Biện chứng về cái đẹp trong xã hội thể hiện qua ngũ ln
I. KHÁI NIỆM
Khách thể thẩm mỹ là một trong ba thành tố tạo nên đời sống thẩm mỹ.
Khách thể thẩm mỹ là một hệ thống gồm năm phạm trù để giải mã và biểu hiện cái
đẹp: cái xấu, cái đẹp, cái bi, cái hài, cái trác tuyệt. Trong đó cái đẹp là phạm trù cơ
bản, trung tâm, lý tưởng. Cái đẹp vừa mang tính thời sự, vừa mang tính mn thuở.
Có những cái đẹp chỉ tồn tại ở một giai đoạn lịch sử nhất định nay đẹp mai lỗi thời
được thể hiện qua mốt. Nhưng có những cái đẹp mang tồn tại mãi mãi với thời
gian, trường tồn bất biến với lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại. Đó là
những tác phẩm nghệ thuật kinh điển, những phong tục tập qn Cái đẹp có
những phẩm chất hài hồ, cân đối, mực thước, số lượng, chất lượng và sự tiến bộ.
Quan niệm về cái đẹp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lịch sử xã hội, sắc thái
dân tộc, cá nhân mỗi người Từ đó chúng ta có thể đi đến kết luận khái qt về
cái đẹp: “Cái đẹp là một phạm trù thẩm mỹ dùng để chỉ một phẩm chất thẩm mỹ
của sự vật khi nó phù hợp với quan niệm của con người về sự hiện thực, tính lý
tưỏng có khả năng gợi nên ở con người một thái độ thẩm mỹ tích cực do sự tác
động qua lại giữa các đối tượng và chủ thể”.
Phạm trù cái đẹp là một phạm trù rất rộng tồn tại khắp nơi trong dời sống
con ngưòi. Các lĩnh vực biểu hiện của cái đẹp khá đa dạng bao gồm : cái đẹp trong
tự nhiên, cái đẹp trong xẫ hội và cái đẹp trong nghệ thuật. “Cái đẹp trong xã hội
biểu hiên qua tập qn, lễ nghi, qua phép ứng xử của con người với tự nhiên, con
người với xã hội trong một phạm vi hẹp là gia đình đến một phạm vi rộng vĩ mơ là
xã hội nhân gian mà quy tụ lại là văn hố ứng xử”.
Văn hố ứng xử là lối sống lối suy nghĩ lối hoạt động của con người, con
người với tự nhiên, con người với xã hội thể hiện qua những ln thường đạo lý.
Ứng xử là ứng đối, đối đáp, ứng phó là xử sự, xử lý. Bản chất của văn hố ưng xử
la tâm và nhẫn. Tâm là tim là nơi q nhất, thiêng liêng nhất, quan trọng nhất. Tim
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
là “một trăng khuyết ba sao trên trời”. Tâm còn co nghĩa là lương tâm đạo đức, tính
cách, lòng nhân ái. Theo chu dịch và kinh dịch của Chu Cơng Đán và Chu Văn
Vương sau nay được Khổng Tử phát triển thành kinh dịch thì tâm có nghĩa là đạo
dức. Đạo đức gồm có đạo là ngũ ln và đưc là ngũ thường. Ngũ ln gồm: quan
hệ vua tơi, quan hệ cha mẹ con cái, quan hệ thầy trò, quan hệ vợ chồng, quan hệ
anh em ban bè.
II. BIỂU HIỆN CỦA CÁI ĐẸP TRONG XÃ HỘI QUA QUAN HỆ NGŨ
LN
1. Quan hệ vua tơi
Tư tưởng “trung qn, ái quốc” là tư tưởng chủ đạo trong quan hệ vua tơi
người làm vua phải biết thương dân, u dân như con, đảm bảo cho nhân dân ấm
no, chiếm được lòng tin của dân. Theo Khổng Tử người cầm quyền phải có đức có
tài mà khơng tính đến đẳng cấp xuất thân của người ấy. Ơng vua có đức là ơng vua
biết chăm lo cho dân, có tài là người biết lấy lòng tin của dân và trọng dụng những
người tài đức.
Khang Hi (Trung Quốc) là vị vua có tài lẫn đức. Theo sử cũ ghi lại thì ơng
rất thương dân, thường xun đi vi hành thăm thú tình hình dân chúng để từ đó có
những chính sách phù hợp lòng dân. Vì thế dưới thời cai trị của ơng nhân dân được
sống ấm no hạnh phúc. Ở Việt Nam cũng có những vị vua được lưu danh sử sách
trong các triều đại Lý, Trần, Lê đặc biệt là Lê Thánh Tơng bởi thế mà dân gian có
câu :
“Đời vua Thái Tổ Thái Tơng
Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng muốn ăn”
Ngược lại đối với vua dân phải tuyệt đối trung thành sẵn sàng xả thân vì vua.
Sự tồn tại của vua đồng nghĩa với sự tồn tại của đất nước.Vua có trách nhiệm lo
cho đất nước thì dân phải có nghĩa vụ trung thành với vua .Minh chứng tiêu biểu là
trong cuộc khởi nghĩa chống qn Minh của Lê Lợi . Những ngày đầu của cuộc
khởi nghĩa , nghĩa qn gặp rất nhiều khó khăn, nhiều lần bị giặc đánh úp phải rút
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
lên núi Lam Sơn. Lần rút chạy thứ ba nghĩa qn đúng trước nguy cơ bị tiêu diệt
hồn tồn, để cứu Lê Lợi ,Lê Lai đã đóng giả thành Lê Lợi xơng thẳng vào vòng
vây của địch . Qn Minh bắt được Lê Lai tưởng là đã bắt được Lê Lợi nhờ đó mà
Lê Lợi thốt chết .Từ đó dân ta có câu “Hai mốt Lê Lai hai hai Lê Lợi”.
Trong thời kỳ chống qn Ngun-Mơng ,khi ra trận Trần Quốc Toản đã
giương cao lá cờ thêu sáu chữ vàng :”Phá cường địch báo hồng ân”(phá giặc mạnh
đền ơn vua).
Tướng Trần Bình Trọng khi bị giặc bắt và dụ dỗ ơng đã chửi thẳng vào mặt
qn địch :”Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”.Tình cảm vua
tơi của người Việt xuất phát từ lòng u nước của mỗi người .Xả thân vì vua cũng
là vì nước, hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau hỗ trợ nhau khơng tách rời .
2. Quan hệ cha mẹ con cái
Sau chữ Trung phải nói đến chữ Hiếu. Cha mẹ là người sinh ra ta ni dưỡng
ta thành người vì vậy mỗi người khi sinh ra đều phải biết đến ơn nghĩa sinh thành
của cha mẹ. Theo Khổng Tử, hiếu của con cái khơng chỉ là phụng dưỡng người đã
sinh đẻ ra mình mà trước hết phải là lòng thành kính. Ơng cho rằng con người khác
với con vật là biết chăm sóc cha mẹ, đạo đức con người là phải biết chăm lo cho
cha mẹ, cha mẹ phải được kính trọng người Việt coi cơng ơn sinh thành của cha mẹ
cao như trời sâu như bể :
“Cơng cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Hay:
“Cơng cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
Vai trò của cha mẹ đối với con cái là vơ cùng to lớn:”Chết cha ăn cơm với cá
chết mẹ liếm lá ngồi đường”, “Tinh cha huyết mẹ”, ”Cha sinh khơng bằng mẹ
dưỡng”
Cha mẹ với con cái khơng chỉ có ơn sinh thành mà còn có cơng dưỡng dục.
Bài học đầu tiên của cuộc đời mỗi người là từ cha mẹ mình,lúc tập nói tiếng nói
đầu tiên bao giờ cũng là “cha”,”mẹ”. Cha mẹ là người trực tiếp dạy bảo khun răn
lời hay lẽ phải cho ta. Chính những lời nói và việc làm của cha mẹ là tấm gương
chân thực, trực tiếp nhất tác động đến nhân cách của con cái. Cho dù khi đã lớn đã
đi học nhưng những tác động này từ phía cha mẹ khơng hề mất đi. Cơng ơn cha mẹ
đối với con cái là vơ cùng to lớn khơng gì so sánh nổi và cũng khơng có gì đền đáp
nổi. Đã có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật đề cập tới cái đẹp trong quan hệ cha mẹ -
con cái.Trong âm nhạc: “Ơn nghĩa sinh thành” (dân ca Nam Bộ) trong ca dao tục
ngữ:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trơng về q mẹ ruột đau chín chiều”
Trong văn học: “Thư gửi mẹ “(Exênin), “Cha con nghĩa nặng” (Hồ Biểu
Chánh)
Becsot có câu nói rất nổi tiếng ca ngợi trái tim người mẹ: “trong vũ trụ có
lắm kỳ quan nhưng kỳ quan tuyệt hảo nhất là trái tim người mẹ”
Chử Đồng Tử là một minh chứng cho tấm lòng hiếu thảo cua con cái đối với
cha mẹ. Chuyện xưa kể rằng nhà Chử Đồng Tử rất nghèo hai cha con chỉ có một
chiếc khố, bình thường cha mặc thì con ở nhà, con mặc thì cha ở nhà.Khi cha Chử
Đồng Tử ốm nặng lúc sắp chết gọi Chử Đồng Tử đến dặn dò rồi bảo: “cứ để thế mà
táng trần cho cha còn chiếc khố thì giữ lại mà mặc”. Nhưng vốn là đứa con hiếu
thảo Chử đã khơng làm theo ý cha khơng lỡ táng trần.
Câu chuyện Vu Lan cứu mẹ thốt khỏi mười tám tầng địa ngục từ xa xưa còn
lưu truyền đến ngày nay. Mẹ Vu Lan rất độc ác lúc chết khơng được lên thiên đàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
mà phải xuốngđịa ngục. Vu Lan thương mẹ tìm đủ cách cứu mẹ dù phải chịu nhiều
đau đớn. Cuối cùng tấm lòng hiếu thuận của Vu Lan cũng được đền đáp.
Trên thế gian này ai cũng phải cơng nhận một điều là: khơng có mẹ thì
khơng có anh hùng. Anh hùng dù có tài ba lỗi lạc đến mấy đều được sinh ra từ
những bà mẹ. Khơng ai có thể nói rằng mình tự nhiên mà có trên đời khơng cần đến
cha, mẹ. Lê nin - vị lãnh tụ vĩ đại, tấm gương lớn về lòng hiếu thảo với mẹ. Lê nin
đặc biệt u q mẹ, ơng ln vâng lời mẹ dù khi ơng vẫn là người bình thường
hay khi đã là một chính khách nổi tiếng.
Ngày nay khi xã hội, cuộc sống con người thay đổi thì tư tưởng tình cảm con
người cũng theo đó mà thay đổi. Khơng có ít người đã đánh mất lòng nhân của
chính mình, coi trọng đồng tiền mà xao nhãng qn đi trách nhiệm bổn phận làm
con đối với cha mẹ. Đó là mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường. Nhưng đó chỉ là số
ít, la những hạt sạn mà chúng ta cần phải khắc phục.
Kính trọng, chăm sóc cha mẹ mình rồi còn phải kính trọng, chăm sóc cha mẹ
chồng (vợ). Người con dâu phải coi cha mẹ chồng như cha mẹ ruột vì đó là người
đã sinh thành ni dưỡng chồng mình. Ngược lại, người con rể cũng vậy, dù là cha
mẹ đẻ hay cha mẹ chồng (vợ) người con vẫn phải hết mực kính trọng, chăm sóc
chu đáo làm tròn bổn phận của người làm con. Dân gian vẫn còn mãi lưu truyền
những câu chuyện về những người con dâu hiếu thảo thuỷ chung, hết lòngchăm sóc
mẹ chồng để chồng đi đánh giặc cứu nước. Chuyện nàng Thị Phương ni mẹ
chồng khi chồng đi đánh giặc là một minh chứng cho tấm lòng hiếu thảo với cha
mẹ chồng.
3. Quan hệ thầy trò
Nếu như cha mẹ cho ta hình hài thì thầy cơ cho ta kiến thức. Người Việt
Nam có câu “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy. Như vậy người
thầy có vai trò vị trí ngang bằng với cha mẹ.
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống tơn sư trọng đạo, vai trò của người
thầy ln ln được đề cao trong xã hội: “khơng thầy đố mày làm nên”, “nhất tự vi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
sư, bán tự vi sư”, “cơm cha áo mẹ chữ thầy” Nghề giáo là nghề cao q nhất
trong số những nghề cao q, là nghề ươm mầm xanh, nhân tài cho đất nước. Nền
giáo dục thời phong kiến cũng như hiện đại đều theo phưong châm: “tiên học lễ
hậu học văn”. Có nghĩa là trước khi học về kiến thức con người phải học lễ nghĩa,
đạo đức. Đạo đức ấy là những tiền đề hình thành nên nhân cách vốn là thứ quan
trọng nhất trong con người. Bác Hồ đã nói: “người có tài mà khơng có đức thì vơ
dụng”. Vì vậy tài bao giờ cũng phải đi liền với đức mà đức ấy khơng chỉ sẵn có
trong mỗi người mà phải được rèn rũa trong suốt q trình học tập của con người.
Đến đây có một câu hỏi đặt ra là : giữa vai trò của cha mẹ và thầy thì ai cao hơn?
Có thể thấy cái cha mẹ cho ta là thân xác hình hài, là cái tiểu ngã còn cái thầy cho
ta là kiến thức hiểu biết, là cái đại ngã. Do vậy xét trong chừng mực nhất định thì
người thầy còn đứng trước người cha.
Con người sinh ra bởi cha mẹ nhưng có hiểu biết, đỗ đạt thì bởi thầy. Thời
xưa một vị tiến sĩ, trạng ngun từ lúc bắt đầu đi học đến lúc đỗ đạt chỉ học duy
nhất một thầy cùng lắm là vài ba thầy. Ngày nay thì khác nhiều, mỗi năm một lớp
một người thầy. Nhưng cho dù là xưa hay nay, một thầy hay nhiều thầy thì đạo thầy
– trò vẫn khơng hề thay đổi.
Chu Văn An là người thầy vơ cùng mẫu mực. Ơng vốn làm quan to trong
triều, do bất mãn với triều đình nên ơng đã bỏ về q dạy học. Học trò đến học ơng
rất đơng, đỗ đạt và làm quan rất nhiều. Lúc nào ơng cũng căn dặn học trò phải giữ
được tấm lòng trong sạch dù ở đâu làm gì. Thầy Chu Văn An mãi mãi là người thầy
cuả mọi thời đại.
Khổng Tử là một người thầy vơ cùng nổi tiếng khơng chỉ của Trung Quốc
mà còn trên cả thế giới. Tinh thần học khơng mệt dạy khơng biết mỏi của ơng được
người đời nể phục, học trò của ơng nhiều vơ kể. Ơng để lại cho đời nhiều triết lý về
cuộc sống, về nhân cách làm người: “Nhạc tạo sự hồ đồng. Lễ tạo sự nhân cách.
Hồ đồng tạo sự thân mật, còn phân cách sẽ khiến mọi người tơn trọng nhau”.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Ngày xưa, thầy đồ dạy được nhiều học trò đỗ đạt thì vai vế, uy tín cuả thầy
trong xã hội được nâng len rõ rệt. Quang Trung ba lần mời Nguyễn Thiếp (La Sơn
Phu Tử) ra làm qn sư, chính là để thu phục nhân sĩ Bắc Hà vì Nguyễn Thiếp là
thầy giáo của nhiều triều thần Lê Trịnh đương thời
Học trò để tang thầy cũng phải ba năm như tang cha mẹ, nhưng khơng mặc
tang phục, gọi là tâm tang hay tang trong lòng. Chuyện Cụ Thượng Niên về lễ
tang vợ thầy là một ví dụ :
Nguyễn Khắc Niên (1889-1954) ngưòi Sơn Hồ, Hương Sơn , Hà Tĩnh đậu
Đệ nhị giáp Tiến sĩ ( tức Hồng Giáp ) khoa Đinh Mùi 1907 làm Thượng thư bộ
Cải lương hương chính triều Bảo Đại. Nguyễn Khắc Niên là học trò cụ Nguyễn
Duy Dư người Sơn Tiến, một người nổi tiếng hay chữ ở huyện Hương Sơn, đã
được hội Tư văn hàng huyện tơn xưng là “Hương Sơn tứ hổ”. Nguyễn Khắc Niên
thụ giáo cụ Dư cách nhà mình trên 4km. Đến kỳ thi Hương hai thầy trò lều chõng
đi thi, học trò đậu cử nhân dược vào Huế thi Hội đậu ln Hồng giáp, thầy chỉ đậu
Tú tài. Theo chế độ thi cử thời trước Cử nhân mới được dự thi hội, còn Tú tài thì
phải ba khoa Tú tài mới được dự thi. Ba năm mới có một khoa, thầy tú chưa kịp
chờ để đi thi lại khoa sau thì đã từ trần-1909. Hơn ba mươi năm sau bà Tú Dư mất,
lúc đó Nguyễn Khắc Niên đã lên đến chức Thượng Thư trong triều. nghe tin vợ
thầy học cũ mất ơng đánh xe từ Huế vào Hà Tĩnh, để viếng. Nhà cách rộng và
đường quốc lộ, từ huyện tiếp điện đã lệnh cho tổng Lí địa phương đem kiệu và
võng lọng ra tận bờ sơng đón rước cụ Thượng về q lễ vợ thầy. Nhà ơng bà Tú
trên đỉnh đồi Sơn Trại, người trai tráng leo lên cũng cảm thấy mệt, hơn nữa sỏi đá
lởm chởm. Nhưng để tỏ lòng cung kính nhớ ơn thầy cụ Thượng Niên đã xuống
cáng, đi chân đất có hai người lính dìu hai bên, lên tận nhà thầy gần đỉnh đồi. Cụ
Thượng thư đã đi chân đất thi từ tuần phủ tri huyện đến tổng lý cũng phải tháo hia
hài cắp nách mà leo lên. Người con trưởng cụ Tú và một số gia nhân khăn áo chỉnh
tề đã xếp hàng đứng ở cổng. Mặc dầu chỉ là dân thường ít hơn vài tuổi, nhưng con
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
trai cụ Tú cũng được cụ Thượng Niên vái chào rất cung kính (vì được coi là thế
huynh)
4. Quan hệ vợ chồng
Nằm trong quan hệ Ngũ Ln nghĩa vợ chồng cũng là một trong số những
nét đẹp nằm trong văn hố ứng xử . Đạo vợ chồng cư xử với nhau trọng nhất là hai
chữ thuận hồ. Có câu: “Thuận vợ thuận chồng tát bể đơng cũng cạn” nghĩa là vợ
chồng hồ thuận với nhau thì việc khó đến đâu cũng làm được. Người chồng trọng
nhất là phải giữ nghĩa với vợ ,mà vợ thì phải giữ tiết với chồng. Vợ chồng trong
nhà có thuận hồ ấm êm ra ngồi mới được mọi người nể trọng, việc tính tốn làm
ăn mới phát đạt. Còn khơng vợ chồng lục đục “ơng chẳng bà chuộc” thì chẳng
những gia đình khơng hạnh phúc ra ngồi còn bị mọi người chê cười.
Trong gia đình thì vai trò của người chồng là trụ cột, nghĩa vụ của người
chồng đối với vợ thì chỉ ở cho đúng đắn, biết thương u vợ, biết q trọng vợ,nhất
là có tài trí khiến cho vợ có được nương nhờ sung sướng hơn cả.
Quyền người chồng - tục ta trọng nam khinh nữ, quyền người chồng bao giờ
cũng nặng hơn người vợ. Một là tiền của.Tiền của hai vợ chồng làm ra,hoặc của
người chồng hay người vợ làm ra cũng gọi là của chồng cả. Có câu “trai tay khơng
chẳng ăn mày vợ, gái trăm vạn cũng thể nhờ chồng”.
Việc giao thiệp. Chỉ người đàn ơng có quyền giao thiệp với người ngồi, chứ
đàn bà thì khơng dự gì đến việc nọ việc kia cả. Cho nên từ trong họ đến ngồi làng,
cho đến việc tiếp khách, các việc ứng tiếp xã hội cũng khơng việc gì dự đến đàn bà.
Vì tục ấy mà đàn bà ít kiến thức, tựa như một phần người vơ dụng ở đời.
Quyền tự do: Chỉ người đàn ơng được tự do, nghĩa là muốn chơi bời gì thì
chơi, muốn đi lại đâu thì lại, người vợ khơng có quyền ngăn cấm được, mà vợ hơi
có điều gì trái gia pháp thì chồng có thể chửi được. Chồng có thể lấy năm bảy vợ
mà vợ chỉ được phép lấy một chồng. Có câu: “tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính
chun chỉ lấy một chồng”. Đây là nói đại khái chớ quyền gì chồng vẫn hơn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Nghĩa vụ của người vợ: Người vợ trên phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, có
khi phải ni cả chồng; giữa thì giúp chồng lo lắng cơng việc kia việc khác gánh
vác giang sơn cho nhà chồng; dưới thì săn sóc ni con, thế mới gọi là nội trợ.
Người vợ phải có đủ tam tòng tứ đức mới gọi là hiền.Tứ đức là:phụ dung,
phụ cơng, phụ ngơn, phụ hạnh.
- Phụ dung: Là dáng người đàn bà, dáng phải chính đính hồ nhã nhưng cũng
phải chải chuốt cho gọn gàng sạch sẽ.
- Phụ cơng: Là nghề khéo của người đàn bà ,nghề khéo thì chẳng qua trong
nghề may vá thêu dệt và biết bn bán mà thơi, ai giỏi nữa thì biết đủ các nghề cầm
kỳ thi hoạ là cùng.
- Phụ ngơn: Là lời ăn tiếng nói của người đàn bà ăn nói phải khoan thai phải
dịu dàng, đừng cau cảu mà cũng đừng the thé, q hồ mềm mỏng cho ai cũng dễ
nghe.
- Phụ hạnh: Là nết na người đàn bà, nết na thì đến trên kính dưới nhường, ở
trong nhà chiều chồng thương con và lấy nết hiền hậu mà ở với anh em họ hàng
nhà chồng. Ra ngồi thì nhu mì chín chắn, khơng hợm hĩnh mà cũng khơng cay
nghiệt với ai.
Tam tòng là: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử . Nghĩa là khi
người đàn bà còn ở nhà thì theo cha mẹ, khi đã lấy chồng thì theo chồng, khi chồng
mất theo con. Cho nên tục ta đi lấy chồng thì dù hay, dở, sống, chết thế nào cũng là
người nhà chồng, chỉ nương nhờ về chồng con, chớ khơng ai được nữa. Cũng vì
nghĩa ấy mà người đàn bà phai hết lòng hết sức lo cho chồng con, tức là lo cho
mình.
Thất xuất - đàn bà ở với chồng bảy điều nên phải đuổi gọi là xuất thất:
1 - Khơng con
2 - Dâm vật
3 - Khơng thờ cha mẹ chồng
4 - Lắm điều
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
5 - Trộm cắp
6 - Ghen tng
7 - Có ác tật.
Đàn bà lấy chồng trọng nhất là việc nối dõi tơng đường, khơng có con thì
chồng phải lấy vợ khác, cho nên phải bỏ. Dâm vật là một nết hư. Khơng thờ phụng
được cha mẹ chồng là bất hiếu. Lắm điều thì chua ngoa khó chịu. Trộm cắp thì có
tính gian phi. Ghen tng thì mất tính hiền hậu. Có ác tật thì khơng đương nổi việc
nhà. Các điều ấy khó dung nên phải đuổi.
Tam bất khả xuất - ba điều khơng được đuổi:
1 - Đàn bà từng để tang ba năm nhà chồng
2 - Trước nghèo sau giàu
3 - Ở nhà chồng thì được mà về nhà mình thì khơng có chỗ nào nương tựa.
Đàn bà để tang cha mẹ chồng ba năm là đã giúp chồng trong sự báo hiếu ấy
rồi, ấy cũng là có cơng với chồng, nếu bỏ thì chẳng những bạc tình mà lại là người
bất hiếu với cha mẹ nữa. Trước mới lấy nhau thì nghèo mà sau rồi thì giàu có thì là
đường sinh lý cũng có nhờ giúp đỡ mới nên. Nếu bỏ đi thì là phụ cơng. Đàn bà chỉ
nhờ chồng và nhờ cha mẹ mà thơi. Nếu cha mẹ người vợ mất rồi mà đuổi đi thì
người ta nương nhờ vào đâu, thế là bất nghĩa cho nên khơng đuổi.
Cái đạo vợ chồng, cũng là một mối cương thường rất hệ trọng trong ngũ
ln. Ở với nhau mà biết thương u nhau, q trọng nhau, thì rất là phải đạo lắm.
Nhưng tục ta trọng nam khinh nữ thì là một tục trái hẳn với cách văn minh.
Tục ta thì phần nhiều áp chế đàn bà qúa. Có người coi vợ như kẻ ăn người ở,
nào là bắt sửa túi nâng khăn, nào là bắt cơm dâng nước tiến: nào la bẻ hành bẻ tỏi,
nào là bắt nhặt bắt khoan. Chồng ăn chơi như phá thì khơng sao, vợ xỉnh ra một
chút đã sinh ra ỏm tỏi, chồng chim chuột như quỷ thì chẳng hề gì, vợ động đi đâu
một lúc đã sinh ra ngờ vực, ấy là điều trái với đạo cơng bằng.
Sách có chữ rằng: “phu phụ tương kính như tân” nghĩa là vợ chồng kính
trọng nhau như khách. Lại có câu rằng: “phu phụ hồ nhi hậu gia đạo thành” nghĩa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
là vợ chồng có hồ thuận thì mới nên gia đạo. Hai câu ấy đủ làm gương trong đạo
vợ chồng.
Trong nghệ thuật có nhiều hình tượng về những người vợ thuỷ chung, đảm
đang, đức hạnh. Đó là nàng Vũ Nương trong truyện “Chuyện người con gái Nam
Xương” (Nguyễn Dữ). Vũ Nương lấy chồng là Trương Sinh, gặp phải lúc đất nước
có loạn lạc Trương Sinh phải ra trận khi chưa kịp biết mặt đứa con mình. Vũ
Nương ở nhà ni con chăm sóc mẹ chồng hết sức chu đáo . Mẹ chồng mất nàng lo
toan việc chơn cất, thờ cúng một lòng chờ chồng. Đứa con lớn lên, trong những lúc
đêm khuya nó hỏi về cha thì nàng chỉ cái bóng của mình trên tường và bảo: “cha
kia kìa”. Trương Sinh trở về , một lần cùng đứa con ra mộ mẹ chàng hỏi nó về cha
thì nó bảo: “Cha con đêm nào cũng đến” Khơng hỏi lại vợ chàng nhất quyết cho
rằng vợ đã phản bội mình và mắng nhiếc thậm tệ. Oan ưc Vũ Nương đã tìm đến cái
chết để minh oan. Cuối cùng khi Trương Sinh hiểu ra thì đã muộn .
Người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Cơn và Đồn Thị
Điểm)là một người chinh phụ chờ người chinh phu trong u thương da diết. Trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ vừa qua của nhân dân ta nếu mỗi người
chinh phụ đều viết một “Chinh phụ ngâm” thì có lẽ khơng giấy bút nào ghi lại nổi.
Từ thời xa xưa Mị Châu cũng vì chung thuỷ, tin u chồng là Trọng Thuỷ
hết mực nên đã hại đến nước và bị vua cha chém chết. Đó là một bi kịch của tình
u của đời trước mà người đời mãi mãi lưu truyền.
5. Quan hệ anh em, ban bè
Tình anh em huynh đệ là một trong những đạo đức mà người Việt rất coi
trọng. Ca dao tục ngữ ca ngợi nhiều về mối quan hệ này:
“Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc khó khăn đỡ đần”
Hay:
“Khơn ngoan đối đáp người ngồi
Gà cùng một mẹ chớ hồi đá nhau”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Để nói về tình anh em ruột thịt trong một nhà thì có: “một giọt máu đào hơn
ao nước lã”, “chị ngã em nâng” Theo Khổng Tử anh tốt em ngoan là phải biết
trọng chữ “Nhẫn”, “một điều nhịn là chín điều lành”. Anh em có hồ thuận thì gia
đình mới n ấm. Đánh giá một gia đình bao giờ ta cũng nhìn vào cha mẹ sau đó là
anh em. Anh em có thuận hồ thì xã hội mới nể phục. Người qn tử muốn trị được
quốc thì trước hết phải tề gia nghĩa là phải hài hồ được những mối quan hệ cơ bản
trong gia đình. Với người Việt Nam tình cảm anh em là tình cảm thiêng liêng cao
cả. Người anh cả thậm chí được coi như cha sau khi cha qua đời “quyền huynh thế
phụ”.
“Sự tích trầu cau” là một vi dụ điển hình về tình anh em keo sơn gắn bó.
Chuyện kể về hai anh em sinh đơi giống nhau như hai giọt nước, cùng theo
học một người thầy. Vì cả hai đều học giỏi và ngoan ngỗn nên được thầy u mến.
Người anh được thầy gả con gái cho, nhưng hai anh em vẫn sống chung một nhà.
Do q giống nhau nên có lần người chị dâu nhận nhầm em chồng là chồng mình.
Để tránh mặt anh trai người em bỏ đi. Khơng thấy em người anh đi tìm, còn mình
ngươi vợ ở nhà khơng thấy chồng về chị cũng bỏ nhà đi tìm chồng. Kết quả là cả ba
đều chết bên nhau hố thành sự tích trầu cau.
Khái niệm bạn bè với người Việt rất rộng rãi bao gồm cả quan hệ làng xóm
láng giềng. Người Việt sống trong cái nơi của nền văn minh lúa nước. Do đặc tính
sản xuất nơng nghiệp dựa vào cây lúa nên rất cần đến mối quan hệ tương trợ cộng
đồng. Tình cảm bạn bè do đó mà phát triển. Nếu như với người Việt tình anh em
ruột thịt là thiêng liêng cao cả thì bạn bè làng xóm còn quan trọng hơn gấp bội.
Người Việt có câu: “ bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “nước xa khơng cứu
được lửa gần’’ là vậy .
Bạn bè là những người sớm tối tắt lửa tối đèn có nhau. Trong hoạn nạn cũng
như gian nguy cũng khơng từ bỏ nhau. Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Bạn đến
chơi nhà” đã có cái nhìn rất hóm hỉnh nhưng đầy mỹ cảm về tình bạn. Mặc dù hồn
cảnh gia đình nghèo đói túng thiếu bạn đến chơi khơng có gì tiếp đãi nhưng câu kết
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
của bài thơ đã thay cho tất cả : “bác đến chơi đây ta với ta”. Như thế nghĩa là đem
chính tình bạn ra tiếp đãi tình bạn . Thế mới thấy người việt tình bạn đến mức nào.
Một ví dụ khác về tình bạn cao cả là tích chèo cổ Lưu Bình- Dương Lễ .Lưu Bình
và Dương Lễ là hai người bạn thân thiết của nhau .Lưu Bình có điều kiện học hành
hơn nhưng lại lười nhác , ăn chơi xa đoạ nên thi trượt.Còn Dương Lễ do chăm chỉ
học hành nên đỗ đạt. Dương Lễ nhớ đến tình bạn giưã hai người tìm cách giúp bạn
thành danh mà khơng quản hy sinh cả vợ mình .
“Sự tích chim quốc” nói lên tình bạn sâu sắc của hai người bạn trí thân là
Nhân và Quốc.Hai người bạn chơi thân với nhau giúp đỡ nhau vượt qua những lúc
khó khăn hoạn nạn. Sau đó mỗi người một nơi Quốc làm nghề dạy học còn Nhân đi
ở rồi lấy con gái nhà chủ và được hưởng gia tài.Mặc dù sung sướng Nhân ln nhớ
đến Quốc, tìm đủ mọi cách gọi bạn đến bên mình. Nhưng khi Quốc đến chung sống
cùng vợ chồng Nhân thì vợ nhân có thái độ khơng bằng lòng. Quốc thương bạn
khơng muốn làm phiền bạn bèn lặng lẽ bỏ đi. Khơng thấy bạn Nhân bỏ nhà đi tìm
rồi chết ở trong rừng hố thành con chim Đỗ Qun (chim quốc).
Trong ca dao tục ngữ ta cũng bắt gặp nhiều câu nói về tình cảm bạn bè, bằng
hữu:
“ Ra đi vừa gặp bạn hiền
Như bằng ăn quả đào tiên trên trời”
Hay “Ra đi vừa gặp bạn hiền
Như bằng tắm nước hồ sen trước chùa”
Trong danh ngơn ta cũng gặp nhiều câu nói về tình bạn: “Tinh bạn là chất
keo của cuộc sống”, “Ai có một người bạn là có một kho tàng lớn”.
III. KẾT LUẬN
Có thể nói ngũ ln là một học thuyết triết học nhằm tạo nên cái đẹp trong xã
hội dựa trên những mối quan hệ cơ bản: Vua tơi,cha con, thầy trò, vợ chồng, anh
em bạn bè, giá trị của thuyết ngũ ln có tính bền vững lâu dài, thích ứng trong mọi
thời đại, để tạo nên một xã hội đẹp đạt tới CHÂN-THIỆN-MỸ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét