Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác tạo động lực cho nhân viên bán hàng xăng dầu tại Xí nghiệp xăng dầu dịch vụ và cơ khí – Công ty xăng dầu khu vực I

1.1.3. Lợi ích.
“Lợi ích là sự thoả mãn nhu cầu con người trong một điều kiện cụ thể
nhất định. Hiểu theo nghĩa này thì lợi ích chính là một thứ gì đó mà người lao
động luôn cố gắng hết sức mình để tìm kiếm, chiếm được về phần mình.
Như vậy, lợi ích chính là thứ tồn tại bên trong người lao động được
thoả mãn chứ không phải thứ mà người lao động tạo ra.
1.1.4. Sự thoả mãn.
Làm thế nào để khuyến khích người lao động làm việc hăng say và
sáng tạo (4) có nhiều phương pháp cũng như hình thức để thực hiện trả lời
câu hỏi đó. Việc tạo ra sự thoả mãn cho người lao động cũng là một cách lựa
chọn hợp lý và khoa học vì sự thoả mãn của nguời lao động là môt biểu hiện
của niềm hạnh phúc khi mà họ đạt được hay hoàn thành một công việc họ
mong muốn. Do đó việc các nhà quản lý tạo điều kiện để người lao động có
được sự thoả mãn là rất cần thiết, đặc biệt là sự thoả mãn về công việc. Vì khi
họ được thoả mãn về công việc có nghĩa là tổ chức đã tạo điều kiện để người
lao động có một công việc ổn định và chất lượng, có nhiều cơ hội để thăng
tiến, công việc đem lại mức thu nhập cao…Điều này không những giúp họ
nâng cao đời sống vật chất mà cả đời sống tinh thân cũng được đảm bảo.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động.
Động lực và tạo động lực là cơ chế phức tạp chịu sự tác động của nhiều
yếu tố khác nhau (5)Do đó nhu cầu lý luận để hiêủ biết đầy đủ những yếu tố
ảnh hưởng đến động lực của người lao động có vai trò rất quan trọng đối với
mỗi tổ chức. Vì mỗi yếu tố không những tác động đến hành vi, suy nghĩ của
người lao động mà bản thân các yếu tố còn tác động qua lại với nhau cho
người lao động một tính cách, hành động theo nhiều hướng khác nhau. Do
vậy mà năng lực sản xuất của mỗi người cũng khác nhau. Để có thể hiểu biểt
và ứng dụng các chính sách tạo động lực đúng theo điều kiện thực tế của
doanh nghiệp cho người lao động. Thì doanh nghiệp cần nghiên cứu những
yếu tố ảnh hưởng đến động lực như sau:
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
5
1.2.1. Các yếu tố thuộc về môi trường
• Các yếu tố thuộc môi trường bên trong
- Văn hoá tổ chức :Đây là yếu tố được xem như là những cách thể
hiện ,những suy nghĩ mỗi cá nhân trong tổ chức đó vì văn hoá tổ chức là hệ
thống những giá trị ,những niềm tin ,những quy phạm được chia sẻ với các
thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của người lao động trong tổ
chức (6).
- Phong cách quản lý của các cấp lãnh đạo: Đây chính là tác phong
quan điểm cách thể hiện ,chia sẻ của các cấp lãnh đạo đối với người lao
động .Phong cách lãnh đạo cũng thể hiện sự quản lý các cấp sự quan tâm ,khả
năng tổ chức chuyên nghiệp ,dân chủ thì cũng tạo cho người lao động để có
động lực để lao động .Do đó hiệu quả công việc sẽ cao hơn .
- Các chính sách nhân sự :Thể hiện ở những quy chế nội quy…liên
quan tới người lao động trong tổ chức đó, cụ thể như chính sách thuyên
chuyển đề bạt ,khen thưởng kỷ luật …các chính sách này được thể hiện một
cánh khoa học, đảm bảo sự công bằng sẽ tạo cho người lao động nhiều cơ hội
để họ tự phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt công việc của họ trong tổ chức
- Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý :Thể hiện thông qua việc tổ chức đó
đã có sự phân công lao động một cách rõ ràng cụ thể về chức năng nhiệm vụ,
tiêu chuẩn thực hiện công việc,cho từng phòng ban bộ phận hay chưa ? Điều
này sẽ tác động tới hành vi người lao động .Do vậy một cơ cấu bộ máy tổ
chức hiệu quả phải là một bộ máy ở đó người lao động đều hiểu biết rõ ràng
chức năng nhiệm vụ thực hiện công việc của nó. Có như vậy họ mới tạo được
sự phấn khởi trong quá trình thực hiện công việc của mình .
• Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài là yếu tố tác động gián tiếp đến các
chính sách nhân sự của doanh nghiệp cũng như tác động mạnh đến các yếu tố
bên trong. Tất cả đều tác động đến thái độ hợp tác và hành vi lao động của
người lao động. Các yếu tố đó gồm :
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
6
-Các quy định về hệ thống phúc lợi dành cho người lao động
-Các quy định về pháp luật hiện hành
-Các quy định về nghành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt động sản
xuất kinh doanh
1.2.2. Các yếu tố thuộc bản thân người lao động
Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội phức tạp. Do đó có rất
nhiều yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động con người
Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích và lao động cũng là
một mục đích con người nhằm thoả mãn các nhu cầu của họ.Do đó tiến hành
nghiên cứu các yếu tố của con người tác động như thế nào đến động lực lao
động là rất cần thiết.
Các yếu tố thuộc bản thân người lao động chủ yếu là tác động trực tiếp
tới hành động lao động và quyết định tới động cơ ,động lực lao động của họ
các yếu tố đó bao gồm:
-Mục tiêu của người lao động ,mục tiêu của người lao động càng rõ
ràng cụ thể thì người lao động càng thể hiện nhu cầu và mong muốn của họ
đang ở mức độ cao hay thấp.
-Thái độ các quan điểm cá nhân trong công việc và trong tổ chức
-Năng lực cá nhân và nhận thức cơ bản của người lao động về công
việc mà họ đang làm.Nếu năng lực và nhận thức tốt sẽ giúp người lao động
đạt hiệu quả cao và ngược lại.
-Sự khác biệt về giới, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc sự khác
biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tổ chức lao động khoa học của tổ
chức đó đồng thời năng lực làm việc của mỗi cá nhân không giống nhau
-Những đặc điểm liên quan tính cách của người lao động
Tính cách là sự kết hợp các thuộc tính cơ bản và bền vững của con
người phản ánh lối sống tác động qua lại giữa các cá nhân với điều kiện sống
và giáo dục ,biểu hiện thái độ đặc trưng cá nhân với hiện thực khách quan
Ở cách cư sử trong các hành vi xã hội của cá nhân đó (7)
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
7
Như vậy mỗi người lao động khi làm việc đều thể hiện được những nét
riêng của mình đó là một dạng biểu hiện của tính cách. Tính cách luôn bền
vững do đó để tạo được động lực cho người lao động trong quá trình thực
hiện công việc nhà quản lý cần phải tác động thường xuyên liên tục đến người
lao động thông qua nhiều hình thức phương pháp khác sao cho họ phát huy
được hết năng lực của cá nhân.
Tóm lại hoạt động lao động có hiệu quả hay không phụ thuôc vào rất
nhiều yếu tố,điều quan trọng là các nhà quản lý cần phải biết cách kết hợp hài
hoà và tuỳ từng điều kiện cụ thể tác động một cách tổng hoà các biện pháp
kích thích đối với người lao động để họ hoàn thành công việc một cách có
hiệu quả nhất .
1.3. Các học thuyết tạo động lực trong lao động
Học thuyết tạo động lực trong lao động là công trình nghiên cứu ,tìm
hiểu để tìm ra những biện pháp tốt nhất để các nhà quản lý vận dụng vào
trong công việc để đạt hiệu quả cao.Có rất nhiều học thuyết tạo động lực
trong lao động tuy nhiên những học thuyết thường được áp dụng nhất bao
gồm :
1.3.1. Học thuyết nhu cầu Maslow
Trên thực tế học thuyết tạo động lực được biết nhiều nhất là học thuyết
thứ bậc nhu cầu .
Maslow cho rằng mỗi con người đều tồn tại rất nhiều nhu cầu, theo ông
nhu cầu chủ yếu nhất là các nhu cầu sau:(9)
-Nhu cầu sinh lý : Bao gồm ăn ,mặc, ở ,đi lại
-Nhu cầu về an toàn :Bao gồm an ninh ,bảo vệ khỏi nguy hại về thể
chất và tình cảm.
-Nhu cầu xã hội bao gồm tình thương ,cảm giác trực thuộc được chấp
nhận và tình bạn
-Nhu cầu tự hoàn thiện :Động cơ trở thành những gì mà ta có khả năng
bao gồm sự tiến bộ và tự tiến hành công việc.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
8
- Nhu cầu danh dự : Bao gồm các yếu tố bên trong như tự trọng ,tự chủ
và thành tựu các yếu tố bên ngoài như địa vị ,được công nhận được chú ý theo
đó học thuyết nói lên rằng các nhu cầu được xắp xếp thành một hệ thống có
bậc từ thấp đến cao.
Tự hoàn thiện
Danh dự
Xã hội
An toàn
Sinh lý
(Trích từ nguồn Giáo trình hành vi tổ chức :Trang 99)
Hoạt động của con người là có mục đích mà con người hướng tới là
thoả mãn nhu cầu .Theo Maslow khi mà nhu cầu ngày càng được thoả mãn thì
nhu cầu mới khác ở cấp cao hơn sẽ xuất hiện và lại mong muốn lại xuất hiện
cứ thế tiếp tục và khi nào con người tự hoàn thiên mình mới thôi .Như vậy
muốn tạo động lực cho người lao động thì các nhà quản lý phải :
-Tìm hiểu kỹ các nhu cầu của người lao động xem nhu cầu của họ là gì
trong các nhu cầu trên
-Tìm cách tạo điều kiện thuận lợi ,kích thích bằng nhiều phương pháp
khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ
phát huy hết khả năng của họ.
1.3.2. Học thuyết kỳ vọng Vroom
Victor Vroom cho rằng một hành động nào đó của con người tốt hay
xấu phụ thuộc rất nhiều vào họ kỳ vọng nào đó những phần thưởng hấp dẫn
đang chờ họ ở phía trước tức là ông nhấn mạnh quan hệ nhận thức con người
mong đợi cái gì (11)
Nội dung chủ yếu cuả học thuyết này tập trung chủ yếu ở những khái
niệm sau:
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
9
- Tính hấp dẫn: chính là thể hiện sự quan trọng, niểm tin vào kết quả
hay phần thưởng đang chờ họ nếu họ đạt được những yêu cầu, mong muốn
của tổ chức.
- Mối liên hệ giữa kết quả và phần thưởng tương xứng, thể hiện sự kỳ
vọng về kết quả đạt được và phần thưởng và những kỳ vọng đó.
- Mối quan hệ giữa sự nỗ lực và kết quả. Đó là mối liên hệ giữa sự nỗ
lực , phấn đấu và kết quả đạt được của người lao động.
Tóm lại học thuyết này không những là sự giải thích rõ ràng với những
căn cứ khoa học về mối liên hệ giữa sự nỗ lực kết quả, phần thưởng của mỗi
cá nhân mà còn giúp các nhà quản lý có thêm cơ sở và thực hiện các biện
pháp để làm tốt công tác tạo động lực hơn như: lấy thành tích, phần thưởng
hấp dẫn, kết quả…làm cơ sở, làm căn cứ để kích thích người lao động theo
những hướng sau:
Thứ nhất, nhà quản lý cần làm tốt công tác phân bố, quy trình trả
lương, trả công hoặc các hoạt động liên quan đến thù lao lao động khác.
Thứ hai, các nhà quản lý cần phải làm cho người lao động về cuộc sống
tương lai của họ đặc biệt là công việc họ đang làm.
1.3.3. Học thuyết hai yếu tố của Herz Berg
F Herz berg đã xem xét kỹ câu hỏi mọi người muốn gì từ công việc(11)
từ đó ông đưa ra kết luận bao gồm hai hệ thống yếu tố có ảnh hưởng quyết
định nhất đến thái độ và sự thoả mãn trong công việc của người lao động.
Nhóm yếu tố thứ nhất là nhóm yếu tố then chốt để tạo ra động lực và
sự thoả mãn trong công việc như : sự thành đạt, các cơ hội thăng tiến, trách
nhiệm, sự thừa nhận thành tích, bản chất bên trong của công việc…Đây là
nhân tố thuộc về công việc nó thể hiện những nhu cầu mong muốn của người
lao động. Khi các nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp người lao động giảm
căng thẳng, kích thích tinh thần và sự sáng tạo trong lao động. Do đó sẽ tạo ra
năng suất và hiệu quả lao động cao.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
10
Nhóm yếu tố thứ hai là nhóm yếu tố thuộc về môi trường tổ chức gồm:
các chính sách nhân sự trong tổ chức đó, sự giám sát trong công việc, các chế
độ,quy chế tiền lương, tiền thưởng, các quan hệ lao động, điều kiện làm việc.
Những yếu tố này được tổ chức quan tâm và làm tốt thì không những tạo ra
một môi trường làm việc an toàn, bầu không khí tập thể vui vẻ mà còn tạo ra
cho người lao động có thêm thu nhập và các cơ hội khác. Nó sẽ có tác dụng
tích cực đến việc ngăn ngừa sự không thoả mãn của người lao động. Khi đó
sự bất mãn trong công việc sẽ không tồn tại nữa mà thay vào đó là sự thoả
mãn đã được đáp ứng
Tóm lại, học thuyết này chỉ ra có rất nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng
đến thái độ cũng như hành vi lao động của họ theo hướng tích cực hiệu quả
hay ngược lại. Do đó các nhà quản lý muốn tạo ra động lực cho người lao
động thì cần phải kết hợp việc tạo điều kiện môi trường làm việc thuận lợi và
việc ghi nhận các thành tích của người lao động trong suốt quá trình làm việc
của họ.
1.4. Phương hướng tạo động lực trong lao động
1.4.1. Xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc cho
từng cá nhân và tổ chức
Để tạo động lực trong lao động đạt hiệu quả cao thì việc xác định rõ
ràng nhiệm vụ mục tiêu cho từng cá nhân và tổ chức là rất quan trọng vì.
Mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức là những hoạt động mà tổ chức đang
hướng tới để làm được. Do đó tổ chức phải làm thế nào để mọi thành viên đều
hiểu được mục tiêu nhiệm vụ họ phải là, phải nỗ lực hướng tới. Đặc biệt tổ
chức phải chỉ rõ cho người lao động nếu đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của tổ
chức cũng chính là đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của cá nhân họ.
Tổ chức phải tăng cường khuyến khích người lao động tham gia đóng
góp ý kiến xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức trong thời gian tới cũng
như của mỗi cá nhân, tổ chức phải thường xuyên tuyên truyền hướng dẫn để
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
11
người lao động hiểu hết những mục tiêu nhiệm vụ mà người lao động phải
làm có như vậy mới thực hiện tốt.
Tổ chức phải tạo ra sự kỳ vọng, niềm tin khi họ đạt được mục tiêu,
nhiệm vụ của tổ chức đã đề ra.
Thông qua các hoạt động phân tích công việc, đánh giá thực hiện công
việc, tổ chức sẽ đề ra những yêu cầu, tiêu chuẩn thực hiện công việc hợp lý.
Đánh giá đảm bảo sự công bằng khách quan, dân chủ.
1.4.2. Tạo mọi điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi
- Tổ chức cần dựa trên những tính toán khoa học và hợp lý để tạo điều
kiện làm việc thoáng mát và phù hợp với tâm sinh lý người lao động.
- Tổ chức cần cung cấp đầy đủ và kịp thời những điều kiện cho quá
trình sản xuất được diễn ra theo đúng kế hoạch, đảm bảo tính an toàn mà vẫn
tăng năng suất lao động
- Hoạt động liên quan đến thiết kế và thiết kế lại công việc cần phải
được tổ chức quan tâm một cách chu đáo vì hoạt động này không những tạo
ra cảm giác hứng thú cho người lao động trong quá trình làm việc mà còn
giúp tổ chức lấy nó làm cơ sở để tiến hành các hoạt động khác như: Trả công
lao động, trả lương, hoạt động kế hoạch hoá nguồn nhân lực.
- Các hoạt động liên quan khác như tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí lao
động….cần phải phù hợp giữa khả năng lao động của mỗi cá nhân với từng
công việc cụ thể.
Tóm lại, điều kiện làm việc và môi trường làm việc là hai yếu tố vừa
giúp người lao động và tổ chức có được an toàn trong lao động lại vừa có tác
dụng giúp họ nâng cao năng lực lao động. Do đó việc tạo môi trường và điều
kiện làm việc thuận lợi là hoạt động không thể thiếu được khi các tổ chức
muốn tạo động lực cho nhân viên của họ.
1.4.3. Kích thích vật chất
Kích thích vật chất được coi là một đòn bẩy về kinh tế có tác dụng rất
mạnh mẽ đến người lao động làm cho họ làm việc với cường độ cao hơn, tinh
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
12
thần phấn chấn, tin tưởng hơn,….Đây cũng là một phương pháp được các
doanh nghiệp áp dụng khá phổ biến khi tiến hành công tác tạo động lực trong
lao động. Kích thích vật chất thường bao gồm các hình thức như sau:
1.4.3.1Kích thích tiền lương, tiền thưởng
“Tiên lương là khoản thu nhập chính mà người sử dụng lao động trả
cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc (hay một khối lượng
công việc ) đã được giao”(13).
Tiền thưởng là một khoản thu nhập của người lao động ngoài lương.
Tuy nhiên tiền lương, tiền công là một đòn bẩy kinh tế khá hiệu quả nhưng
cũng là một vấn đề khá nhạy cảm. Do đó, khi thực hiện chế độ này thì điều
quan trọng là các nhà quản lý phải chú đến các nội dung sau.
- Đảm bảo nguyên tắc trong khi trả lương như: trả lương ngang nhau
cho những công việc như nhau, tiền lương phải đảm bảo cho người lao động
tái sản xuất sức lao động mở rộng, các khoản bù giá nếu thị trường có nhiều
biến đổi nhất là trong giai đoạn hiện nay.
- Tiền lương phải đúng theo quy định của nhà nước và pháp luật. Đảm
bảo phải công bằng, trả đúng, trả đủ.
- Các hình thức trả lương mà tổ chức áp dụng phải được quy định rõ
ràng, quy chế cụ thể, dễ hiểu.
- Tiền thưởng trả cho người lao động cũng cần phải đảm bảo tính công
bằng, các quyết định thưởng kịp thời đúng lúc, công khai.
1.4.3.2. Các chế độ phúc lợi:
Ngoài việc tổ chức thực hiện các chế độ phúc lợi bắt buộc như bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động theo đúng quy định của Nhà
nước và pháp luật thì các tổ chức nên tuỳ theo điều kiện tài chính và tình hình
thực tế tại doanh nghiệp của mình mà mở rộng thêm hệ thống phúc lợi tự
nguyện khác như: tham quan, nghỉ mát, ăn ca, khi người lao động ốm đau, lập
gia đình… Tuy nhiên, cần lưu ý là các khoản phúc lợi được thực hiện trên quy
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
13
định rõ ràng, cụ thể và công khai để tránh việc người lao động hiểu sai gây
bất bình, xung đột, tạo ra bầu không khí tập thể không được tốt.
1.4.4. Kích thích tinh thần:
Kích thích về mặt tinh thần sẽ đem lại cho người lao động có thái độ
làm việc hăng say hay thờ ơ… Do đó để làm tốt công tác này thì tổ chức cần
làm tốt theo hướng sau:
- Tổ chức cần cam kết tạo việc làm chất lượng và ổn định cho người
lao động. Vì có như vậy họ mới yên tâm làm việc và tổ chức cũng giữ gìn
được lao động giỏi ở lại tổ chức làm việc.
- Các quyết định liên quan đến thăng tiến đề bạt hay khen thưởng, kỷ
luật phải làm rõ ràng, cụ thể đảm bảo công bằng, công khai cho tất cả mọi
người.
- Tổ chức nên quan tâm và cung cấp nhiều cơ hội để người lao động
được học tập, đào tạo, nâng cao trình độ, khả năng thực hiện công việc từ đó
nâng cao thu nhập.
- Cùng với người lao động xây dựng văn hoá doanh nghiệp lành mạnh,
tất cả phấn đấu vì mục tiêu chung của tổ chức và cuộc sống của mỗi người lao
động.
- Thúc đẩy các phong trào thi đua phong trào thi đua khen thưởng như:
tặng bằng khen, thi đua sản xuất kinh doanh sản phẩm đẹp, người bán hàng
mẫu mực, người quản lý chân chính… nhằm tạo cho bầu không khí tập thể
thật thoải mái, người lao động được chia sẻ và đối xử công bằng.
1.5. Tác động của hoạt động tạo động lực đến kết quả sản xuất kinh
doanh:
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu đánh giá năng lực sản
xuất của mỗi một tổ chức. Tuy nhiên, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
và công tác tạo động lực trong lao động có mối quan hệ qua lại với nhau vì
khi người lao động có động lực họ làm việc hiệu quả hơn do đó tăng năng
suất lao động dẫn đến tăng kết quả kinh doanh.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đình Trung
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét