Hãy cứu lấy nguồn nước
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NƯỚC TẠI VIỆT NAM
2.1. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước hiện nay
• Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều hơn tài nguyên nước.
Nguồn nước đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người. Ô nhiễm
nước mặt, nước ngầm, nước biển bởi các tác nhân như NO
3
, P, thuốc trừ sâu
và hoá chất, kim loại nặng, các chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh v.v.
• Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp
lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi
trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô
nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm
cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có
công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp
là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và
bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy
sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và
2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho
phép.
(Nguồn: http://www.haisontq.com/tin-tuc-su-kien/tin-tuc/190-tinh-trang-o-
nhiem-moi-truong-nuoc-tai-viet-nam.html)
2.2. Mức độ ô nhiễm nguồn nước tại một số cụm công nghiệp
• Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn.
• Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị
nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính
500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt.
(Nguồn: http://www.haisontq.com/tin-tuc-su-kien/tin-tuc/190-tinh-trang-o-
nhiem-moi-truong-nuoc-tai-viet-nam.html)
Hãy cứu lấy nguồn nước
• Theo những số liệu mới nhất, hệ thống kênh rạch của thành phố Hồ Chí
Minh mỗi ngày bị đầu độc bởi sơ sơ có 4.000 tấn rác thải các loại và
70.000m3 nước thải công nghiệp (vài năm trước số liệu này là 200.000m3)
chưa qua xử lý. Với một thực trạng như vậy thử hỏi làm sao những dòng
kênh xanh không biến thành những dòng kênh bị "ung thư".
(Nguồn: http://www.haisontq.com/tin-tuc-su-kien/tin-tuc/190-tinh-trang-o-
nhiem-moi-truong-nuoc-tai-viet-nam.html)
Hãy cứu lấy nguồn nước
Hãy cứu lấy nguồn nước
• Trong khu vực nội thành, những dòng kênh như Nhiêu Lộc-Thị Nghè, kênh
Đôi-kênh Tẻ, kênh Tàu Hủ, Tân Hóa-Lò Gốm bị ô nhiễm từ vài chục năm
nay là chuyện đã đành thì đến hiện nay ngay khu vực ngoại thành từ Bình
Chánh, Hóc Môn đến Củ Chi những dòng kênh vốn phục vụ cho việc tưới
tiêu trước đây nay cũng biến thành những dòng kênh mà người dân đã gọi là
kênh sủi bọt, kênh ngứa, kênh nín thở
CHƯƠNG III :
KHAN HIẾM NGUỒN NƯỚC CÓ NHIỀU NGUYÊN
NHÂN
Khan hiếm nước sạch đang là một thách thức lớn với các quốc gia
3.1. Do biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) có thể làm thay đổi chất lượng nước do thay đổi nhiệt độ, lượng
và phân phối dòng chảy, thay đổi khả năng chuyển hoá các chất ô nhiễm của lưu vực sông,
gia tăng xâm nhập mặn, mực nước biển và tài nguyên nước (TNN) dưới đất.
Theo TS Hoàng Minh Tuyển, phó giám đốc Dự án “Tác động của biến đổi khí hậu lên tài
nguyên nước.” , Việt Nam có tổng lượng dòng chảy năm vào khoảng 847 km3, lượng nước
chảy từ ngoài lãnh thổ vào là 507 (chiếm đến 60%), phân bố chủ yếu trên hai hệ thống sông
lớn là sông Hồng và sông Cửu Long. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này hiện phân bố không
đồng đều, đặc biệt, trong điều kiện BĐKH lượng mưa ngày càng giảm đi rõ rệt trong mùa
khô, hạn hán, lũ lụt, kèm theo sự bùng nổ dân số khiến nguy cơ thiếu nước ngày càng trở
lên gay gắt.
3.2. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp
• Nông nghiệp tiêu thụ 75% tổng lượng nước ngọt .
• Ngành nông nghiệp là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng khan
hiếm nước. Các loại phân bón và thuốc phòng trừ sâu bệnh là nguyên nhân gây ô
nhiễm nguồn nước. Trong 10 tấn mễ cốc thu hoạch, có 4 tấn được trồng trên các
cánh đồng cần nước tưới. Tỷ lệ này đang ngày càng tăng vì ở nhiều quốc gia, việc
Hãy cứu lấy nguồn nước
tự túc lương thực đang được coi là ưu tiên cao nhất. Nhiều loại cây trồng được
trồng trong môi trường không phù hợp với tính chất lý sinh của chúng. Do đó, con
người phải trồng theo những phương pháp đặc biệt và cần tưới nước. Điều này làm
cho nguồn nước tưới bổ sung tăng thêm 1.000m
3
/năm/người.
• Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý
thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ
thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm
vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm.
• Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã
làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự
khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt.
Hãy cứu lấy nguồn nước
• Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các
loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu
nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng.
• Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây
thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt.
3.3.Thất thoát nước do bốc hơi và lãng phí
• Ở các nước đang phát triển, hệ thống hạ tầng cũ kỹ, lạc hậu và hệ thống quản lý
thiếu hiệu quả dẫn đến tỷ lệ rò rỉ và thất thoát nước khá lớn. Tỷ lệ tới 50% không
Hãy cứu lấy nguồn nước
phải là hiếm ở các hệ thống cấp nước đô thị. Ước tính mỗi năm có khoảng 250 đến
500 triệu m³ nước sạch bị thất thoát ở các siêu đô thị trên thế giới mà nếu tiết kiệm
được thì có thể đủ cung cấp nước sạch cho thêm 10 đến 20 triệu người.
• Do các công trình thuỷ nông nhân tạo vận hành thiếu hiệu quả. Chỉ 40% lượng
nước thực sự tới được cây trồng. Số còn lại bốc hơi hoặc chảy trần trên mặt đất.
Nông dân Israel đã sử dụng các trang thiết bị nông nghiệp công nghệ cao có thể
giảm tổn thất nước tới 50%, song công nghệ này lại quá tốn kém với các nông dân
nơi khác. Theo điều tra của Liên hiệp quốc, hệ thống cống rãnh và đường ống dẫn
nước trên khắp thế giới thường xuyên bị hư hại. Đường ống rò rỉ thấm vào đất ½
lượng nước ngọt. Sau khi sử dụng, ½ lượng nước còn lại này hầu như không được
xử lý, chảy thẳng vào sông hồ hoặc ngấm vào đất. Chỉ 5% lượng nước thải được
đưa vào các nhà máy xử lý, dùng lại làm nước uống. Vì vậy các nguồn nước mặt và
nước ngầm bị ô nhiễm, do đó các hồ chức nước thiên nhiên bị phá huỷ.
3.4. Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người
• Các dòng nước mặt (sông, kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô
nhiễm trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào
kênh rạch chưa qua xử lý. Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ sông kênh rạch để
sinh sống, xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt,
cản trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Môi
trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây
mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong
việc lấy nguồn nước mặt để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã
hội.
Hãy cứu lấy nguồn nước
• Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con
người gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn
kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn…
Hãy cứu lấy nguồn nước
• Nhiều giếng khoan thi công không đúng kỹ thuật (Kết cấu giếng không tốt,
giếng gần khu vực nhà vệ sinh, hệ thống xử lý nước thải…), giếng khoan hư
không được trám lấp là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước.
Hãy cứu lấy nguồn nước
• Nhiều sự cố gây thất thoát nước do đường ống dẫn nước cũ gẫy bể lâu ngày,
rò rỉ nước từ van hư củ. Lười hoặc quên tắt van cũng là nguyên nhân gây
lãng phí nước.
• Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, khi họat động khai thác nước dưới
đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước
mặn xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công
trình khai thác trong khu vực. Mặt khác do nước biển tràn vào hoặc do con người
dẫn nước biển vào sâu trong ruộng để làm muối, dẫn đến xâm nhập mặn vào tầng
chứa nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét