Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Bình luận số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiên nay

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
5. Chỉ số giá tiêu dùng:<7%
II. Đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay:
Để hiểu rõ hơn tình hình tăng trưởng kinh tế hiện nay chúng ta cùng
xem xét một số chỉ tiêu ( thước đo) tăng trưởng thuộc hệ thống tài khoản
quốc gia: GO, GDP, NI, GNI, NDI, GDP/người, Giá để tính các chỉ tiêu tăng
trưởng…
1.GO (tổng giá trị sản xuất):
GO là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên
phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Có hai cách tiếp
cận : GO= tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, ngành trong toàn
bộ nền kinh tế quốc dân. Hoặc GO là tổng giá trị tăng thêm và chi phí trung
gian.
Năm 2009 mặc dù gặp khó khăn thách thức từ cuộc khủng hoảng tài
chính năm trước nhưng giá trị sản xuất các ngành của Việt Nam vẫn tăng :
GO nông_lâm_ngư nghiệp(2008-2009):
TT 2008(tỷ đồng) 2009(tỷ đồng) 2009 so vơi
2008(%)
Tổng số 213.516 219.887 103,0
Nông nghiệp 156.682 160.081 102,2
Lâm nghiệp 6.752 7.008 103,8
Ngư nghiệp 50.082 52.798 105,4
Giá trị khu vực nông lâm ngư nghiệp năm 2009 tăng 3% so với năm 2008
trong đó nông nghiệp đóng góp nhiều nhất băng 160.081tỷ đồng. tăng 3399
tỷ đồng, tương ứng tăng 2,2%. Trong đó phải kể đến sự đóng góp của một số
mặt hàng chủ lực như: gạo, cà phê, chè, hồ tiêu…
Khu vực công nghiệp hoạt động sôi động hơn giá trị đóng góp vào
GO khá cao, trong đó khu vức đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn nhất:
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
GO công nghiệp(2008-2009):
TT 2008(tỷ đồng) 2009(tỷ đồng) 2009 so với
2008(%)
Tổng số 647.376 696.577 107,6
KV nhà nước 163.086 169.102 103,7
KV tư nhân 222.362 244.376 109,9
KV ĐT
nước ngoài
261.886 283.099 108,1
GO ngành công nghiệp gấp khoảng ba lần khu vực nông nghiệp. Đây
là một dấu hiệu tốt của kinh tế Việt Nam, thể hiện xu hướng đi lên công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo hướng nhà nước đã dặt ra…
2. GDP (Tổng sản phẩm quốc nội):
Khái niệm: Tổng sản phẩm quốc nội là tổng giá trị sản phẩm vật chất
và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ một
quốc gia tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định.
Phương pháp tính: Có ba phương pháp tiếp cận cơ bản, từ sản xuất,
tiêu dùng và phân phối. Xét trên góc độ tiêu dùng: GDP= C+I+G+( X-M),
trong đó:
C: tiêu dùng
I: đầu tư
G: chi tiêu chính phủ
X: giá trị xuất khẩu
M: Giá trị nhập khẩu
2.1.Xuất khẩu:
Xuất khẩu là nhân tố đóng góp quan trọng trong cơ cấu GDP theo chi
tiêu. Tuy nhiên cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm sức mua của thế giới
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
giảm đáng kể, giá cả của nhiều mặt hàng giảm mạnh, ảnh hưởng đến xuất
nhập khẩu của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu
những tháng đầu năm 2009 giảm, chỉ đạt 41,4 tỷ USD, giảm 14,8% so với
cùng kỳ năm 2008. Những tháng cuối năm kinh tế Việt Nam dần hồi phục
trở lại, kim ngạch xuất khẩu tăng góp phầm nâng cao tổng sản phẩm quốc
nội. Trong đó phải kể đến những đóng góp tích cực của một số mặt hàng
xuất khẩu chủ lực như:
Dệt may Gạo Giày dép Cà phê Dầu thô
90 80 77 67 33
( Đơn vị:triệu USD)
Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao,
chiếm tới 50% GDP của cả nước (cao thứ 6 trong khu vực ASEAN, thứ 9 ở
châu Á và thứ 17 trên thế giới), nhưng cơ cấu xuất khẩu của chúng ta đang
đối mặt với nhiều vấn đề. Hàng nguyên liệu, hàng thô, hàng sơ chế, hàng gia
công hiện vẫn chiếm tỷ trọng khá cao, do đó khả năng thu ngoại tệ chưa khai
thác hết. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch của các mặt hàng này
chiếm tới 3/4, chủ yếu là do sự tăng nhanh về lượng của các mặt hàng than
đá, dầu thô, cà phê, hạt tiêu, điều, chè và sự tăng nhanh về giá của các mặt
hàng này Bên cạnh đó, nhiều mặt hàng của chúng ta chưa có thương hiệu
riêng hoặc phải dùng thương hiệu của nước khác khi xuất khẩu, nên không
tạo ra được giá cả cạnh tranh với hàng hóa cùng loại của các nước trong khu
vực và trên thế giới. Tính đến cuối năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam đạt 56.6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008.
2.2. Nhập khẩu hàng hóa:
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhập khẩu hàng hóa: Năm 2009 tổng kim ngạch nhập khẩu ước tính
khoảng 68.8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm 2008. Khu vực kinh tế trong
nước là 43,9 tỷ USD ( giảm 16,8 % ), khu vực vốn đầu tư nước ngoài là 24.9
tỷ USD ( giảm 10.8 %). Nhập siêu tập trung chủ yếu vào khu vực kinh tế
trong nước, chứng tỏ Việt Nam chưa tận dụng được thời cơ, chậm khắc phục
thách thức do cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình hội nhập đã cam kết.
Trong các nhóm hàng hóa nhập khẩu thì:
Nguyên vật liệu Máy móc thiết bị Hàng tiêu dùng Vàng
61,3% 29,5% 8,7% 0.5%
Mặc dù kim ngạch nhập khẩu có tốc dộ giảm nhanh hơn xuất khẩu
nhưng 2009 Việt Nam vẫn nhập siêu và ước tính ở mức 12.2 tỷ USD, giảm
32,1 % so với 2008, bằng 21.6 % tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009.
XNK(2008-2009) , đơn vị: triệu USD
TT
Năm 2008

Xuất khẩu Nhập khẩu
Năm 2009
Xuất khẩu Nhập khẩu
Tổng giá trị 63.229 80.691 57.096 68.830
KV kinh tế trong nước 52.823 32.918 43.957
KV đầu tư nước ngoài 27.859 24.177 24.873
Nếu như Việt Nam có lợi thế xuất khẩu các mặt hàng nông thủy sản
và các mặt hàng thô… chưa qua chế biến với giá trị không cao thì chúng ta
nhập khẩu phần lớn là máy móc, nguyên vật lệu phục vụ cho sản xuất và xây
dựng (như xăng dầu, sắt thép ), ngay cả nguyên liệu cho ngành may mặc
cũng phài nhập khẩu phần nhiều. Trong khi dệt may là mặt hàng xuất khẩu
chính sang thị trường Châu Âu, vì thế mà giá trị ròng thu về không nhiều. Sự
lệch lạc này cho thấy nhân tố công nghệ của chúng ta còn yếu kém, kỹ thuật
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chế biến hạn chế, chịu sự chi phối nhiều từ nước ngoài. Công nghiệp phụ trợ
chưa phát triển, thiếu về cả lượng và chất không đáp ứng đủ nhu cầu trong
nước… Khắc phục được những hạn chế trên cán cân thương mại của chúng
ta sẽ được cải thiện góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế nhanh…
Một số mặt hàng XNK chủ yếu 2009:
HH nhập khẩu (triệu USD) HH xuất khấu (triệu USD)
Xăng dầu 6159 Dệ may 9065
Sắt thép 5327 Dầu thô 6194
Vải vóc 4224 Giầy dép 4066
Đồ điện tử 3931 Gạo 2663
Ôtô nguyên chiếc 2943 Gỗ và sp gỗ 2597
Chất dẻo 2823 Cà phê 1730
B. Chất lượng tăng trưởng kinh tế:
I. Khái niệm chất lượng tăng trưởng:
Tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp quan trọng hàng đầu, có liên
quan mật thiết đến các biến số vĩ mô khác như việc làm, lạm phát, nghèo
đói,… Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét tăng trưởng kinh tế trên giác độ số lượng
thu nhập tăng thêm thì chưa đủ. Thực tế cho thấy nhiều “loại” tăng trưởng
không những không đem đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn mà trái
lại còn để lại những hậu quả không tốt mà các thế hệ tương lai phải gánh
chịu. Năm 1996, UNDP đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu để các quốc gia
tham khảo, đó là:
1. Tăng trưởng không việc làm: Tăng trưởng không tạo ra việc làm
mới cho xã hội, không cải thiện dược tình trạng thất nghiệp trong nèn kinh tê
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Tăng trưởng không lương tâm: Tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho
một bộ phận nhỏ người giàu, trong khi điều kiện sống của phần đông người
nghèo không được cải thiện.
3.Tăng trưởng không tiếng nói: Tăng trưởng không gắn với sự cải
thiện về dân chủ, không xây dựng cơ chế tham gia giữa người dân và các nhà
làm chính sách.
4. Tăng trưởng không gốc rễ: Tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị
suy thoái, truyền thống dân tộc mai một
5. Tăng trưởng không tương lai: Tăng trưởng nhưng huỷ hoại môi
trường sinh thái đe dọa đến cuộc sống của con người ở hiện tại và các thế hệ
tương lai phải gánh chịu hậu quả
Chính vì lẽ đó, nghiên cứu tăng trưởng kinh tế bên cạnh sự gia tăng về
số lượng, còn cần và nhất thiết phải quan tâm đến khía cạnh chất lượng. Có
thể hiểu: “ Chất lượng tăng trưởng phản ánh nền kinh tế đạt tốc độ tăng
trưởng cao, duy trì trong một thời gian dài, gắn với đó là quá trình nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền tự do cho
mỗi người…”
II. Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam:
Sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tích đầy
ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo.Điều này không
chỉ góp phần giúp đất nước khắc phục tình trạng kém phát triển, mà còn làm
tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội khác như giảm thất
nghiệp, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, phát triển giáo dục,
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
y tế, văn hoá, xóa đói giảm nghèo Về cơ bản, những thành tựu tăng trưởng
đã đến được với đại bộ phận người dân, thể hiện ở mức tăng rõ rệt về thu
nhập và tiêu dùng của tất cả các nhóm dân cư trong thời gian qua. Tuy
nhiên, nền kinh tế cũng đang bộc lộ ngày càng rõ những lo ngại về chất
lượng và sự bền vững của quá trình tăng trưởng, xét cả về trung hạn và dài
hạn. Để đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể tiếp cận
trên nhiều giác độ khác nhau như: theo nhân tố đầu vào, theo kết quả đầu ra,
theo cấu trúc ngành kinh tế, theo năng lực cạnh tranh…trước hết chúng ta
cùng xem xét cấu trúc ngành kinh tế của nước ta hiện nay:
1. Cơ cấu ngành kinh tế:
Cơ cấu kinh tế Việt Nam phân theo nhóm ngành, 1991-2008
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều đi kèm với
những thay đổi trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ba nhóm ngành nông
nghiệp (bao gồm nông- lâm nghiệp và thuỷ sản), công nghiệp (bao gồm
công nghiệp và xây dựng) và dịch vụ. Xét đồ thị phát triển, cơ cấu kinh tế
của nước ta trong thời gian qua đã có sự chuyển dịch tích cực: tỷ trọng nông-
lâm- thuỷ sản trong GDP đã giảm đều đặn (từ 40,5% xuống 22,09% trong
thời kỳ 1991-2008) và tỷ trọng công nghiệp- xây dựng tăng lên tương ứng
(từ 23,8% tăng lên 39,73% trong cùng thời kỳ). Trong khi đó, khu vực dịch
vụ sau một thời gian dài chững lại (1995-2004) và tăng chậm hơn nhịp độ
tăng trưởng chung của GDP Tuy nhiên,có thể thấy xu hướng chuyển dịch
diễn ra khá chậm chạp, trong nhiều năm qua, xét theo tỷ trọng giá trị tăng
thêm trong GDP, cơ cấu kinh tế chủ yếu biến đổi theo sự chuyển dịch của
hai nhóm ngành nông- lâm - thủy sản và công nghiệp- xây dựng. Tỷ trọng
dịch vụ trong GDP tăng giảm theo từng năm và chưa thể hiện một xu thế
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chuyển dịch rõ ràng hướng tới một cơ cấu hiện đại, trong khi đây là khu vực
có rất nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành có liên quan chặt chẽ đến cơ cấu lao
động và cơ cấu đầu tư. Cơ cấu lao động chưa có sự chuyển dịch rõ rệt theo
hướng tiến bộ, lao động chưa có việc làm còn lớn, đang bị “tắc nghẽn” trong
lĩnh vực nông nghiệp, tình trạng thất nghiệp trá hình ở nông thôn còn phổ
biến. Trong khi đó, cơ cấu đầu tư thể hiện sự mất cân đối lớn giữa nguồn
vốn đầu tư xây dựng cơ bản và tình trạng đầu tư tràn lan ở các địa phương,
đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thu về không cao. Điều này bộc lộ sự yếu kém
trong công tác quản lý các dự án và vốn đầu tư của nước ta.
Nhìn từ góc độ dài hạn, quá trình chuyển dịch cơ cấu chưa diễn ra
theo một quy hoạch chiến lược tổng thể có tầm nhìn dài hạn, với một lộ trình
hợp lý và được bảo đảm thực hiện nghiêm ngặt. Những năm qua là giai đoạn
hình thành cơ cấu được định hướng bởi các quy hoạch mang tính cục bộ
ngành và địa phương, nhằm phục vụ cho các lợi ích cục bộ và ngắn hạn.
Chính vì thế, quy hoạch tổng thể thường bị điều chỉnh, phá vỡ, hiệu quả đầu
tư thấp, cơ cấu chuyển dịch không đúng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng cao,
bền vững, nâng cao sức cạnh tranh. Tất cả những điều nói trên phản ánh tầm
nhìn cơ cấu hạn chế, nặng về hiện vật và tư duy “chính sách ngành”, chưa
theo kịp các xu hướng công nghệ và nguyên lý phát triển hiện đại.
2.Hiệu quả kinh tế
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.1. Tích cực:
-Tăng thu nhập giải quyết việc làm cho người lao động:
Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển mạnh các thành phần
kinh tế, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước,
phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích kinh tế tư nhân và hộ gia đình, thu
hút mạnh đầu tư nước ngoài, từ năm 2001 đến nay, vốn đầu tư ngày càng
tăng, hằng năm chiếm trên 35% - 40% GDP. Hiện nay, cả nước có khoảng
234 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (khoảng 113 nghìn doanh
nghiệp đang hoạt động), với khoảng 2 nghìn làng nghề, 110 nghìn trang trại,
3 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ đã thu hút hàng chục
triệu lao động vào làm việc. Số người có việc làm tăng thêm 5,55 triệu
người, bình quân mỗi năm tăng thêm từ 900 nghìn đến 1 triệu người. Nhìn
chung, mức tăng này chỉ tương ứng mức tăng thêm của lực lượng lao động
hằng năm, tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ, từ 6,28% (năm 2001) xuống còn 5,1%
(năm 2006). Qua số liệu thực tế về phát triển kinh tế Việt Nam những năm
qua cho thấy, nếu kinh tế tăng trưởng 1% thì việc làm tăng từ 0,3% - 0,35%.
Bên cạnh đó, nhiều chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn
với các mô hình kinh tế trang trại, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi,
nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy hải sản, trồng và bảo vệ rừng, phát
triển các làng nghề, xã nghề ; chương trình xây dựng và phát triển các khu
công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế mở ; xây dựng các công trình
trọng điểm như đường Hồ Chí Minh, thủy điện Sơn La, lọc dầu Dung
Quất, được thực hiện không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo
nhiều việc làm, tăng thu nhập cải thiện đáng kể đời sống cùa người lao động.
-Đời sống được cải thiện,tình trạng đói nghèo giảm đáng kể:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét