Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

hoai_36k15.1.de_cuong.de_an.word_2003

5
1.1. Khái niệm và phân loại lạm phát
1.1.1 Khái niệm
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của
nền kinh tế
(1)
. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm
sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá
tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.
Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng
tiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số
lượng hàng hoá ít hơn so với năm trước. Lưu ý, sự tăng giá của một vài loại hàng hoá
riêng lẻ nào đó thì chưa gọi là lạm phát. Chỉ có thể kết luận lạm phát khi mức giá
chung tăng lên.
1.1.2 Phân loại
1.1.2.1. Lạm phát vừa phải
Lạm phát vừa phải thể hiện qua mức giá chỉ với một con số, tỉ lệ tăng giá thấp,
dưới 10%/năm, nên giá cả tương đối ổn định, hầu như sự thay đổi của nó rất khó nhận
biết
(2)
. Trong điều kiện đó mọi người tin vào giá trị của đồng tiền, vì vậy các chức
năng của nó vẫn được thực hiện một cách bình thường. Thông thường ở các nước do
loại lạm phát thấp có thể dự báo đoán trước và người ta có thể chỉ số hoá vào các
chính sách của Nhà nước hoặc các hoạt động kinh tế nên đã hạn chế được mặt tiêu
cực của nó
1.1.2.2 Lạm phát phi mã.
Lạm phát phi mã thể hiện qua mức tăng giá từ hai tới ba con số, tức là khoảng hơn
10%, 50%, 20%, 800% một năm
(3)
.Trong những năm 1980, có nhiều nước lâm vào
tình trạng lạm phát lạm phát phi mã đến 700% chẳng hạn như Argentina, Brazin, Việt
Nam… đồng tiền mất giá nghiêm trọng, lãi suất thực là âm. Trong điều kiên đó,
không ai cho vay vơi lãi suất thông thường. Không ai nắm giữ tiền mặt lớn quá mức
tối thiểu cần thiết cho việc giao dịch hằng ngày, ngược lại hàng hóa sẽ được ưa
6
chuộng hơn đặc biệt là hàng hóa lâu bền. Tình trạng lạm phát phi mã vẫn còn có thể
được khắc phục.
1.1.2.3 Siêu lạm phát
Siêu lạm phát với tỷ lệ tăng giá trên 1.000%/năm
(4)
. Các cuộc siêu lạm phát điển
hình như ở Bôlivia năm 1985 với tỷ lệ 50.000%/năm, xảy ra ở Đức tháng 11-1923 với
tỷ lệ tăng giá 1 triệu lần. Như siêu lạm phát ở Zimbabwe tháng 11/2008. Giá cả ở
Zimbabwe ở thời điểm đó tăng gấp đôi sau mỗi 24 tiếng, làm sản xuất đình trệ, thị
trường chứng khoán đóng cửa v.v… đời sống người dân khó khăn.
1.2. Các nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.1. Lạm phát do cơ cấu
Lạm phát nảy sinh là do sự mất cân đối sâu sắc trong chính cơ cấu của nền kinh tế
(mất cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa sản
xuất và dịch vụ,…), chính sự mất cân đối này làmcho nền kinh tế phát triển không có
hiệu quả
(5).

1.2.2. Lạm phát tiền tệ
Khác với trường phái cơ cấu, trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát là một hiện
tượng thuần tuý tiền tệ, giá tăng lên ít nhiều là do cung tiền tệ quá mức cầu của nền
kinh tế.
1.2.3. Lạm phát cầu kéo
(6)

Lạm phát do cầu kéo là hiện tượng tăng giá diễn ra khi tổng cầu tăng lên và vượt
sản lượng tiềm năng. Trong thực tê, khi xảy ra lạm phát cầu kéo người ta thường nhận
thấy lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể, vượt quá khả
năng có giới hạn của mức cung hàng hóa.
Như vậy, lạm phát cầu kéo gắn liền với việc chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng
cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được, trong điều kiện thị trường lao động
đã đạt cân bằng.
1.2.4. Lạm phát chi phí đẩy
(7)
7
Là loại lạm phát gắn liền với hiện tượng tăng giá chung của nền kinh tế trong điều
kiện chi phí sản xuất gia tăng do các cú sốc tổng cung đưa đến, như cú sốc dầu mỏ
năm 1970. Do sự gia tăng chi phí sản xuất làm tổng cung thay đổi trong khi tổng cầu
không thay đổi dẫn tới giá tăng, sản lượng giảm và kéo theo thất nghiệp gia tăng.
1.2.5. Các nguyên nhân khác
1.2.5.1. Lạm phát do cầu thay đổi
Ví dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng
khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất
cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu
giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá.
Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
1.2.5.2. Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được
huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm
làm cho tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu
mất cân bằng.
1.5.2.3. Lạm phát do nhập khẩu
Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng.
Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
1.3. Đo lường lạm phát
Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ này được tính thông qua chỉ
số giá. Chỉ số giá là thước đo mức giá chung, chính xác hơn nó là số bình quân gia
quyền của giá nhiều loại hàng hóa và dịch vụ. Khi xây dựng chỉ số giá các nhà kinh tế
cân nhắc từng loại giá riêng lẻ theo tầm quan trọng kinh tế của mỗi hàng hóa. Những
chỉ số giá quan trọng hay được sử dụng là chỉ số giá tiêu dùng CPI, hệ số giảm
phát GDP và chỉ số giá sản xuất PPI, chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation).
1.3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index)
8
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là thước đo chi phí mà một người tiêu dùng điển hình
mua các hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân
(8).

Để xác định chỉ số giá tiêu dùng, người ta chọn ra một giỏ hàng hóa và dịch vụ tiêu
biểu cho cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình trong một giai đoạn nhất định, đồng
thời xác định mức độ tiêu dùng của cá hộ gia đình đối với từng hàng hóa và dịch vụ
trong giỏ. Trên cơ sở xác định chỉ số giá của từng hàng hóa và dịch vụ trong giỏ,
người ta tính được chỉ số giá tiêu dùng theo công thức
(9)
:
I
p
= ∑ i
pj
* d
j
Trong đó: I
p
là chỉ số giá của cả giỏ hay chỉ số giá tiêu dùng
I
pj
là chỉ số giá của hàng hóa hay dịch vụ thứ j
d
j
là tỷ trọng mức tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ thứ j
( ∑ d
j
= 1 với j = 1 đến n)
• Ưu điểm: CPI có ưu điểm là tính được lạm phát tại bất kỳ thời điểm nào trong
năm căn cứ vào rổ hàng hóa, do đó các nhà làm chính sách có thể đưa ra những giải
pháp kịp thời để điều chỉnh nền kinh tế. Cách tính này tương đối đơn giản, hạn chế sai
sót trong tính toán. Kết quả nhận được tương đối trùng khớp với tình hình nền kinh tế.
• Nhược điểm: không phản ánh được sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng, đồng
thời cũng không phản ánh được về sự thay đổi chất lượng của hàng hóa dịch vụ.
1.3.2. Chỉ số giá cả sản xuất (PPI)
• Cách tính: Đây là chỉ số giá bán buôn, được xây dựng để tính giá cả trong lần
đầu tiên do người sản xuất ấn định
(10)
. Số liệu này mô tả mức độ thay đổi giá cả trung
bình trong rổ hàng hóa cố định được mua bởi nhà sản xuất.
Cách tính chí số PPI cơ bản là giống cách tính của chỉ số CPI chỉ khác là CPI lấy
số liệu của giá bán lẻ còn PPI lấy giá cả bán buôn. Các trọng số cố định để tính toán
PPI là doanh số ròng của hàng hóa.
• Ưu điểm: Chỉ số được tính dựa trên một lượng lớn các hàng hóa bao gồm cả
giá thực phẩm, các sản phẩm chế tạo và khoáng sản và nó cũng phản ánh được giá trị
của đồng vốn dành cho trang thiết bị trong kinh doanh.
9
Do những đặc tính chi tiết đó nên nó thường được các doanh nghiệp sử dụng.
• Nhược điểm: Việc tính toán hết sức phức tạp vì bao gồm một lượng lớn các
doanh mục điều tra. Bên cạnh đó nó cũng mang những nhược điểm cố hữu của cách
tính có trọng số cố định như đã trình bày ở cách tính CPI.
1.3.3. Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP Deflator)
• Cách tính: Người ta tính chỉ số giảm phát GDP theo công thức sau:
Chỉ số giảm phát GDP = 100 x
GDP danh nghĩa
GDP thực tế
 Ưu điểm : phản ánh được sự thay thế giữ các hàng hóa, dịch vụ với nhau.
• Nhược điểm: Không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá cả nhập khẩu
cũng như sự biến động trong tỷ giá hối đoái. Nó cũng không thể hiện được sự thay
đổi của chất lượng hàng hóa khi tính toán tỷ lệ lạm phát và sự biến động giá cả trong
từng tháng vì GDP Deflator chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi có báo cáo
về GDP của năm đó.
1.3.4. Chỉ số lạm phát cơ bản (Core inflation)
Lạm phát cơ bản là thước đo lạm phát khi đã loại bỏ các nhóm hàng hóa có biến động
giá liên tục và mang tính thời vụ như giá lương thực – thực phẩm và giá năng lượng.
Lạm phát cơ bản thường được tính bằng cách lấy chỉ số CPI và loại ra những nhóm
hàng có biến động giá lớn.
Khác với chỉ số giá tiêu dùng CPI, lạm phát cơ bản là chỉ số cho thấy xu hướng lạm
phát lâu dài và không bị méo mó do các nhân tố gây ra thay đổi có tính chất nhất thời.
1.3.5. Các phương pháp đo lường khác
Ngoài các chỉ tiêu đo lường lạm phát trên, còn có một số phương pháp đo lường
lạm phát như:
- Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): là sự tăng trưởng trên lý thuyết trong giá cả sinh hoạt
của một cá nhân, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng được giả định một cách xấp xỉ.
10
- Chỉ số giá bán buôn: đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các hàng
hóa bán buôn.
- Chỉ số giá hàng hóa: đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các hàng
hóa.
- Chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCEPI)
1.4. Tác động của lạm phát tới nền kinh tế
1.4.1.Tác động tích cực
Lạm phát cũng có hai mặt nhưng thường người ta hay nghĩ tới những ảnh hưởng
tiêu cực. Lạm phát cũng có những ảnh hưởng tích cực thúc đẩy kinh tế qua sức mua
tăng làm tổng cầu tăng, thị trường sôi động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp tốt
làm tăng trưởng kinh tế, tạo thêm hàng loạt việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp
(11).
Chính
vì thế trong chính sách vĩ mô của hầu hết các quốc gia hiện nay người ta thường chấp
nhận một tỷ lệ lạm phát vừa phải để kích thích tăng trưởng kinh tế.
1.4.2. Tác động tiêu cực
Trên phương diện lý thuyết, nếu lạm phát ở mức có thể tiên đoán được thì có thể
tránh được mọi hậu quả xấu có thể xảy ra. Còn nếu lạm phát không thể tiên đoán
được thì hậu quả khó có thể lường trước được. Điều này biểu hiện ở chỗ:
- Đối với tăng trưởng kinh tế: lạm phát cao sẽ kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế.
Khi lạm phát xảy ra nó sẽ làm lệch cơ cấu giá cả, kéo theo là nguồn tài nguyên, vốn
và nguồn nhân lực không được phân bố một cách có hiệu quả, kết cục là làm cho tăng
trưởng chậm lại.
- Đối với lĩnh vực đầu tư tài chính: tính không chắc chắn của lạm phát là kẻ
thù của tăng trưởng và đầu tư dài hạn: nếu các nhà đầu tư không biết chắc chắn hoặc
không thể dự đoán được mức giá cả trong tương lai, kéo theo việc không thể biết
được lãi suất thực thì không ai trong số họ dám liều lĩnh đầu tư, nhất là đầu tư vào các
dự án dài hạn, mặc dù có thể các điều kiện đầu tư khác là khá ưu đãi và hấp dẫn.
- Đối với lĩnh vực sản xuất: đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho
giá đầu vào biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo trong quá trình sản
11
xuất. Sự mất giá đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hoạch toán kinh doanh. Hiệu
quả kinh doanh-sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo
trộn kinh tế.
- Đối với lĩnh vực lưu thông: lạm phát thúc đẩy quá trình đầu tư tích trữ, đặc
biệt là vàng và đô la Mỹ (USD), dẫn đến khan hiếm hàng hoá, khan hiếm ngoại tệ để
thanh toán nước ngoài.
- Đối với lĩnh vực tiền tệ và tín dụng: lạm phát làm cho quan hệ tín dụng,
thương mại và NHTM bị thu hẹp. Số người gởi tiền vào NHTM giảm đi rất nhiều. Về
phía NHTM do lượng tiền gởi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của
người đi vay, cộng với việc sụt giá đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền
gởi không làm an tâm những người có lượng tiền nhàn rỗi trong tay. Về phía người đi
vay, họ là những người được lợi nhất do sự mất giá đồng tiền một cách nhanh chóng.
Do vậy hoạt động của hệ thống NHTM không còn được bình thường .
- Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước: lạm phát gây ra sự biến
động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá. Khi lạm phát xảy ra những thông tin
trong xã hội bị phát huỷ do biến động giá cả làm thị trường bị rối loạn. Người ta khó
phân biệt được giữa doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời lạm phát làm giảm
các nguồn thu từ thuế cho ngân sách nhà nước.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000 - 2012
2.1. Phương pháp đo lường chỉ số CPI ở Việt Nam
Quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng là cơ cấu chi tiêu các nhóm mặt hàng trong
tổng chi tiêu của hộ gia đình được tổng hợp từ kết quả điều tra mức sống hộ gia đình
12
và dùng cố định khoảng 5 năm. Công thức Laspeyres dùng để tính chỉ số giá tiêu
dùng có dạng sau:
Trong đó:
I
p
: Chỉ số giá tiêu dùng; p
t
: Giá kỳ báo cáo;
p
0
:

Giá kỳ gốc; D
0
: Quyền số cố định kỳ gốc;
q
0
: Lượng kỳ gốc; t: Kỳ báo cáo; 0: năm gốc.
2.2. Tổng quan về lạm phát Việt Nam qua các giai đoạn
2.2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt nam giai đoạn 2000 – 2006
Biểu đồ 2.1: Lạm phát, tăng trưởng GDP và ICOR năm 2000 – 2006
13
Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hầu hết các loại lạm phát như lạm phát phi mã trong
thời kỳ 1986-1988 (463,9%/năm); lạm phát cao trong thời kỳ 1989-1992
(46,7%/năm); lạm phát thấp trong thời kỳ 1996-1999 (4,4%/năm) và 2001-2003
(4,3%/năm); thậm chí là giảm phát trong năm 2000 (-0,6%/năm). Tuy nhiên, trong hai
năm 2004 - 2005 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao 7,79% (năm 2004) và
8,5% (năm 2005) thì lạm phát của Việt Nam cũng tăng lên ở mức 9,5% (năm 2004)
và 8,4% (năm 2005), cao hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2006 tăng 6,6%, thấp hơn mức tăng 8,4% của năm 2005
và cũng là năm thứ ba liên tiếp CPI có xu hướng giảm. Trong 10 nhóm hàng của rổ
hàng CPI thì có 5 nhóm hàng có mức tăng cao hơn năm trước, gồm các nhóm đồ uống
và thuốc lá, may mặc giày dép mũ nón, thiết bị đồ dùng gia đình, văn hoá thể thao
giải trí, hàng hoá và dịch vụ khác. Năm nhóm còn lại đều có mức tăng thấp hơn so với
mức tăng của cùng kỳ năm 2005, gồm các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhà ở,
vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại-bưu điện; dược phẩm y tế; giáo dục. Trong đó
hai nhóm có mức giảm mạnh nhất là nhóm thực phẩm (-6,5%) và phương tiện đi lại-
bưu điện (-5,1%); hai nhóm này chiếm tỷ trọng trên 34% trong rổ hàng hoá CPI đây
là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến CPI năm 2006 chỉ tăng 6,6%.
2.2.2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2008.
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng lạm phát ở Việt Nam vào năm 2007 và 2008
(từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 10 năm 2008)
( Nguồn: Tổng cục Thống kê )
14
2.2.2.1. Giai đoạn lạm phát tăng nhanh
Dấu hiệu lạm phát đã xuất hiện từ tháng 6 năm 2007 khi CPI tháng 6 tăng vọt lên
1%, trái hẳn với thông lệ giá cả hơn một thập kỷ qua. Tín hiệu lạm phát tăng nhanh đã
được ghi nhận và xử lý kịp thời, tuy nhiên do không phân tích đúng nguyên nhân của
lạm phát, thêm vào đó việc triển khai thực hiện không nghiêm túc nên mặc dù tăng
trưởng kinh tế cả năm 2007 ở mức cao trên 8.5%, song lạm phát cũng ở mức kỷ lục
12.63%. Nửa đầu năm 2008, lạm phát liên tục leo thang và vượt qua mọi quy luật đã
hình thành hàng chục năm nay, buộc Việt Nam phải điều chỉnh chính sách từ ưu tiên
tăng trưởng kinh tế sang kiềm chế lạm phát.
Trong những tháng đầu năm vật giá leo thang từng tháng. Giá cả tăng liên tục đã
đẩy mức lạm phát tháng sau cao hơn tháng trước. So với tháng 12 (2007), CPI tháng 1
(2008) tăng 2.4%, sang tháng 2 tăng vọt lên 6%, tháng 3 là 9.2%. Đến tháng 4 chỉ số
CPI đã lên tới 2 con số (11.6%) và tháng 5 lại tăng đột ngột tới 16%. Bên cạnh đó tốc
độ tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm trong khi tỷ lệ đầu tư vẫn ở mức cao. GDP
nửa đầu năm chỉ tăng 6.5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức
tăng cùng kỳ một số năm gấn đây. Xuất hiện những cơn “sốt ảo” USD, vàng, gạo,
thép, vật liệu xây dựng,…Thâm hụt thương mại tăng vọt (gần 50% tổng kim ngạch
xuất khẩu). Thị trường chứng khoán thiết lập đáy mới chỉ bằng khoảng ¼ đỉnh cao
nhất là 1173 điểm, đánh mất toàn bộ điểm tích lũy được 3 năm qua. Giá vàng có thời
điểm lên đến xấp xỉ 20 triệu VND/ lượng, tỷ giá hối đoái trên thị trường đã từng vượt
mốc 19000 VND/ USD…
Nền kinh tế Việt Nam cuối tháng 5 đầu tháng 6 mấp mé bờ vực khủng hoảng với
những “bong bóng” khổng lồ chực chờ nổ tung trên thị trường tài chính tiền tệ, thị
trường tín dụng NHTM, thị trường bất động sản. Các tháng 6,7,8 chỉ số CPI đã lên
cao chóng mặt lần lượt là 18.4%, 19.8% và 21.7%.
Chỉ sau 3 quý đầu năm, CPI đã vượt mức 20%, đạt được mức kỷ lục từ 17 năm
qua. Điều đó cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ mất giá của đồng tiền: sau 3 năm (tính
đến tháng 9/ 2008) đồng tiền đã mất giá 48.5% so với kỳ gốc 2005.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét