Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng cung cấp dịch vụ là chuyển một loại tài sản thành một loại tài
sản khác cho công chúng. Điều này được thể hiện thông qua các hoạt động cụ
thể của ngân hàng
- Mua bán ngoại tệ : Một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này
lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ
- Nhân tiền gửi : Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản tiền
cho khách hàng với cam kết hoàn trả đúng hạn, trả lãi cho khoản tiền gửi
- Bảo quản vật có giá : Ngân hàng lưu giữ vàng và vật có giá cho khách
hàng trong kho bảo quản.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán. Thanh toán
qua ngân hàng đã mở đầu cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tức
là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết
viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận
được tiền. Thanh toán không dùng tiền mặt an toàn, nhanh chóng, chính xác,
tiết kiệm chi phí đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu
nhập cho các doanh nhân.
- Quản lý ngân quỹ : Ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn
doanh nghiệp và nhiều cá nhân. Ngân hàng quản lý việc thu và chi cho một
công ty kih doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào
các khoản chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng
cần tiền mặt để thanh toán
- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ : Các ngân hàng mua trái phiếu
Chính phủ trên theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân
hàng huy động được, hoặc phải cho chính phủ vay với các điều kiện ưu đãi
cho các doanh nghiệp của Chính phủ khi họ phát sinh nhu cầu chi tiêu lớn và
cấp bách.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Bảo lãnh : Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua
chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn các tổ chức
tín dụng khác
- Cho thuê tài chính ( Leasing) : Ngân hàng cho khách hàng kinh doanh
quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê
mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho
thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới 2/3 giá trị của tài
sản cho thuê.
- Uỷ thác và tư vấn : Nhiều các nhân doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn
về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
- Môi giới đầu tư chứng khoán : Ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi
giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu,
và các chứng khoán khác. Các ngân hàng còn tổ chức ra công ty chứng khoán
hoặc công ty mô giới chứng khoán.
- Bảo hiểm : Ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng, bảo đảm việc
hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, gặp rủi ro trong hoạt động, mất
khả năng thanh toán.
- Ngân hàng đại lý : Ngân hàng thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng
chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
- Cho vay
1.1.3 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.3.1 Khái niệm :
Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Cho vay thường
được định lượng theo hai chỉ tiêu : Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối
kỳ. Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay trong
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
kỳ. Dư nợ cuối kỳ là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay vào thời
điểm cuối kỳ
1.1.3.2 Phân loại
Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội ( vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức
thấu chi.
Để được thấu chi khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi
và thời gian thấu chi ( có thể trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá trình
hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ séc vượt quá
số dư tiền gửi để chi trả ( xong trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có
tiền nhập về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Số lãi mà ngân
hàng phải trả là
Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi
Các khoản chi trả quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình
chỉ sử dụng hình thức này.
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về
thời gian và qui mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào ngân
quỹ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận
lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán : chủ động, nhanh, kịp thời
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân
vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản
phải nộp, mua hàng…Hình thức này sử dụng với các khách hàng có độ tin cậy
cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các
khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấp
hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu, chỉ
khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức
vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản
xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay,
xác định qui mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu
cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế
ước nhận nợ) khác nhau.
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi.
Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục
đích và hiệu quả. Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu
nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi
theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
soát từng món vay tách biệt.
Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng mà theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho
khách hàng hạng mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc
cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Trong kỳ khách hàng có thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không được
vượt quá hạn mức tín dụng. Một số ngân hàng qui địh hạn mức cuối kỳ. Dư
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiêun, đến cuối kỳ, khách hàng
phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn
mức
Mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay,
nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay.
Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát
tiền cho khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh
doanh.trong nghiệp vụ này, ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và
thời hạn tín dụng. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo
chủ động ngân quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt
thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng
từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo
cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá. Doanh
nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng
và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quý, người vay sẽ làm
đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về
phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả
năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 hoặc vài năm.
Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại
mối quan hệ với
khách hàng và quyết định có cho vya nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa
ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàn háo nên cả ngân hàng lẫn
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán
dòng ngân quỹ trong thời gian tới
Người vay sẽ cam kết ác khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi
khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được
trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơ n
nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán.
Theo hình thức này, giá trị hàng hoá mua vào ( có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ,
đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay ; thu nhập bán
hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ
nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay.
Các khoản phải thu và cả hàng oá trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản
cho vay.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho khách hàng. Thủ tục vay chỉ
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu
vốn kịp thời, vì vậy, việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ ( hàng hoá tồn đọng )
thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản
vay không được quy định rõ ràng.
Cho vay trả góp
Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép ngân hàng trả gốc
làm nhiều lẩntong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp thường
được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp
với khả năng trả nợ ( thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án,
hoặc từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng)
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua
hạn mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hoá
mà khách đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhân ngay tiền sau khi bán
hàng từ phía ngân hàng hoặc khách hàng trả trực tiếp cho ngân hàng. Đây là
hình thức tín dụng tài trợ cho người mua ( qua đó đến người bán nhằm
khuyến khích tiêu thụ hàng hoá.
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường xuyên thế chấp bằng
hàng hoá mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của
người vay. Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng
thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho
vay trả góp thường là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp.Bên cạnh đó ngân
hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp, hình thức cho vay thông
qua các tổ chức trung gian
Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội
Nông dân, Hội cựu chiến binh, hội Phụ nữ… Các tổ chức này thường liên kết
các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau,
bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu,
xoá đói giảm nghèo luôn được các trung gian rất quan tâm.
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các
tổ chức trung gian, như thu nợ, như phát tiền vay…Tổ chức trung gian cũng
có thể đứng ra tín chấp cho các thành viênvay, hoặc các thành viên trong
nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
không có hoặc không đủ tài sản thế chấp. Để bù đắp một phần chi phí của
trung gian, ngân hàng trích một phần thu nhập để lịa cho trung gian.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm
đầu vào của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người
vay sử dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều
món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp như
vậy, cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay ( phân tích, giám
sát, thu nợ…)
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân
hàng. Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian sẽ lợi
dụng vị thế của mình và nếu ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để
cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các
nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá đắt cho
người vay vốn.
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Phân tích tài chính là việc sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương
pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin
khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp,
đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
đó.
1.2.2 Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp đối với việc
cho vay của ngân hàng
Ngân hàng cần thiết phải phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay
và trả nợ của khách hàng. Qua đó, người cho vay xem xét là doanh nghiệp
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thực sự có nhu cầu vay hay không và khả năng trả nợ của doanh nghiệp như
thế nào.
1.2.3 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp của ngân hàng trong cho vay
1.2.3.1 Thu thập thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi
nguồn thông tin. Từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin
bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị. Nhờ có
những thông tin này, nhà phân tích mới có thể đứa ra nhận xét, kết luận đầy
đủ và xác đáng.
Trong những thông tin bên ngoài, lưu ý thu thập những thông tin chung
( thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách
thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh ( thông tin liên quan đến vị trí
của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành,
Tình trạng công nghệ, thị phần…) và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với
doanh nghiệp ( các thông tin mà các doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ
quan quản lý như tình hình quản lý, tình hình kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp…)
Tuy nhiên để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh
nghiệp, có thể sử dụng thông tin trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn
thông tin quan trọng bậc nhất. Thông tin kế toán được phản ánh đầy đủ trong
các báo cáo kế toán. Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo
tài chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu.
Đó là Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ.
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính
của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là một báo cáo
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu,
quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý đối với doanh nghiệp. Thông thường
bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài
khoản kế toán : Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của
doanh nghiệp
Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài
sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của
doanh nghiệp.
Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài
sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của
doanh nghiệp : Đó là tài sản cố định, tài sản lưu động. Bên nguồn vốn phản
ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập
báo cáo : Đó là vón của chủ ( vốn tự có ) và các khoản nợ
Các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo khả năng
chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống
Bên tài sản
Tài sản lưu động ( tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán, các khoản
phải thu, dự trữ) ; tài sản tài chính, tài sản cố định, hữu hình và vô hình.
Bên nguồn vốn
Nợ ngắn hạn ( nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả
khác, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác) ; nợ
dài hạn ( nợ vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác,
vay bằng cách phát hành trái phiếu) ; vốn chủ sở hữu ( thường bao gồm : vốn
góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới)
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài
sản ; bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng
độc lập về tài chính của doanh nghiệp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét