nước có đủ điều kiện và năng lực đào tạo sau đại học về lưu trữ. Việc đào tạo
Tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ học ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ nhàm nâng cao trình độ cho đội
ngũ cán bộ giảng dạy của trường mà còn cung cấp đội ngũ cán bộ, giảng viên
cho các cơ sở đào tạo về lưu trữ học trong cả nước. Đây là trách nhiệm, đồng
thời cũng là nhiệm vụ nhằm khẳng định và nâng cao vị thế và sự phát triển của
một cơ sở đào tạo đại học, sau đại học lớn nhất trong cả nước.
2.2.2. Đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước:
- Từ trước đến nay, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập và phát triển, tài
liệu lưu trữ là bằng chứng có giá trị pháp lý và độ tin cậy cao, được khai thác và
sử dụng để chứng minh chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên đất liền, trên
biển; cung cấp thông tin để nhà nước và các cơ quan có cơ sở hoạch định chính
sách; phát triển quan hệ hợp tác quốc tế; đảm bảo an ninh quốc phòng và xây
dựng, phát triển kinh tế, văn hoá; đảm bảo an sinh xã hội và những quyền lợi
chính đáng của công dân v.v…
- Trong hoạt động quản lý, tài liệu lưu trữ nói chung là nguồn thông tin
quá khứ và bằng chứng pháp lý giúp các cơ quan có căn cứ và cơ sở trong việc
ban hành các quyết định quản lý; phục vụ việc xây dựng kế hoạch, tổng kết hoạt
động; cung cấp thông tin phục vụ hoạt động thanh tra, kiểm tra và là bằng chứng
tin cậy trong việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại và tố cáo
- Về mặt khoa học, tài liệu lưu trữ được hình thành qua các thời kỳ lịch sử
của đất nước là nguồn sử liệu phong phú, đa dạng và chân thực nhất đối với việc
nghiên cứu khoa học nói chung, đặc biệt là nghiên cứu lịch sử. Tài liệu lưu trữ
cung cấp những chứng cứ, tư liệu để các nhà nghiên cứu tái dựng, xác minh các
sự kiện lịch sử và những vấn đề liên quan phục vụ cho việc biên soạn lịch sử bao
gồm lịch sử dân tộc, lịch sử các cơ quan nhà nước, lịch sử ngành, lịch sử địa
phương, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tiểu
sử các danh nhân…
- Dưới góc độ văn hoá, tài liệu lưu trữ là một trong những di sản văn hoá
đặc biệt, phản ánh phong tục, tập quán và đời sống của nhân dân, bảo tồn những
giá trị văn hoá của quốc gia, dân tộc.
Với những ý nghĩa đặc biệt trên đây, tài liệu lưu trữ luôn được tất cả các
quốc gia, các nhà nước quan tâm lưu giữ, bảo quản và khai thác để phục vụ lợi
ích quốc gia, dân tộc, lợi ích chính đáng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5
Muốn thực hiện được nhiệm vụ trên đây, tất cả các quốc gia đều phải quan tâm
tổ chức công tác lưu trữ, thiết lập các cơ quan lưu trữ và đào tạo nguồn nhân
lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao về lưu trữ để có thể giúp nhà
nước và các cơ quan sưu tầm, bảo quản và phục vụ nhu cầu khai thác thông tin
trong tài liệu lưu trữ.
Nhận thức được tầm quan trọng của tài liệu lưu trữ và công tác lưu trữ,
nên ngay từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, công tác lưu trữ đã được tổ chức
thành một ngành hoạt động của Nhà nước và xã hội. Hai hệ thống tổ chức lưu
trữ từ trung ương đến địa phương đã được hình thành; đó là hệ thống lưu trữ
Đảng và hệ thống lưu trữ của Nhà nước, bao gồm các cơ quan quản lý, các
phòng, kho và các trung tâm lưu trữ. Ngoài ra còn có các cơ sở đào tạo, nghiên
cứu khoa học về lĩnh vực này. Nguồn nhân lực làm công tác lưu trữ cũng đã
được đào tạo ở các bậc học khác nhau.
Như vậy, công tác lưu trữ được hình thành xuất phát từ nhu cầu sử dụng
và bảo quản thông tin quá khứ và hiện tại để phục vụ cho hoạt động quản lý, xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác của
tổ chức, công dân.
Công tác lưu trữ là công tác mang tính chất khoa học, nghiệp vụ, đòi hỏi
người làm công tác này phải qua các trường lớp đào tạo ở các bậc học khác
nhau: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, cao học và tiến sĩ.
Ở nước ta, nguồn nhân lực làm công tác lưu trữ và công tác văn thư qua
đào tạo trung học và đại học đã lên đến hàng nghìn người. Tuy nhiên số cán bộ
có trình độ tiến sĩ lưu trữ học thì rất ít, chỉ trên dưới 10 người. Phần lớn các cán
bộ có trình độ tiến sỹ được đào tạo ở Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu trong các thập niên 70, 80 của thế kỷ XX. Nhiều người trong số đó đã nghỉ
hưu hoặc sắp nghỉ hưu. Hiện tại, số cán bộ có học vị tiến sĩ và học hàm phó giáo
sư để đáp ứng các nhu cầu trên chỉ còn 10 người là cán bộ cơ hữu và được phân
bổ như sau:
- Bộ Nội vụ: 1 TS.
- Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước: 2 TS.
- Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn: 2 TS và 3 PGS.
- Trường Cao đẳng Nội vụ (Bộ Nội vụ): 3 TS.
6
- Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (Phân viện
Thành phố Hồ Chí Minh): 1 TS.
- Học viện Báo chí và tuyên truyền: 1 TS
Hiện nay, nước ta đang đứng trước thực trạng thiếu nguồn nhân lực có
trình độ cao về lưu trữ học để quản lý, chỉ đạo công tác lưu trữ ở tầm vĩ mô, làm
công tác nghiên cứu, xây dựng hệ thống lý luận về lĩnh vực này, giảng dạy đại
học và sau đại học về lưu trữ học. Bởi vậy, mở hệ đào tạo tiến sĩ chuyên ngành
lưu trữ là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn
phòng Trường Đại học KHXH&NV Đại học Quốc gia Hà Nội.
Việc mở hệ đào tạo tiến sĩ chuyên ngành lưu trữ nhằm cung cấp cho xã
hội nguồn nhân lực có trình độ cao để đảm nhiệm các công việc sau:
- Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để xây dựng lý luận và phương pháp về
công tác lưu trữ và khoa học lưu trữ (lưu trữ học).
- Tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định chủ trương, chính
sách và tổ chức quản lý về công tác lưu trữ ở nước ta.
- Đảm nhiệm công tác quản lý văn thư - lưu trữ ở các cơ quan và các kho
lưu trữ, các Trung tâm lưu trữ quốc gia, các trung tâm lưu trữ của tỉnh, thành
phố, các kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức khác.
- Làm cán bộ quản lý, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo cán bộ lưu trữ ở các
bậc khác nhau.
Với lý do trên, có thể khẳng định rằng việc mở hệ đào tạo tiến sĩ lưu trữ
hiện nay đã trở nên vô cùng cấp thiết đối với ngành lưu trữ Việt Nam.
3. Tình hình đào tạo trên thế giới và Việt Nam về chuyên ngành lưu trữ
Việc đào tạo cán bộ lưu trữ đã được tiến hành ở một số nước ở châu Âu từ
thế kỷ XVI, tuy nhiên từ đầu thế kỷ XIX mới bắt đầu đào tạo đại học lưu trữ.
Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới mở trường đào tạo cán bộ lưu trữ bậc đại
học vào năm 1821 với tên gọi Đại học Lưu trữ và Cổ tự học (Ecole des Chartes).
Đến nửa sau thế kỷ XIX Viện nghiên cứu lịch sử Áo - Hung đã mở lớp đào tạo
sau đại học về lưu trữ học. Ở Liên Xô: Sau Cách mạng tháng 10 năm 1917, nước
Nga Xô viết đã mở chuyên ngành đào tạo cán bộ lưu trữ lịch sử ở Trường Đại
học Tổng hợp Mátxcơva và XanhPetecbua. Đến năm 1931, Trường Đại học Lưu
trữ Lịch sử Quốc gia Matxcơva được thành lập trên cơ sở phát triển khoa Lưu
trữ - Lịch sử từ Trường Đại học Tổng hợp mang tên Lômônôxốp. Năm 1934
Trường này bắt đầu mở hệ đào tạo nghiên cứu sinh.
7
Công tác đào tạo cán bộ đại học và sau đại học lưu trữ ở Liên Xô phát
triển mạnh mẽ từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Trường Đại học Lưu trữ lịch sử
Quốc gia Mátxcơva, nay là Trường Đại học Tổng hợp Nhân văn Quốc gia Nga
không chỉ đào tạo cán bộ có trình độ cử nhân, phó tiến sĩ và tiến sĩ khoa học về
Lưu trữ - lịch sử, Văn kiện học, Công bố học cho toàn Liên bang mà còn đào tạo
cán bộ có trình độ cao cho các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nhiều nước
trên thế giới. Hiện nay, Trường Đại học Tổng hợp Nhân văn Quốc gia Nga vẫn
đang phát triển. Ngoài cơ sở đào tạo này, ở Mátxcơva còn có Viện nghiên cứu
toàn liên bang về văn bản học và lưu trữ học (VNIIDAD), Viện này cũng có
chức năng đào tạo tiến sĩ lưu trữ học. Ở Liên bang Nga còn một số cơ sở khác
cũng được phép đào tạo chuyên ngành lưu trữ bậc sau đại học như Trường Đại
học Tổng hợp Xanh Petecbua,…
Ở nhiều nước châu Âu khác như Vương quốc Anh, Cộng hoà Liên bang
Đức, Cộng hoà Pháp, Ba Lan, Hungari, Bungari… đều mở chuyên ngành lưu trữ
ở các Trường Đại học Tổng hợp; có nước mở thành một khoa độc lập, có nước
là bộ môn trong khoa Lịch sử hoặc khoa Thông tin - Thư viện. Ở Trung Quốc,
hệ đào tạo đại học Lưu trữ được đặt ở trường Đại học Nhân dân Bắc Kinh từ đầu
thập niên 50 của thế kỷ XX, là một khoa độc lập. Sau thời kỳ cải cách mở cửa
của Trung Quốc, khoa này được nâng cấp thành Học viện khoa học Lưu trữ trực
thuộc Trường Đại học nhân dân Bắc Kinh. Ở Trung Quốc hiện có 20 trường đại
học có hệ đào tạo lưu trữ học. Nhiều trường trong số đó đã tổ chức đào tạo tiến
sĩ như Học viện Lưu trữ học thuộc Đại học nhân dân Bắc Kinh; Trường Đại học
Tôn Trung Sơn…
Ở Việt Nam, hệ đào tạo cử nhân Lưu trữ lịch sử được mở ở Khoa Lịch sử,
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1967. Hệ đào tạo cao học chuyên
ngành Lưu trữ học và tư liệu học được mở theo Quyết định số 193 QĐ/ĐT-SĐH
ngày 03 tháng 02 năm 1998 của Bộ Giáo dục và Đào tạo với mã ngành 51002 tại
Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng. Đây là cơ sở duy nhất đào tạo thạc sĩ
Lưu trữ học và Tư liệu học ở nước ta hiện nay. Tính đến năm 2008 đã có 65 học
viên bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lưu trữ. Năm 2009, số
lượng này lên tới 70 học viên. Những người này đã trở thành những cán bộ
giảng dạy, nghiên cứu và quản lý ở các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung
8
ương Đảng, các Trung tâm lưu trữ Quốc gia, Lưu trữ tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương.
Do nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực có trình độ sau đại học về Lưu
trữ học ngày càng tăng, nên số học viên cao học của chuyên ngành cũng ngày
một đông hơn. Mỗi khoá tuyển từ 10 đến 15 thí sinh thi vào học chuyên ngành
Lưu trữ. Nhiều người đã tốt nghiệp thạc sĩ ngành này có nguyện vọng được học
tiếp lên bậc tiến sĩ.
4. Tuyển sinh cho chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ lưu trữ học
4.1. Điều kiện dự tuyển
Những người dự tuyển cần bảo đảm các điểu kiện sau:
- Có bằng thạc sĩ chuyên ngành đúng hoặc phù hợp, hoặc gần chuyên
ngành đăng kí dự thi.
- Có bằng thạc sĩ chuyên ngành khác và có bằng tốt nghiệp đại học chính
quy ngành đúng hoặc phù hợp với chuyên ngành đăng kí dự thi. Trường hợp này
thí sinh phải có ít nhất 01 bài báo công bố trên tạp chí khoa học hoặc tuyển tập
công trình hội nghị khoa học trước khi nộp hồ sơ dự thi và phải dự thi theo chế
độ đối với người chưa có bằng thạc sĩ.
- Có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy ngành đúng, loại giỏi trở lên và
có ít nhất 01 bài báo công bố trên tạp chí khoa học hoặc tuyển tập công trình
hội nghị khoa học trước khi nộp hồ sơ dự thi.
- Có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy ngành đúng, loại khá và có ít
nhất 02 bài báo công bố trên tạp chí khoa học hoặc tuyển tập công trình hội
nghị khoa học trước khi nộp hồ sơ dự thi.
Nội dung các bài báo phải phù hợp với hướng chuyên ngành đăng kí dự
thi.
* Người dự thi nghiên cứu sinh (NCS) cần có ít nhất 2 năm làm việc
chuyên môn trong lĩnh vực của chuyên ngành đăng kí dự thi (tính từ ngày kí
quyết định công nhận tốt nghiệp đại học đến ngày nhập học), trừ trường hợp
được chuyển tiếp sinh.
9
4.2. Các môn thi tuyển
4.2.1. Đối với thí sinh chưa có bằng thạc sĩ:
a. Môn cơ bản: Công tác văn thư.
b. Môn cơ sở: Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ.
c. Môn Ngoại ngữ: Chọn 1 trong 5 thứ tiếng: Anh, Đức, Nga, Pháp, Trung
Quốc.
d. Bảo vệ đề cương nghiên cứu.
4.2.2. Đối với thí sinh đã có bằng thạc sĩ:
a. Môn Ngoại ngữ: Chọn 1 trong 5 thứ tiếng: Anh, Đức, Nga, Pháp, Trung
Quốc.
b. Bảo vệ đề cương nghiên cứu.
4.3. Nguồn tuyển sinh
- Dự kiến tuyển sinh từ các ngành sau: Lưu trữ học và Quản trị văn phòng
(cử nhân), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
- Thạc sĩ Lưu trữ học và Tư liệu học (nay là Lưu trữ) Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Ngành lịch sử Việt Nam cổ - trung đại, cận - hiện đại.
- Ngành Hành chính, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Ngành Thông tin, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại
học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
5. Điều kiện tổ chức đào tạo của đơn vị
5.1. Đội ngũ cán bộ giảng dạy
5.1.1. Đội ngũ cán bộ, giảng viên:
Đội ngũ cán bộ giảng viên gồm: Đội ngũ cán bộ giảng viên, cán bộ cơ hữu
thuộc biên chế của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn gồm có 6 cán
bộ, trong đó 05 Phó Giáo sư, 02 tiến sĩ; Cán bộ kiêm nhiệm thuộc biên chế ngoài
Đại học Quốc gia Hà Nội (công tác tại Bộ Khoa học Công nghệ; Cục Văn thư
Lưu trữ Nhà nước…) và một số cán bộ, giảng viên đã nghỉ hưu, trong đó có 01
Giáo sư, 04 Phó giáo sư, 03 Tiến sĩ. Chi tiết Phụ lục 1.
5.1.2. Lý lịch khoa học, năng lực nghiên cứu, đào tạo của cán bộ giảng
viên:
10
Lý lịch khoa học, năng lực nghiên cứu, đào tạo của cán bộ giảng viên
được tổng hợp thành Quyển Lý lịch khoa học, bản sao văn bằng cao nhất và văn
bản tham gia đào tạo của thành viên.
5.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học của Khoa Lưu trữ học và QTVP
5.2.1. Các đề tài Khoa đã thực hiện:
Kể từ khi thành lập đến nay (năm 1996), Khoa Lưu trữ học và Quản trị
văn phòng đã triển khai nhiều đề tài khoa học các cấp. Bảng thống kê các
đề tài nghiên cứu mà Khoa đã thực hiện: Xem Phụ lục 2, Phụ lục 3.
5.2.2. Các hội thảo khoa học chuyên ngành Lưu trữ đã tổ chức: Khoa lưu
trữ học và Quản trị văn phòng đã tổ chức được 04 cuộc hội thảo. Chi tiết xem
Phụ lục 4.
5.2.3. Danh mục hướng nghiên cứu cho các đề tài luận án tiến sĩ Lưu trữ:
Xem Phụ lục 5.
5.2.4. Dự kiến Danh mục đề tài Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ và
dự kiến cán bộ hướng dẫn: Xem Phụ lục 6.
5.3 Cơ sở vật chất
a. Trang thiết bị:
- Hệ thống giảng đường, thư viện trường, trang thiết bị phương tiện giảng
dạy đảm bảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu.
- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN.
- Phòng Tư liệu của Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, bao gồm hệ
thống tư liệu phong phú trong và ngoài nước.
- Thư viện thuộc Trung tâm Khoa học và Công nghệ văn thư lưu trữ, Cục
Văn thư và Lưu trữ Nhà nước. (có Biên bản Thoả thuận hợp tác, trao đổi tư liệu
giữa Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng với Trung tâm Khoa học và Công
nghệ văn thư lưu trữ số 63/BB-LTH ngày 02 tháng 10 năm 2009 kèm theo)
b. Sách và tạp chí phục vụ cho công tác đào tạo Tiến sĩ Lưu trữ:
Hệ thống tư liệu của Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng rất đa dạng
và phong phú, đáp ứng yêu cầu của đào tạo bậc Tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ.
Bên cạnh đó là hệ thống các cơ quan lưu trữ từ Trung ương đến địa phương. Đây
cũng là những địa chỉ cung cấp các tư liệu quan trọng cho các nghiên cứu sinh
trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án tiến sĩ.
11
Một số tư liệu cơ bản: Xem Phụ lục 7.
c. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội có đủ kinh phí đáp ứng yêu cầu đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ. Với bề
dày kinh nghiệm của mình, Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng hoàn toàn
có đầy đủ năng lực quản lý công tác đào tạo Tiến sĩ theo đúng yêu cầu của Bộ
Giáo dục Đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội.
c.1. Nguồn kinh phí để thực hiện kế hoạch đào tạo
c.1.1. Cơ cấu nguồn:
Nguồn thu để chi phí trực tiếp cho chương trình đào tạo được lấy từ nguồn
chủ yếu sau:
- Học phí từ NCS đóng góp: Nguồn thu này tất cả NCS phải nộp.
- Ngân sách nhà nước cấp kinh phí: Ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho
những đối tượng hưởng lương từ ngân sách được cơ quan cử đi học và trong chỉ
tiêu được tuyển sinh duyệt.
c.1.2. Mức thu:
Căn cứ Quyết định số 1310/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
02/8/2009 về việc điều chỉnh khung học phí đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và căn cứ Văn
bản hướng dẫn số 2439/KHTC-HD của ĐHQGHN ngày 08/7/2009 về việc
hướng dẫn xây dựng ngân sách năm 2010 của các đơn vị trực thuộc ĐHQGHN,
mức thu và đối tượng thu cụ thể như sau:
c.1.2.1. Nguồn thu từ người học:
- NCS có bằng thạc sỹ:
+ Học phí:
Mức thu 330,000đ/NCS/tháng.
Thời gian thu: 10 tháng/năm và được thực hiện trong 03 năm.
- NCS có bằng cử nhân:
+ Học phí:
Mức thu 330,000đ/NCS/tháng.
Thời gian thu: 10 tháng/năm và được thực hiện trong 04 năm.
c.1.2.2. Nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp:
12
Ngân sách nhà nước cấp theo định mức của từng năm cụ thể cho NCS
thuộc diện hưởng lương từ ngân sách nhà nước được cơ quan cử đi học và trong
chỉ tiêu tuyển sinh được phê duyệt: 4,220,000đ/NCS/năm
c.1.3. Tổng nguồn thực hiện kế hoạch đào tạo:
Trên cơ sở định mức thu theo quy định chung của nhà nước và nguồn bổ
sung của nhà trường thì kinh phí để chi cho một NCS cụ thể như sau:
- NCS có bằng cử nhân:
30,080,000đ/NCS/khoá.
- NCS có bằng thạc sỹ:
22,560,000đ/NCS/khoá.
c.2. Chi tiết thực hiện kế hoạch đào tạo
c.2.1. Hội đồng bảo vệ luận án cấp cơ sở:
Chủ tịch hội đồng: 500,000đ x 01 người
Phản biện: 650,000đ x 03 người
Uỷ viên: 450,000đ x số người
Uỷ viên - Thư ký: 500,000đ x 01 người
Đại biểu: 100,000đ x 03 người
c.2.2. Hội đồng bảo vệ luận án cấp nhà nước:
Chủ tịch hội đồng: 650,000đ x 01 người
Phản biện: 800,000đ x số người
Uỷ viên: 550,000đ x số người
Uỷ viên - Thư ký: 650,000đ x 01 người
Đại biểu: 100,000đ x 04 người
c.2.3. Chi phí nhận xét tóm tắt luận án: 200,000đ/bài (01 luận án có 50
bản tóm tắt).
Tổng chi phí của nhận xét tóm tắt là 10,000,000đ.
c.2.4. Chi phí hướng dẫn luận án: 3,500,000đ/năm
5.4. Dự kiến kế hoạch đào tạo chung cho toàn khoá học và kế hoạch cụ thể cho năm học
2010 - 2011
- Dự kiến tuyển sinh: Năm 2010.
- Chỉ tiêu: 06.
- Chương trình học của bậc đào tạo Tiến sĩ Lưu trữ: Theo Quy chế hiện
hành, chương trình đào tạo Tiến sĩ gồm 03 phần:
13
a. Phần 1: Các chuyên đề trong chương trình Thạc sĩ Lưu trữ theo quy
định ở các điểm a, b; khoản 3, điều 5 Quy chế đào tạo sau đại học hiện hành;
b. Phần 2: Các chuyên đề Tiến sĩ.
- Chuyên đề 1: Xã hội hoá công tác lưu trữ.
- Chuyên đề 2: Lưu trữ và phát triển.
- Chuyên đề 3: Tài liệu lưu trữ với nghiên cứu khoa học.
- Chuyên đề 4: Luật pháp lưu trữ.
- Chuyên đề 5: Quản lý công tác lưu trữ.
- Chuyên đề 6: Lưu trữ chuyên ngành.
- Chuyên đề 7: Bảo hiểm tài liệu lưu trữ.
- Chuyên đề 8: Giải mật tài liệu lưu trữ.
- Chuyên đề 9: Lý thuyết hệ thống và việc xử lý thông tin văn bản.
c. Phần 3: Luận án tiến sĩ.
6. Các hợp tác, liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học
Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng hiện đang có quan hệ hợp tác với
Bộ môn Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời đang
xúc tiến hợp tác đào tạo với một số trường đại học trên thế giới có đào tạo
chuyên ngành lưu trữ.
7. Các khung chương trình đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ của một số
Trường đại học trên thế giới (Xem Phụ lục 8).
7.1. Chương trình đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Lưu trữ của Trường Đại
học Tổng hợp London (Anh)
7.2. Chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ của Trường Đại học Tổng hợp
Nhân văn Quốc gia Nga.
7.3. Chương trình đào tạo tiến sĩ của Viện nghiên cứu khoa học toàn Nga
về Văn bản học và Lưu trữ học (VNIIDAD).
7.4. Chương trình đào tạo tiến sĩ của Đại học Tổng hợp New South Wales
(Úc)
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét