 0,2ml, lắc lắc và tách như trên đến khi nhỏ ditizon vào phễu chiết alitizon
vẫn giữ màu xanh sau khi lắc 30s thì thôi. Ghi tổng số mol dung dịch ditizon để dùng để
chiết chuẩn đ ion chì.
Cần phải xác định độ chuẩn chính thức của dung dịch ditizon trong cloroform 50µm
như sau:
Lấy chính xác 10ml dung dịch chì tiêu chuẩn vào phễu chiết sạch. Nạp dung dịch
ditizon 50µm vào buret. Tiến hành chuẩn độ như trên, chẳng hạn hết 15ml dung dịch
ditizon. Căn cứ vào độ chuẩn của dung dịch ditizon này, tính kết quả xác định chì.
• Tính kết quả:
Trước hết tính 1ml dung dịch ditizon với bao nhiêu g chì.
Ta biết 1ml dung dịch Pb(NO
3
)
2
25µm chứa 5,175γ chì. Vậy 1ml du di ứng với số γ
chì:
15
10.175,5
γ
= 33,45 γ chì
Hàm lượng chì, tính bằng γ có trong 1lít (hoặc 1kg) thực phẩm là:
x =
01
*
1000***45,3
vv
va
(γ/l)
Trong đó: 3,45 số γ chì ứng với 1ml dung dịch ditizon
a : thể tích dung dịch ditizon đã dùng để chuẩn độ (ml)
v : dung dịch tích bình định mức ml
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 13 -
Đồ án chuyên môn GVHD: Thái Thị Ánh Ngọc
v
1
: thể tích dung dịch hút ở bình định mức để phân tích ml
v
0
: thể tích thực phẩm lỏng để vô cơ hoá ml ( nếu cân thực phẩm vô cơ thì : v
0
là số γ luợng cân thực phẩm để lấy vô cơ hoá) kết quả đựơc tính ra γ/l.
nếu hàm lượng chì lên hơn 1000γ/l thì kết quả được tính ra 1γ = 10
-3
mg.
• Ví dụ tính toán:
Ví dụ lấy 100ml thực phẩm đem vô cơ hoá, sau đó đem định mức trong bình dung
tích 250ml. chiết hết 25ml để loại Sn
2+
rồi dung dịch (sau khi loại Sn
2+
) được cho vào
phễu chiết và chuẩn độ chì, hết 100ml ditizon:
Hàm lượng chì tính ra mg/l là :
x =
1000*100*25
1000*250*10*45,3
= 3,45mg/l
Chú ý :
1. Nếu trong dung dịch (sau khi đã vô cơ hoá thực phẩm) để xác định chì có chứa
các cation và anion sau đây thì ảnh hưởng của chúng đến việc xác định chì nhu sau:
Ag
+
, Hg
2+
, Cd
2+
, Cu
2+
, Zn
2+
, Ni
2+
không cản trở đến việc xác định chì vì chúng đều bị
che dấu bởi KCN.
PO
4
3-
nồng độ cao có thể thu Pb
2+
ở dạng Pb
3
(PO
3
)
2
SiO
4
2-
có thể tạo Pb
2+
với thành PbSiO
4
, nhưng PbSiO
4
có
thể hoà tan vào dung dịch
bằng NH
4
CH
3
COO.
SiO
2
. n H
2
O ở dạng keo gây khó khăn cho việc chuẩn độ Pb
2+
bằng ditizon. cần lắc
mạnh phiểu chiết khi chuẩn độ. Tốt hơn là nên đuổi SiO
2
đi bằng cách cho HF vào để
SiO
2
bốc hơi dưới dạng acid flosilisic ….
Tuy nhiên, trong đa số thực phẩm, lượng các ion nói trên thường rất nhỏ.
2. Phương pháp xác định kim loại nặng bằng ditizon là phương pháp lượng nhỏ, nên
các hoá chất dùng phải là các hoá chất tinh khiết loại I, các dụng cụ dùng phải được rữa
SVTH: Võ Văn Thanh Lớp: 05C1 Trang: - 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét