Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
4. Sự khác biệt giữa Six- Sigma với các phương pháp khác
Six Sigma là một mức đo sự hài lòng của khách hàng đến gần mức hoàn
hảo. Đa số các công ty ở mức 2 hoặc 3 Sigma, có nghĩa là khoảng từ 66.807 đến
308.538 trong 1 triệu khách hàng cảm thấy không hài lòng. Những công ty đạt
mức 2 hoặc 3 Sigma như vậy đang gặp vấn đề trong hoạt động. Họ không kiếm
được nhiều lợi nhuận như khả năng của họ có thể. Cổ đông cảm thấy bực mình
và họ sẽ đầu tư ở nơi khác. Những người quản lý vì vậy muốn tăng lợi nhuận
lên. Tuy nhiên họ thường chỉ tính đến lợi ích trước mắt và bắt đầu sa thải bớt
nhân viên. Trong một thời gian ngắn, tình hình có vẻ khá hơn nhưng cần phải
nhấn mạnh rằng việc này chỉ có hiệu quả trong một thời gian ngắn. Với ít người
hơn trong công ty, sẽ có nhiều việc hơn cho các nhân viên. Một điều mà những
người quản lý bỏ quên trong việc giảm bớt quy mô của công ty của mình là nếu
họ vẫn tiếp tục hoạt động không hiệu quả và tốn kém nhiều thì mọi việc chỉ trở
nên xấu hơn. Cuối cùng, những hoạt động được thực hiện phục vụ cho mục đích
ngắn hạn sẽ để lại hậu quả dài hạn sau này.
Trong nhiều công ty, các nhà quản lý cho rằng việc giảm bớt số nhân viên
trong công ty là một giải pháp để tăng lợi nhuận. Vào những năm 1980 đã có
những sáng kiến mới để thay đổi cách giải quyết này. Tuy nhiên, những phương
pháp này không được áp dụng một cách đúng đắn. Những nhà quản lý sử dụng
các phương pháp này cũng giống như việc giảm số nhân viên. Kết quả là những
nhân viên còn lại trong công ty cảm thấy công việc của họ nặng thêm trong khi
không có sự thay đổi nào trong công tác quản lý. Để một công ty hoạt động thật
sự có hiệu quả và ít tốn kém thì cần phải có một sáng kiến tập trung vào việc
thay đổi cách thức quản lý của những người điều hành.
Six Sigma được bắt đầu vào giữa những năm 1980. Đây là một sáng kiến
mà việc quản lý đóng một vai trò quan trọng trong khi thực hiện. Được khởi đầu
tại Motorola và sau đó được công ty AlliedSignal, General Electric áp dụng, Six
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sigma có nhiều điểm khác biệt so với các phương pháp giúp nâng cao chất
lượng trước đó.
II. Các phương pháp thực hiện 6-sigma
1. DMAIC
1.1. Lập kế hoạch
Trong chương này ta sẽ nghiên cứu về những bước cần làm để một công
việc đạt được mức Six Sigma. Đầu tiên, ta mô tả những việc ban quản lý cần
làm.
Một vấn đề mà các phương pháp quản lý trước đó gặp phải là các nhân viên
nhanh chóng nhận thấy rằng các hoạt động chất lượng không làm gì khác ngoài
việc bắt họ làm việc nặng nhọc hơn. Họ thấy rằng họ phải thay đổi cách làm
việc, tham gia những nhóm, học những khái niệm mới nhưng họ không thấy có
thay đổi gì trong công tác quản lý. Khi một chuyên gia phân tích nguyên nhân
thất bại của một phương pháp thì một trong nhữnh nguyên nhân đầu tiên là việc
thiếu sự hỗ trợ của ban quản lý.
Six Sigma khác những phương pháp đó vì công việc làm đầu tiên là bắt đầu
với công tác quản lý. Trong một công ty, có những người sẽ chịu trách nhiệm về
một lĩnh vực cụ thể nào đó, ví dụ như phòng tài chính, phòng nhân sự, phòng
tiếp thị,…Những phòng này đều có một mục đích chung là làm công ty phát
triển. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó thì mỗi phòng sẽ có những yêu cầu
của mình. Những yêu cầu đó là điều dễ hiểu nhưng đôi khi chúng lại gây xung
đột với nhau. Những công ty đạt đẳng cấp quốc tế có 3 vấn đề lớn để tập trung là
: tập trung vào khách hàng, tập trung vào qui trình, và tập trung vào nhân viên.
Để tạo ra một chiến lược Six Sigma, trách nhiệm của ban quản lý là phải xác
định được những qui trình quan trọng nhất trong hoạt động của mình, tính toán
tính hiệu quả của những qui trình đó và tìm ra cách nâng cao hiệu quả của qui
trình đang hoạt động kém nhất.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Việc tìm ra những qui trình trên được thực hiện tốt nhất bằng cách dựa vào
những báo cáo hiện có. Một phần trong sự thành công của việc áp dụng Six
Sigma là phải cho người phụ trách của qui trình hiện tại thấy được sự nguy hiểm
nếu cứ tiếp tục hoạt động theo kiểu cũ để từ đó họ sẽ tham gia tích cực vào việc
cải thiện qui trình đó. Khi ban quản lý đã xác định được những qui trình quan
trọng của mình, điều cần làm tiếp theo là chỉ định người phụ trách cải thiện qui
trình đó. Thông thường đó chính là người quản lý hiện tại của qui trình đó. Đôi
khi một người phụ trách qui trình có thể không phải là người nằm trong ban
quản lý. Người phụ trách qui trình có trách nhiệm thu nhận những kết quả đo
lường hoạt động của qui trình mà họ phụ trách.
Mỗi người quản lý qui trình trong những tháng đầu tiên của việc thực hiện
Six Sigma đo lường hoạt động của qui trình mà họ phụ trách. Trong qui trình
cung cấp thức ăn, ta thu thập các thông tin về các yêu cầu sau :
1. Thời gian giao thức ăn
2. Thức ăn được giao đúng với yêu cầu
3. Độ tươi ngon của thức ăn
Đối với việc giao thức ăn, nhóm chế biến thức ăn cho biết thời điểm để
giao thức ăn là 6h sáng. Ngoài ra họ còn cho biết rằng nếu thức ăn được giao sau
8h thì bị coi là trễ và sẽ là quá sớm nếu giao thức ăn trước 4h sáng.
Sau khi các người quản lý qui trình thu thập đầy đủ thông tin về hoạt động
của qui trình do mình phụ trách (thường là sau 4 đến 8 tuần), họ sẽ gặp nhau
trong một cuộc họp với ban quản lý. Trong buổi họp mặt đó, ban quản lý sẽ biết
được thực trạng hoạt động của công ty mình và sẽ xác định được nguyên nhân vì
sao mà công ty mình hoạt động không được hiệu quả như mong đợi.
1.2. Tiến trình thực hiện DMAIC:
Sau khi đã xác định được những qui trình hoạt động kém hiệu quả, ta sẽ áp
dụng phương pháp DMAIC vào qui trình đó. DMAIC là một phương pháp gồm
5 bước nhằm nâng cao hiệu quả của một qui trình hiện có.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Giai đoạn đầu tiên là định nghĩa (Define). Trong giai đoạn định nghĩa này
ta sẽ lập một đội dự án và lập một bản báo cáo (Charter), xác nhận những khách
hàng cùng với các yêu cầu của họ, và cuối cùng là lập một sơ đồ cho qui trình
hiện hành.Giai đoạn thứ hai là đo lường (Measure). Trong giai đoạn này ta sẽ
tính độ sigma của qui trình hiện tại chi tiết hơn so với giai đoạn lập chiến lược.
Giai đoạn thứ ba là phân tích (Analysis). Trong giai đoạn này, đội dự án sẽ
phân tích các dữ liệu và các qui trình để tìm ra những nguyên nhân căn bản dẫn
đến sự thiếu hiệu quả trong việc thực hiện qui trình.
Giai đoạn thứ tư là cải tiến (Improve). Trong giai đoạn này, đội dự án sẽ
nghĩ ra các giải pháp và lựa chọn một trong các giải pháp đó để cải thiện mức
sigma cho qui trình.
Giai đoạn thứ năm và cũng là giai đoạn cuối cùng là giai đoạn quản lý
(Control). Hiện nay có các bộ công cụ và kỹ thuật được áp dụng để duy trì sự cải
thiện chất lượng trong các qui trình.
5 giai đoạn này còn được biết đến với tên gọi là DMAIC (viết tắt 5 chữ cái
đầu của Define, Measure, Analyze, Improve, Control). Trong mỗi giai đoạn có
những bước nhỏ. Mỗi bước nhỏ cho biết một công việc cụ thể mà nhóm dự án
phải hoàn thành.
1.2.1. Giai đoạn định nghĩa (Define)
Xác định mục tiêu của các hoạt động cải tiến. Ở tầm vĩ mô trong các công
ty, các mục tiêu này chính là mục tiêu chiến lược, chẳng hạn như tăng lợi nhuận
trên vốn đầu tư (ROI) hay tăng thị phần. Ở quy mô phòng ban chức năng, các
mục tiêu này có thể là năng suất hay hiệu quả hoạt động. Của một bộ phận sản
xuất. Còn ở quy mô tác nghiệp cụ thể thì đó có thể là mục tiêu giảm tỷ lệ khuyết
tật hoặc tăng số sản phẩm đầu ra đạt chất lượng…Để xác định các mục tiêu cho
hoạt động cải tiến có thể dùng phương pháp phân tích dữ liệu thống kê để tìm
kiếm các cơ hội có thể cải tiến
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.2. Giai đoạn đo lường (Measure)
Đo lường hệ thống hiện hành. Cần thiết lập một hệ thống có đủ độ tin cậy
cần thiết để giám sát hoạt động cải tiến đang được tiến hành để tiến tới mục tiêu.
Bắt đầu bằng việc xác định vị trí hiện tại có thể sử dụng các phương pháp phân
tích và mô tả dữ liệu nhằm dễ dàng nắm bắt vấn đề. Bước này gồm:
Xác định các yêu cầu được thực hiện có liên quan đến các đặc tính chất
lượng thiết yếu.
Lập các sơ đồ qui trình liên quan đến các yếu tố đầu vào và đầu ra được xác
định mà trong đó ở mỗi bướ của quy trình cần thể hiện mố liên kết của tác nhân
đầu vào có thể tác động của yếu tố đầu ra.
Lập danh sách của hệ thống do lường tiềm năng.
Phân tích khả năng hệ thống đo lường và thiết lập mốc so sánh về năng lực
của qui trình.
Xác định khu vực mà những sai sót trong hệ thống đo lường có thể xảy ra.
Tiến hành đo lường và thu thập dữ liệu các tác nhân đầu vào, các quy trình
và đầu ra.
Kiểm chứng sự hiển hữu của vấn đề dựa trên các hệ thống đo lường.
Làm rõ vấn đề hay mục tiêu của dự án.
1.2.3. Giai đoạn phân tích ( Analysis )
Phân tích hệ thống nhằm tìm ra cách tốt nhất vượt qua khoảng cách giữa
hiệu quả đang đạt được của hệ thống hay quá trình để đạt tới mục tiêu mong
muốn. Áp dụng các kỹ thuật thống kê là một cách tốt để phân tích, các bước của
phương pháp phân tích: Lập giả thuyết về căn nguyên tiềm ẩn gây nên giao động
và các yếu tố đầu vào thiết yếu.
Xác định một vài tác nhân và yếu tố đầu vào chính có tác động nhất.
Kiểm chứng những giả thuyết này bằng phân tích đa biến.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.4. Giai đoạn cải tiến ( Improve )
Cải tiến hệ thống. Cố gắng tìm tòi sáng tạo để tìm ra cách thực hiện công
việc một cách tốt hơn, rẽ hơn, nhanh hơn. Sử dụng phương pháp quản lý dự án
và phương pháp hoạch định và quản lý khác để quản lý và triển khai các ý tưởng
cải tiến mới. Sử dụng kỷ thuật thống kê để đánh giá hiệu quả của việc cải
tiến.Bước này bao gồm:
Xác định cách thức nhằm loại bỏ căn nguyên gây giao động.
Kiểm chứng các tác nhân đầu vào chính.
Đánh giá mức độ đáp ứng của mỗi đặc tính cụ thể.
Tối ưu các tác nhân đầu vào chính hoặc tái lập các thông số của quy trình
liên quan.
1.2.5.Giai đoạn kiểm soát ( Control )
Kiểm soát hệ thống sau khi cải tiến. Thể chế hóa hệ thống sau khi cải tiến
bằng cách thay đổi các vấn đề về lương thưởng, chính sách, các quy trình công
việc, việc hoạch định dẫn nguồn lực ngân quỹ, hướng công việc và các vấn đề
quản lý khác.Ở giai đoạn này chúng ta cần giải quyết các vấn đề:
- Hoàn thiện hệ thống đo lường.
- Kiểm chứng năng lực dài hạn của quy trình.
-Triển khai việc kiểm soát quy trình bằng kế hoạch kiểm soát nhằm đảm
bảo các vấn đề không còn tái diễn bằng cách liên tục giám soát những quy trình
có liên quan.
Nhìn chung, phương pháp DMAIC là quá trình làm dự án 6-Sigma là quá
trình sàn lọc các biến số, cải tiến các biến số đầu vào để đạt được kết quả đầu ra.
Hay còn gọi là quá trình cải tiến 6-Sigma là quá trình tối ưu hóa.
1.3. Một số công cụ sử dụng trong Six Sigma
1.3.1. The Critical to Quality (CTQ) Tree - cây CTQ
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cây CTQ được dùng trong bước thứ 2 của giai đoạn Định nghĩa (define)
của DMAIC. Nó được dùng để tìm ra và thông qua những yêu cầu của khách
hàng.
Các bước để tạo một cây CTQ
1. Xác định khách hàng của qui trình. Một khách hàng là người nhận những sản
phẩm hay dịch vụ của qui trình.
2. Xác định các yêu cầu quan trọng nhất của khách hàng, đó là những đặc điểm
của yêu cầu mà những đặc điểm này quyết định đến sự hài lòng của khách
hàng.
3. Nghiên cứu sâu hơn những yêu cầu nếu thấy cần thiết.
1.3.2. Process map - Sơ đồ qui trình
Một sơ đồ qui trình là một sơ đồ thể hiện những bước hiện tại của qui trình
cần được cải thiện. Sơ đồ gồm 5 mục công việc chính bao gồm xác định người
cung cấp cho qui trình, đầu vào mà nhà cung cấp đem tới, tên của qui trình, đầu
ra của qui trình, và khách hàng của qui trình.
1.3.3. Histogram – Biểu đồ
Trong giai đoạn phân tích của DMAIC, nhóm dự án sẽ xem xét lại những
dữ liệu thu thập được trong giai đoạn đo lường (measure) của DMAIC. Dữ liệu
nên được tổ chức thành những biểu đồ để người đọc có thể dễ dàng hiểu được ý
nghĩa của những dữ liệu đó. Có 2 loại dữ liệu. Dữ liệu rời rạc là những dữ liệu
thuộc loại có/không, tốt/xấu,…Dữ liệu liên tục là dữ liệu tồn tại trong một
khoảng giá trị nào đó ví dụ như thời gian, cân nặng,…Một công cụ hữu hiệu để
biểu diễn dữ liệu liên tục là biểu đồ dạng histogram. Biểu đồ này là một biểu đồ
sinh động biểu diễn số lần một sự kiện nào đó xảy ra.
1.3.4. The Cause – Effect Diagram (biểu đồ nguyên nhân – kết quả)
Như ta đã biết, giai đoạn quan trọng nhất trong DMAIC là giai đoạn phân
tích tìm ra nguyên nhân gốc. Một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho công
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
việc này là biểu đồ nguyên nhân – kết quả. Biểu đồ này ghi nhận tất cả ý kiến
của các thành viên trong nhóm về việc tìm ra nguyên nhân cho qui trình hiện tại.
1.3.5. The Affinity Diagram – Biểu đồ quan hệ
Một biểu đồ quan hệ được dùng trong việc sắp xếp và phân loại một lượng
lớn những ý kiến thành những chủ đề hoặc nhóm khác nhau. Nó đặc biệt có ích
khi nhóm cần những ý kiến, giải pháp để thực hiện trong giai đoạn cải thiện
(Improve) của DMAIC.
2. DFSS:
Phương pháp Six Sigma có thể chia ra làm 2 loại. Phương pháp Six Sigma
dành để cải tiến những qui trình có sẵn gọi là phương pháp DMAIC (chúng ta đã
nghiên cứu trong chương 2). Phương pháp thứ hai là phương pháp dùng để thiết
kế một qui trình mới từ đầu. Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu một số
phương pháp thuộc loại thứ hai.
2.1. DFSS là gì ? Thiết kế quy trình 6-sigma
DFSS là viết tắt của Design For Six Sigma(Thiết kế quy trình 6-sigma).
Không giống như phương pháp DMAIC, những giai đoạn trong DFSS không chỉ
hoàn toàn là những định nghĩa được công nhận. Hầu như mỗi công ty hay tổ
chức sẽ định nghĩa DFSS theo những cách riêng của mình. Đôi khi một công ty
sẽ áp dụng DFSS để phù hợp với công việc của họ, cũng có khi họ áp dụng
những phương pháp DFSS của một công ty tư vấn.
DFSS được dùng để thiết kế hay thiết kế lại một qui trình từ đầu. Một sản
phẩm hay dịch vụ DFSS được chờ đợi sẽ đạt mức ít nhất là 4,5 Sigma (có nghĩa
là không quá 1 sản phẩm hư trong 1000 sản phẩm), thậm chí có thể là 6 sigma
hoặc cao hơn tuỳ thuộc vào loại sản phẩm.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.2. DMADV và DMADOV
Một phương pháp DFSS phổ biến là DMADV- Viết tắt của Define ( Định
nghĩa ), Measure ( Đo lường ), Anlyze ( Phân tích ), Design ( Thiết kế ), Verify (
Xác nhận ).
DMADV gồm có 5 giai đoạn:
• Define: định nghĩa mục tiêu của dự án và những yêu cầu của khách hàng
• Measure : đo lường và quyết định những yêu cầu của khách hàng, những tiêu
chuẩn dùng để đo lường
• Analyze : phân tích những tuỳ chọn của qui trình
• Design : thiết kế chi tiết qui trình để có thể đáp ứng được các yêu cầu của
khách hàng
• Verify : xác nhận hiệu quả làm việc của qui trình và khả năng đáp ứng yêu
cầu của khách hàng.
Một biến cách nho nhỏ của phương pháp DMADV là DMADOV : Define
(định nghĩa), Measure (đo lường), Analyze (phân tích), Design (thiết kế),
Optimize (tối ưu) và Verify (xác nhận)
Ngoài ra còn có nhiều phương pháp khác như DCCDI, IDOV và DMEDI
2.2. DCCDI
DCCDI được phổ biến bởi Geoff Tennant. DCCDI là viết tắt của Define
(định nghĩa), Customer (khách hàng), Concept (khái niệm), Design (thiết kế) và
Implement (thực hiện). Các giai đoạn của DCCDI có nhiều điểm giống với các
giai đoạn của DMADV.
• Define : định nghĩa mục tiêu của dự án
• Customer : hoàn thành việc phân tích khách hàng
• Concept : phát triển, xem xét và chọn lựa những khái niệm liên quan
• Design : việc thiết kế được thực hiện sao cho đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng và mục tiêu của công việc
• Implementation : việc thực hiện được hoàn tất để sản xuất và bán sản phẩm
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.3. IDOV
IDOV là một phương pháp nổi tiếng khác trong thế giới sản xuất. IDOV
gồm 4 bước là Identify (nhận diện), Design (thiết kế), Optimize (tối ưu), và
Validate (phê chuẩn)
2.4. DMEDI
DMEDI đang được giảng dạy bởi PricewaterhouseCoopers và là viết tắt
của Define (định nghĩa), Measure (đo lường), Explore (khảo sát), Develop (phát
triển) và Implement (thực hiện).
III. Lợi ích từ thực hiện 6- Sigma
Six Sigma tập trung vào việc loại bỏ lỗi sai, lãng phí và sửa chữa. Nó xác
định một mục tiêu cần đạt được và phương pháp giải quyết vấn đề để làm tăng
mức độ hài lòng của khách hàng và cải thiện đáng kể hiệu quả cuối cùng.
Six Sigma giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận
1. Giúp giảm chi phí sản xuất.
Với tỷ lệ khuyết tật giảm đáng kể, công ty có thể loại bỏ những lãng phí về nguyên vật liệu và việc sử dụng nhân công kém
hiệu quả liên quan đến khuyết tật. Điều này sẽ giảm chi phí hàng bán trên từng đơn vị sản phẩm và vì thế gia tăng đơn vị sản phẩm
với giá thấp hơn và mang lại hiệu quả cao hơn nhờ bán được nhiều hơn.
2. Giúp giảm chi phí quản lý.
Với tỷ lệ khuyết tật giảm đáng kể, và việc thực hiện các cải tiến qui trình theo đó các khuyết tật tương tự không tái diễn,
công ty có thể giảm thời gian bớt lượng thời gian mà ban quản lý trung và cao cấp dành để giải quyết các vấn đề phát sinh do tỷ lệ
khuyết tật cao. Điều này giúp ban quản lý có nhiều thời gian cho các hoạt động mang lại giá trị cao hơn.
3. Góp phần làm gia tăng sự hài lòng của khách hàng.
Nhiều doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam gặp phải những vấn đề tái diễn liên quan
đến việc sản phẩm không đáp ứng được các nhu cầu về quy cách kỹ thuật từ phía khách
hàng khiến khách hàng không hài lòng mà đôi khi hủy bỏ đơn đặt hàng. Bằng cách làm
giảm đáng kể tỷ lệ lỗi, công ty có thể luôn cung cấp sản phẩm đến tay khách hàng đáp
ứng hoàn toàn các thông số kỷ thuật được yêu cầu và vì thế làm tăng sự hài lòng của
khách hàng. Sự gia tăng sự hài lòng của khách hàng gia tăng giúp giảm thiểu rủi ro bị chấm dứt đơn đặt hàng từ phía khách
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét