Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Nâng cao hiệu quả sử dụng Tài Sản Lao Động tại Công ty vận tải biển Vinalines

Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
với hình thức kinh doanh cá thể. Và loại hình doanh nghiệp này phải nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp. Nếu một trong các thành viên chính thức bị chết hoặc rút vốn thì doanh
nghiệp bị tan vỡ.
- Công tychính là hình thức phát triển nhất và là xu hướng chiếm ưu thế. Đây là loại
hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: lợi ích của chủ sở hữu, hội
đồng quản trị và các nhà quản lý. Ở đó có sự tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý.
Điều này mang lại cho công ty các ưu thế như: Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho
cổ đông mới, sự tồn tại công ty không phụ thuộc vào tuổi thọ của bất cứ một ai mà phụ
thuộc vào số lượng cổ đông, và trách nhiệm của công ty là hữu hạn.
Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với
quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt
động dưới hình thức công ty, đây cũng chính là loại hình phát triển nhất của doanh
nghiệp.
• Môi trường hoạt động của doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế thị trường đều phải hoạt động trong
một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Muốn đứng vững và phát triển được bản thân mỗi
DN phải thích ứng với tất cả những nhân tố bên ngoài, có thể kể đến đó là khoa học công
nghệ, chính sách của Nhà nước… Các nhân tố đó tác động trực tiếp đến các doanh
nghiệp. Khoa học công nghệ là đòn bẩy giúp nền kinh tế phát triển bởi nó làm thay đổi
phương thức sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động. Vậy các DN phải làm sao áp
dụng công nghệ một cách kịp thời để không bị lạc hậu so với các DN khác. Hay chính
sách của Nhà nước tác động mạnh mẽ tới hoạt động của DN bởi vì một chính sách nới
lỏng hay thắt chặt sẽ có thể khuyến khích hoặc hạn chế doanh nghiệp trong việc sản
xuất, kinh doanh một loại hàng hóa nào đó. Từ đó tác động tới doanh thu và lợi nhuận
của doanh nghiệp. Mặt khác phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh nên buộc mỗi
doanh nghiệp phải dự tính được rủi ro, đồng thời phải có biện pháp nâng cao chất lượng,
mẫu mã… để có thể chiến thắng các đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng đồng thời
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
5
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn.
Tóm lại doanh nghiệp trong thời kì hiện nay luôn phải cạnh tranh nhau một cách khốc
liệt để đứng vững và quan trọng hơn đó chính là việc dự đoán được các rủi ro tài chính
có thể xảy ra để có những quyết định quản lý phù hợp.
1.1.2. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có phải có hai
khoản mục là tài sản và nguồn vốn. Khoản mục tài sản nằm bên phải trái bảng cân đối kế
toán. Vậy tài sản được hiểu như thế nào?
• Khái niệm tài sản: Tài sản là khoản mục nằm bên trái bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp chính là các bộ phận được hình thành
trong quá trình đầu tư.
Tài sản là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thị cho những lợi ích mà đơn vị
thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
đơn vị. Nói cách khác, tài sản là tất cả những thứ hữu hình hoặc vô hình gắn với lợi ích
trong tương lai của đơn vị thoả mãn các điều kiện:
- Thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của đơn vị
- Có giá trị thực sự đối với đơn vị
- Có giá phí xác định
Một trong những nội dung chính của hoạt động tài chính doanh nghiệp đó là đầu tư
vào đâu, hay doanh nghiệp sẽ mua sắm tài sản như thế nào cho phù hợp.
Việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
doanh nghiệp, nó quyết định đến hoạt động kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp
nào. Việc hình thành các tài sản của doanh nghiệp là từ quá trình đầu tư của doanh
nghiệp. Muốn đầu tư vào các tài sản doanh nghiệp phải có vốn, có nghĩa là phải có tiền
để đầu tư. Đến đây bài toán lại quay về tìm các cách thức huy động vốn. Doanh nghiệp
thu hút được vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau và tùy theo tình hình cụ thể của từng
doanh nghiệp mà lựa chọn cách thức huy động vốn phù hợp.
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
6
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
1.1.3. Phân loại tài sản:
Tàisản có thể được phân chia thành nhiều nhóm theo từng tiêu thức khác nhau.Có
thể phân loại theo đặc tính cấu tạo vật chất hoặc phân loại theo tính chất luân chuyển tài
sản. Trong phạm vi của đề tài xin tập trung vào cách phân loại thứ hai đó là phân theo
tính chất luân chuyển của tài sản.
Phân loại theo tính chất luân chuyển tài sản được phân thành: tài sản lưu động và
tài sản cố định.
Trong phần này chỉ xin tập trung trình bày những nét cơ bản vào tài sản cố định,
phần tài sản lưu động sẽ được nói ở phần sau.
1.1.3.1. Khái niệm về tài sản cố định
TSCĐ là những tài sản thoả mãn đồng thời hai điều kiện: có thời gian sử dụng từ
một năm trở lên, và có giá trị từ mười triệu đồng trở lên.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu và có đặc điểm cơ bản là tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, không có sự thay đổi về hình thái vật chất từ chu kỳ sản
xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất. Mọi tư liệu lao động là tài
sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết
với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một
bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được.
Qua khái niệm về tài sản cố định ta thấy những tư liệu lao động được coi là tài sản
cố định khi đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn sau:
 Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
 Tiêu chuẩn về giá trị: Những tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên
Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay, khi khoa học đã trở thành một
lực lượng sản xuất trực tiếp thì khái niệm về tài sản cố định cũng được mở rộng nó bao
gồm cả những tài sản cố định không có hình thái vật chất. Loại này là những chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra cũng đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn nêu trên và thường bao gồm:
chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về bằng phát minh sáng chế…
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
7
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Tài sản cố định là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của bất kỳ một
doanh nghiệp. Dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
thương mại dịch vụ, tài sản đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp nhất
là khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển hiện nay. Các doanh nghiệp ra sức hiện
đại hoá tài sản cố định nhằm nâng cao năng lực sản xuất của mình. Tuy nhiên tỷ trọng
của tài sản cố định trong tổng tài sản ở từng doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác
nhau do đặc điểm ngành nghề kinh doanh chẳng hạn như: đối với các doanh nghiệp sản
xuất tài sản cố định chiếm chủ yếu trong tổng tài sản. Còn đối với các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, tài sản cố định chiếm một phần không lớn vì
hoạt động của họ chủ yếu là sử dụng tài sản lưu động, tuy nhiên vai trò của tài sản cố
định cũng hết sức quan trọng nó cũng góp phần lớn vào việc tạo ra lợi nhuận cho doanh
nghiệp, một doanh nghiệp không thể hoạt động bình thường nếu như không có tài sản
lưu động.
1.1.3.2. Phân loại tài sản cố định
Để quản lý tốt tài sản cố định trong doanh nghiệp, tài sản cố định thông thường
được phân thành các loại sau:
 Tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh kiếm lời, bao gồm: tài sản
cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định vô hình là loại tài
sản cố định không có hình thái vật chất. Tài sản cố định hữu hình là loại tài sản
cố định có hình thái vật chất cụ thể bao gồm: nhà cửa vật kiến trúc, máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải thiết bị truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quản lý, vườn
cây lâu năm, súc vật làm việc, và các loại tài sản cố định khác…
 Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng
 Phân loại tài sản cố định: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố đinh vô hình,
tài sản cố định thuê tài chính.
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
8
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Ngoài hai loại tài sản cố định nêu trên, trong các doanh nghiệp nhà nước còn có thể
có loại tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước theo quyết định của các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đối với tài sản cố định điều quan trọng nhất các doanh nghiệp cần quan tâm đó
chính là quản lý khấu hao bởi vì trong quá trình sử dụng loại tài sản này bị giảm dần về
mặt giá trị. Hao mòn được chia thành hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Ngày nay
do khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng nên hao mòn vô hình xảy ra càng nhanh
biểu hiện đó là tình trạng giảm giá tài sản và lỗi thời về mặt công nghệ. Quản lý tốt khấu
hao là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
1.2. Tài sản lưu động
Bộ phận thứ hai của tài sản đó chính là khoản mục tài sản lưu động. Quản lý tài sản
lưu động là một trong ba vấn đề trọng tâm của quản lý tài chính doanh nghiệp. Qua đó
cho thấy tầm quan trọng của tài sản lưu động trong một doanh nghiệp. Vậy tài sản lưu
động được hiểu là gì?
1.2.1. Khái niệm tài sản lưu động(TSLĐ)
TSLĐlà tất cả những tài sản ngắn hạn, và thường xuyên luân chuyển trong quá
trình kinh doanh. Tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh,
thay đổi hình thái vật chất và chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm được sản xuất.
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến
hành bình thườngđều phải cần có tài sản lưu động. Trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tài sản lưu động được phân bổ. Việc dự tính lượng tài sản lưu
động hay nói cách khác quá trình quản lý và sử dụng tài sản lưu động là một việc hết sức
quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Đối với bất kì một doanh nghiệp nào
tài sản lưu động được xem là lượng tiền ứng trước nhằm thỏa mãn nhu cầu về các đối
tượng lao động. Do tài sản lưu động tồn tại ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh nên nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động đó diễn ra một cách liên tục. Nếu sử dụng
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
9
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
một cách hợp lý tài sản lưu động thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
bị gián đoạn, làm tăng chi phí và làm quá trình sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng xấu.
Nhu cầu về tài sản lưu động của doanh nghiệp khác nhau là khác nhau. Cơ cấu tài
sản lưu động trong tổng tài sản phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ví dụ như đối với
doanh nghiệp thương mại TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn hơn so với TSCĐ nhưng trong một
doanh nghiệp sản xuất thì điều này lại ngược lại. Cơ cấu về tài sản lưu động còn cho biết
tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, về khả năng thanh toán và các rủi ro tài
chính của doanh nghiệp.
1.2.2. Phân loại TSLĐ
Tài sản lưu động được phân loại theo nhiều cách theo các tiêu thức khác nhau:
1.2.2.1. Phân loại theo lĩnh vực tham gia luân chuyển
TSLĐ được phân thành: TSLĐ sản xuất, TSLĐ lưu thông, TSLĐ tài chính, TSLĐ
dự trữ
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất
(nguyên, nhiên vật liệu công cụ dụng cụ…đang dự trữ trong kho) và tài sản trong sản
xuất (giá trị sản phẩm dở dang).
Tài sản lưu động lưu thông bao gồm tài sản dự trữ cho quá trình lưu thông (thành
phẩm, hàng hoá dự trữ trong kho, hàng gửi bán), tài sản trong quá trình lưu thông (vốn
bằng tiền, các khoản phải thu).
Tài sản lưu động tài chính: là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với mục đích
kiếm lời (đầu tư liên doanh, đầu tư chứng khoán…).
Tài sản lưu động dự trữ: là những tài sản tồn tại trong quá trình dự trữ còn lại.
1.2.2.2. Phân loại theo mức độ thanh khoản
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
10
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Theo cách phân loại này, người ta dựa vào khả năng huy động cho việc thanh toán
(Đây cũng chính là các khoản mục TSLĐ trong bảng cân đối kế toán) để chia tài sản lưu
động thành các loại sau:
Thứ nhất: Ngân quỹ
 Ngân quỹbao gồm tiền mặt tại két của doanh nghiệp, tiền gửi ngân hàng, tiền
đang chuyển. Đây là khoản mục có tính thanh khoản cao nhất trong bảng cân đối
kế toán.
Không một doanh nghiệp nào có thể hoạt động mà thiếu tiền mặt. Tiền được sử
dụng để thanh trả lương, mua nguyên vật liệu, mua sắm tài sản cố định, trả tiền thuế, trả
nợ…Tiền mặt là một khoản không sinh lãi cho doanh nghiệp, tiền mặt dư thừa làm giảm
hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu và sẽ làm giảm giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Vì
vậy quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng
nhất. Các doanh nghiệp phải nắm giữ tiền mặt vì các lý do sau:
Thứ nhất: Duy trì số dư tiền mặt doanh nghiệp mới đảm bảo khả năng giao dịch
hàng ngày của doanh nghiệp bao gồm thanh toán cho khách hàng, và thu tiền từ khách
hàng.
Thứ hai: Nó bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho
doanh nghiệp. Hay đó chính là khoản tiền trả cho khoản phí, lãi vay… Số dư tiền mặt
loại này gọi là số dư bù đắp
Thứ ba: Duy trì số dư tiền mặt nhằm mục đích đầu tư ngắn hạn. Đó là những khi cơ
hội đầu tư kiếm lời đến nếu có đủ lượng tiền sẽ đem đến doanh nghiệp những khoản lợi
lớn.
Thứ tư: Việc nắm giữ tiền mặt đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến
động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra. Loại tiền này tạo nên số dư
dự phòng.
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
11
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Thứ năm: Doanh nghiệp có thể được hưởng lợi thế trong việc thương lượng khi
mua hàng khi có một lượng tiền mặt đủ lớn trong doanh nghiệp. Loại tiền này tạo nên số
dư đầu cơ.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việc giữ tiền mặt trong doanh
nghiệp có lợi thế sau: Do có đủ lượng tiền mặt thanh toán tiền trước hoặc thanh toán
đúng hạn nên khi doanh nghiệp mua hàng hoá dịch vụ có thể được hưởng lợi thế chiết
khấu.Việc nắm giữ tiền mặt ở mức hợp lý làm cho khả năng thanh toán ngắn hạn được
duy trì tốt giúp có thể mua hàng với những điều kiện thuận lợi và được hưởng mức tín
dụng rộng rãi. Thêm vào đó khi có đủ lượng tiền mặt cũng giúp doanh nghiệp có thể ứng
phó kịp thời với các nhu cầu trong chiến dịch Marketting của đối thủ cạnh tranh cũng
như với những trường hợp khẩn cấp như: hỏa hoạn, đình công, hay vượt qua khó khăn
do các yếu tố thiên nhiên; thời vụ; hay chu kỳ kinh doanh
 Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt liên quan chặt chẽ tới việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền
mặt như các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao.
Các loại chứng khoán gần như tiền mặt có vai trò như là bước đệm của tiền mặt,
khi lượng tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào các chứng khoán thanh khoản,
khi cần có thể chuyển chúng thành tiền mặt mà ít tốn kém chi phí. Các nhà quản trị tài
chính sử dụng những chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì lượng tiền
mặt mong muốn. Ta có thể thấy được điều này qua sơ đồ luân chuyển sau:
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
12
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Doanh nghiệp sẽ phải bán các chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao nếu
lượng tiền mặt dự trữ không đủ đáp ứng nhu cầu. Ở đây chúng ta cũng áp dụng mô hình
quản lý dự trữ EOQ để xác định lượng dự trữ tiền mặt tối ưu. Trong đó chi phí cho việc
lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bị mất đi. Chi
phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán chứng khoán. Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu
theo mô hình EOQ là:
M
*
=
i
CM
bn
2
M
*
: tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
C
b
: chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i: lãi suất
Khi lãi suất tiền gửi cao thì xu hướng là giữ ít tiền mặt hơn và ngược lại, nếu chi
phí cho việc bán chứng khoán càng cao thì họ lại càng giữ nhiều tiền mặt.
Trong thực tế, dòng tiền ra và dòng tiền vào của doanh nghiệp hầu như không dự
kiến trước được do đó việc tính toán mức dự trữ là không thể chính xác và tiến hành một
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
Đầu tư tạm thời bằng
cách mua chứng
khoán có tính thanh
khoản cao
Các chứng khoán thanh
khoản cao
Dòng thu
tiền mặt
Bán những chứng
khoán thanh khoản
cao để bổ sung cho
tiền mặt
Dòng chi
tiền mặt
Tiền mặt
13
Chuyên đề tốtnghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
cách đều đặn. Từ đây người ta đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một
khoảng, tức là mức dự trữ tiền mặt sẽ dao động từ cận thấp nhất đến cận cao nhất.
Khoảng dao động tiền mặt được xác định như sau:
d =
3
3/1
bb
V C
4
3






×
×
i
Trong đó:
d : Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ.
C
b
: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán.
V
b
: Phương sai của thu chi ngân quỹ.
i : Lãi suất.
Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:
Thứ hai: Các khoản phải thu
Các khoản phải thu hay còn gọi là các khoản tín dụng thương mại. Khoản phải thu
xuất hiện khi doanh nghiệp bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ trả tiền sau, chưa nhận được
tiền ngay khi bán hàng. Khoản phải thu bao gồm các khoản phải thu khách hàng, trả
trước cho người bán, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản
phải thu khác.
Để giành lợi thế trong kinh doanh các doanh nghiệp có thể có các chiến lược khác
nhau như: quảng cáo, tập trung vào chất lượng sản phẩm…Trong nền kinh tế cạnh tranh
gay gắt thì việc phát triển mạng lưới khách hàng giúp cho doanh nghiệp đứng vững trên
thị trường. Do vậy khi tiến hành sản xuất doanh nghiệp cần phải có các mối quan hệ
rộng rãi nhằm tiêu thụ được sản phẩm vì vậy việc mua bán chịu cho các khách hàng tin
cậy là không thể thiếu. Việc bán chịu tạo ra các lợi thế như sau:
Sinh viên: Đỗ Thị Thu TrangKhoa: Ngân hàng – Tài chính
14
=
Khoảng dao động tiền mặtMức tiền mặt
theo thiết kế
Mức tiền mặt
giới hạn dưới
+
3
=
Khoảng dao động tiền mặtMức tiền mặt
theo thiết kế
Mức tiền mặt
giới hạn dưới
+
3

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét