có tính chiến lược. Ngoài ra cần tăng cường trình độ nghiên cứu nông nghiệp
cơ bản.
Nhấn mạnh khoa học công nghệ nông nghiệp cơ bản và dài hạn. Việc thu thập,
bảo vệ, xác định, tăng cường và đa dạng hoá nguồn cây trồng và vật nuôi cần
được ủng hộ mạnh mẽ. Bên cạnh đó cần thường xuyên ủng hộ cho sách báo, tài
liệu và những thông tin về nông nghiệp.
2. Hướng khoa học công nghệ nông nghiệp chủ yếu:
Phát triển khoa học công nghệ nông nghiệp không chỉ phải phù hợp với điều
kiện của bản thân Trung Quốc mà cả chiều hướng phát triển nông nghiệp và
khoa học công nghệ chung trên thế giới. Xu hướng phát triển khoa học công
nghệ nông nghiệp phải được quyết định bởi nhu cầu phát triển nông nghiệp của
Trung Quốc về khoa học công nghệ và bản thân qui luật khoa học công nghệ
nông nghiệp.
Nỗ lực hết sức mình đạt được những bước đột phá trong nghiên cứu và phát
triển công nghệ cao và mới, trong đó công nghệ sinh học và công nghệ thông
tin chiếm vai trò chủ đạo. Ngoài ra cần cố gắng thúc đẩy cuộc cách mạng khoa
học công nghệ trong nông nghiệp. Một số lượng lớn các doanh nghiệp và tập
đoàn công nghệ cao sẽ vào hoạt động ở Trung Quốc với mục tiêu nâng cao
công nghệ di truyền cây trồng và động vật, đưa vào những giống cây trồng mới,
phát triển vacxin sinh học, phân sinh học và những nguyên vật liệu khác nhằm
điều tiết sự tăng trưởng. Nên phát triển một hệ thống công nghệ thông tin nông
nghiệp có tính thực tiễn và xuất hiện ở nhiều nơi trên toàn thế giới. Hơn nữa, để
đạt được những thành công rực rỡ hơn nữa, cần nỗ lực phát triển ngành hải
dương học, công nghệ vũ trụ, hạt nhân, kỹ thuật vệ tinh từ xa.
Trú trọng tích luỹ, tái tổ chức, hoàn thiện và phát triển công nghệ tiên tiến để
đẩy mạnh cuộc cách mạng công nghiệp trong nông nghiệp. Cần thành lập các
thửa ruộng nông nghiệp hiện đại và khu vực thí điểm tại nhiều khu vực sinh
thái và thương mại khác nhau, tạo động lực mạnh mẽ nâng cao trình độ công
nghệ nông nghiệp trên toàn quốc.
Coi công nghiệp hoá nông nghiệp là một phương hướng được triển khai theo bề
sâu những nhân tố khoa học công nghệ nông nghiệp. Cần thiết lập một số
doanh nghiệp và tập đoàn nông nghiệp hiện đại để đẩy mạnh quá trình công
5
nghiệp hoá nông nghiệp. Việc nghiên cứu và phát triển công nghệ thời kỳ tiền
sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất cần được hoạch định một cách toàn
diện trong đó đặc biệt lưu ý đến giai đoạn sau cùng. Phương pháp này là rất cần
thiết để tăng cường sự phát triển toàn diện của ngành chế biến và bảo quản
nông sản.
Tiến hành các công việc có liên quan đến khoa học công nghệ nông nghiệp trên
cơ sở khai thác, quản lý và bảo vệ nguồn đất của Trung Quốc. Ưu tiên khai thác
và bảo vệ một cách hợp lý vùng đồi cỏ, thảm cỏ, đại dương, hồ, bãi chăn thả,
đồi trọc và triền thoải phía nam Trung Quốc.
Tăng cường phát triển khoa học công nghệ của ngành nông nghiệp và trang bị
cho ngành những thiết bị hiện đại. Vận dụng nhiều công nghiệp hiện đại nhằm
tạo biến chuyển trong ngành nông nghiệp và đẩy mạnh tiến bộ công nghệ trong
kỹ thuật thuỷ lợi, bón phân, thuốc trừ sâu, màng nhựa nhằm nâng cao mức độ
cơ giới hoá, điện khí hoá và công nghiệp hoá nông nghiệp.
Phát triển công nghệ và thiết bị nông nghiệp chí phí thấp, đa chức năng và hiệu
quả cao.
Phát triển công nghệ nông nghiệp bền vững, tạo chuyển biến cho mô hình tăng
trưởng của nông nghiệp và châm ngòi cho sự phát triển bền vững của nông
nghiệp. Cần tiếp tục phát triển công nghệ trong những lĩnh vực như cải thiện
nguồn đất, chống ô nhiễm và cải thiện môi trường sinh thái. Việc nghiên cứu và
phát triển công nghệ tiết kiệm năng lượng cũng cần được đặc biệt trú trọng để
tránh xói mòn đất, suy thoái bãi chăn thả và ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nước
tưới, phân bón, thức ăn, đất và năng lượng.
Nâng cao trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp và cải thiện hệ thống hành
chính để các doanh nghiệp hoạt động khoa học hơn nữa. Điều này sẽ có lợi rất
nhiều cho sự phát triển của các doanh nghiệp và quá trình cải thiện chất lượng
sản phẩm nói chung.
3. Những mục tiêu chính của sự phát triển khoa học công nghệ nông
nghiệp:
6
(1) Tăng cường nghiên cứu nông nghiệp và tăng năng suất sớm nhất có thể để
đưa ngành khoa học công nghệ nông nghiệp Trung Quốc đạt bước phát
triển nhảy vọt, tiếp cận được trình độ tiên tiến trên thế giới.
Tạo chỗ đứng nhất định trong lĩnh vực công nghệ nông nghiệp cao và mới trên
thế giới. Nỗ lực tạo những bước đột phá trong nghiên cứu, phát triển và ứng
dụng công nghệ nông nghiệp mới và cao, bao gồm công nghệ sinh học, công
nghệ thông tin, khoa học đại dương, khoa học vật liệu, công nghệ nguyên tử, vũ
trụ, giám sát và điều tiết môi trường nguồn tài nguyên trong nông nghiệp.
Ngoài ra cũng cần tiến hành những nghiên cứu nông nghiệp cơ bản và tiên tiến
trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Coi nghiên cứu và phát triển những công nghệ có khả năng tạo năng suất, chất
lượng và hiệu quả cao cũng như chi phí sản xuất của hàng nông sản hạ là
nhiệm vụ chủ chốt. Cần thành lập trên nhiều khu vực khác nhau một hệ thống
khoa học công nghệ phát triển bền vững có thể mang lại những nông sản có
năng suất, chất lượng, hiệu quả cao và chi phí sản xuất hạ.
Tăng cường nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ trong giai đoạn hậu
sản xuất. Lưu ý phát triển ngành chế biến nông sản. Ngoài ra, cần nâng cao giá
trị thặng dư của nông sản cũng như tính hiệu quả của nông nghiệp. Cần hình
thành hệ thống thông tin thị trường, trong đó vấn đề trọng tâm là phát triển và
ứng dụng công nghệ và các trang thiết bị cho ngành sản xuất lương thực, chế
biến và bảo quản nông sản, từ đó có thế đạt được những thành công lớn trong
công nghệ gia đoạn hậu sản xuất.
Phấn đấu đạt được thành quả trong việc phát triển và bảo vệ nguồn đất và nước,
phân bón, năng lượng và những công nghệ bảo quản thức ăn gia súc. Nguồn
nước cần được tận dụng để nâng cao chất lượng và số lượng nông sản. Trong
khi đó việc nghiên cứu và phát triển công nghệ bảo quản nguồn đất và nước,
góp gió và ngăn ngừa cát, ngăn ngừa ô nhiễm và xử lý chất thải cũng là những
vấn đề cần coi trọng.
Tạo bước đột phá trong công nghệ nâng cao năng suất, công nghệ bảo đảm sản
xuất, công nghệ tích luỹ các nguồn lực thiên nhiên và công nghệ nông nghiệp
bền vững.
7
Thiết lập và hoàn thiện những khu vực thử nghiệm được hiện đại hoá và các
thửa ruộng ở nhiều vùng khác nhau để tăng cường sự phát triển nông nghiệp
toàn diện.
(2) Tăng cường mở rộng công nghệ để tạo điều kiện cho khoa học công nghệ
đóng góp 50% cho sự tăng trưởng trong nông nghiệp
Sức mạnh tổng hợp chính là sự sáng tạo. Phát triển công nghệ nông nghiệp có
vai trò quan trọng không kém vấn đề nghiên cứu và phát triển. Đó là một công
việc toàn diện, mang tính chất tiên phong và cũng là một khâu không thể thiếu
được khi mà khoa học công nghệ đang được chuyển hướng nhằm mang lại
năng suất thực tế. Tỉ lệ chuyển đổi, tỉ lệ phổ biến hoá và tỉ lệ đóng góp của
những thành tựu khoa học công nghệ cần được nâng cao ở mức độ cao.
Con đường phát triển khoa học công nghệ là: sử dụng tối đa công nghệ có trong
tay, trong khi đó nhập khẩu một cách có chọn lọc công nghệ tiên tiến và mở
rộng công nghệ để nâng tỉ lệ đóng góp của khoa học công nghệ cho sự tăng
trưởng nông nghiệp, nền kinh tế nông thôn và đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá
nông nghiệp.
Ngoài ra cũng cần phổ biến các giống mới và sự kết hợp mới giữa các vụ mùa
nông nghiệp và công nghệ canh tác năng suất cao và rất cao (sản lượng lúa mì
trong khu vực một vụ, hai vụ và ba vụ lần lượt là 15000 kg, 22500kg và 27000
kg trên 1 hecta). Công nghệ tạo giống vật nuôi đa dạng, được công nghiệp hoá
và ở quy mô rộng (bò: 10000 con, lợn: 100000 con , gà: 1000000 con); công
nghệ trồng rừng nhân tạo và công nghệ trồng rừng tự nhiên đang thay đổi và
phục hồi; công nghệ sử dụng phân hoá học hiệu quả cao; công nghệ tiết kiệm
nước; công nghệ trộn thức ăn chăn nuôi và công nghệ ngăn ngừa và kiểm soát
sâu bệnh và những bệnh nghiêm trọng trên cây trồng cũng cần được phổ biến
rộng rãi.
Các doanh nghiệp tỉnh cần đẩy mạnh tiến bộ về mặt khoa học công nghệ. Ngoài
ra cũng cần tiến hành những biện pháp tăng cường sự kết hợp giữa sản xuất,
nghiên cứu và học tập, đưa hệ thống các doanh nghiệp hiện đại vào hoạt động
và phát triển các ngành trụ cột và những doanh nghiệp lá cờ đầu trong khu vực
để sản xuất những sản phẩm có đăng ký nhãn hiệu. Các doanh nghiệp cấp tỉnh
cần được mở rộng thành những tập đoàn quốc tế rộng lớn. Nên đưa vào thực
hiện cơ chế sản xuất tổng hợp và cơ cấu công nghiệp. Công nghệ chế biến
8
lương thực và nông sản, công nghệ khai thác nguồn lực nông nghiệp, công
nghệ sản xuất tiến tiến, công nghệ giảm chi phí sản xuất và tiết kiệm năng
lượng và công nghệ bảo vệ môi trường cũng cần được phát triển và ứng dụng
một cách toàn diện.
Quá trình công nghiệp hoá khoa học công nghệ nông nghiệp cần được xúc tiến
để phát triển các doanh nghiệp và các tập đoàn doanh nghiệp bằng khoa học
công nghệ hiện đại.
(3) Cải thiện các yếu tố khoa học công nghệ và xây dựng cơ chế nông nghiệp
cũng như nâng cao trình độ khoa học công nghệ cho nông dân.
Yếu tố khoa học công nghệ nông nghiệp là xương sống tạo ra tiến bộ trong
khoa học công nghệ nông nghiệp. Các nhà khoa học cao cấp đóng vai trò quan
trọng trong việc giảng dậy, giúp đỡ và hướng dẫn lớp trẻ để bồi dưỡng một
nhóm cán bộ trẻ và cán bộ quản lý trung niên, các nhà doanh nghiệp khoa học
công nghệ, các chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia khuyến nông và các nhà nghiên
cứu. Cần tập hợp thành một đội ngũ hoạt động có hiệu quả cao gồm các nhân
viên hàng đầu trong nhiều lĩnh vực, các nhà doanh nghiệp khoa học công nghệ
và những người quản lý.
Ngoài ra nên thiết lập một hệ thống khoa học công nghệ nông nghiệp phù hợp
với hoàn cảnh hiện tại của Trung Quốc. Các khâu nghiên cứu, giáo dục và sản
xuất công nghệ cũng cần được cải thiện. Các tổ chức khuyến nông ổn định, các
phòng thí nghiệm quan trọng và các cơ sở thử nghiệm công nghệ nông nghiệp,
trung tâm công nghệ nông nghiệp và hệ thống thị trường khoa học công nghệ
công nghệ cũng nên được thiết lập. Hơn nữa cần tạo lập thêm những thửa ruộng
có áp dụng công nghệ nông nghiệp cao và mới và nông nghiệp hiện đại. Cơ sở
đào tạo nông dân và các cơ chế khoa học công nghệ hướng dẫn doanh nghiệp
nhà nước cần được phát triển.
Nên vận dụng triệt để những hình thức như đào tạo đặc biệt, các bài luận, phát
thanh, truyền hình, hệ thống thông tin, sách và các tài liệu tham khảo, báo và
tạp chí cần được sử dụng để truyền bá kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến
và phù hợp tới hàng triệu nông dân nhằm nâng cao tầm hiểu biết của họ.
(4) Đổi mới các hệ thống cũ và tăng đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của khoa học công nghệ nông nghiệp.
9
Cần tổng kết kinh nghiệm và phân loại phương hướng phát triển. Nên thiết lập
và hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc và luật lệ phát triển khoa học công nghệ
nông nghiệp. Triển khai ngay một cuộc cải cách hệ thống khoa học công nghệ
nông nghiệp. Nên thiết lập các cơ chế và cơ quan chuyên môn cùng với một hệ
thống khoa học công nghệ nông nghiệp mới phù hợp với qui luật kinh tế của
nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và các đặc tính khoa học công nghệ
nông nghiệp, nhằm mở ra một hệ thống khoa học công nghệ nông nghiệp vốn
đã có nền tảng, một cơ cấu hợp lý và một hệ thống hoạt động công khai có hiệu
quả cao, cơ động và có trật tự.
Thiết lập và hoàn thiện hệ thống đầu tư vào khoa học công nghệ nông nghiệp
với nhiều kênh khác nhau bao quát toàn xã hội.
Hoạch định các chính sách công nghệ phù hợp với điều kiện địa phương.
Phần II: Phương hướng khoa học công nghệ và ưu tiên trong giai đoạn
tiền sản xuất
Giai đoạn tiền sản xuất bao gồm trang bị máy móc nông nghiệp, phân bón,
thùng chứa nước, thuốc trừ sâu và màng nhựa. Cần trang bị một nền công
nghiệp hiện đại để tăng năng suất của đất và của lao động.
1. Tăng cường cơ giới hoá nông nghiệp phù hợp với những điều kiện khác
nhau:
Ưu tiên phát triển hệ thống máy móc giành cho canh tác, cày cáy, thuỷ lợi, thu
hoạch, vận chuyển, chế biến nông sản và sản xuất thức ăn chăn nuôi. Cải thiện
các máy móc lưu trữ, bảo quản và vận chuyển hàng nông sản. Công nghệ và
các trang thiết bị sấy, bảo quản, thuỷ lợi trickle, thuỷ lợi sprinkling, tráng màng
nhựa, ứng dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu cần được đặc biệt tăng cường.
Máy nông nghiệp loại nhỏ và vừa cần được nâng cấp thành máy đa năng cỡ vừa
và lớn. Ngoài ra cũng nên đặc biệt coi trọng việc kết hợp các loại máy hoạt
động mạnh với kỹ thuật làm nông để tăng cường tỉ lệ sử dụng các loại máy móc
đó. Nên phát triển và sản xuất với số lượng lớn các loại máy móc chi phí thấp,
hiệu quả cao và ít ô nhiễm, nếu không được như vậy thì phải loại bỏ chúng
ngay.
10
Nâng cao trình độ nghiên cứu, thiết kế và sản xuất máy móc nông nghiệp. Nên
kết hợp giữa giới thiệu, chấp nhận, phổ biến và đổi mới máy móc để đạt được
trình độ công nghệ quốc tế của thập kỷ 90 về mặt chức năng, độ tin cậy, độ bền
và mức độ sử dụng năng lượng.
2. Tăng lượng phân hoá học và tỉ lệ sử dụng loại phân này:
Phải coi trọng kết hợp phân hữu cơ với phân vô cơ, tốt nhất là ở tỉ lệ 0,5:1 và
tăng tỉ lệ phân phốt phát và phân lân sao cho tỉ lệ phân hoá học đạm, lân và ka
ly đạt 1:0,4:0,35
Phát triển công nghệ áp dụng công thức phân hoá học phù hợp với những điều
kiện đất khác nhau, tăng cường phân bổ phân bón và giám sát hệ thống dinh
dưỡng trao đổi vật chất, tăng cường sự phát triển của các phân hoá học mới như
phân đặc chủng, phân xanh (leaf fertilizer), phân thể vấn (suspension) và phân
vi sinh. Ngoài ra cũng cần cải thiện công nghệ coating carbamide, rare-earth
carbamide, và công nghệ của các loại phân tổng hợp hữu cơ cũng như vô cơ.
Tăng cường tính hiệu quả sản xuất và lợi nhuận kinh tế. Cần đổi mới công nghệ
trong các doanh nghiệp sản xuất phân để tiết kiệm năng lượng, nâng cao chất
lượng, tiêu chuẩn hoá các tiêu chuẩn và ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm. Các
doanh nghiệp sản xuất phân hoá học lớn cần tiết kiệm năng lượng, tăng sản
lượng và một số doanh nghiệp cần thay đổi nguồn nguyên liệu thô. Các doanh
nghiệp sản xuất phân bón cỡ trung cần được mở rộng và cơ cấu sản xuất của
các doanh nghiệp cỡ nhỏ cũng phải được điều chỉnh.
Các tiêu chuẩn công nghệ, nguyên tắc và luật lệ của ngành sản xuất, buôn bán
và sử dụng phân cần được đặt ra để ngăn chặn hàng giả lan tràn vào thị trường.
3. Sản xuất thuốc trừ sâu mới chất lượng cao, an toàn, hiệu quả cao, có
tính cạnh tranh và không làm hại môi trường:
Cần đặc biệt ưu tiên sản xuất các loại thuốc trừ sâu chất lượng cao phù hợp với
môi trường (nghĩa là dễ mủn và hầu như không tác động đến sinh vật sống), an
toàn (tức là có ít chất độc và không ô nhiễm), có hiệu quả cao (lượng thuốc
dùng trên một hecta ít hơn chỉ số sẵn có 150g) và có tính cạnh tranh cao. Ngoài
ra cũng nên coi trọng nghiên cứu và phát triển thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, thuốc
11
trừ côn trùng, thuốc tẩy uế trong đất, cách xử lý hạt giống và các yếu tố điều
tiết sự tăng trưởng của cây.
Quá trình sản xuất thuốc trừ sâu cần được chuẩn hoá. Chỉ nên áp dụng thuốc trừ
sâu có độc dược cao và chi phí cao dần dần, từng bước một. Kỹ thuật chế biến
và thiết bị sản xuất và chuẩn bị thuốc trừ sâu cần được cải thiện để nâng cao
chất lượng.
Tăng cường nghiên cứu và phát triển các thiết bị và công nghệ ứng dụng phân
bón. Ưu tiên phát triển công nghệ và máy móc phun thành tia nhỏ và siêu nhỏ.
Hơn nữa cũng cần phát triển mạnh công nghệ và thiết bị kiểm soát bằng sinh
học. Công nghệ sinh học hiện đại cần được áp dụng để sản xuất thuốc trừ sâu
sinh học.
4. Thiết lập hệ thống thuỷ lợi và nhiệt điện nông thôn để có thể tiết kiệm
nước và ngăn ngừa thiên tai.
Thiết lập và hoàn thiện hệ thống công nghệ quản lý và bảo vệ nước, lập kế
hoạch phân phối và sử dụng nguồn nước một cách khoa học. Khối lượng và
thời lượng cung cấp nước cần được đề ra. Nên nghiên cứu và phát triển công
nghệ tưới tiêu và các trang thiết bị trên những dòng sông lớn. Phải phát triển hệ
thống thu thập tự động, việc kiểm soát thuỷ phân, hệ thống dự báo bão, và hệ
thống máy tính và phân phối nước. Bên cạnh đó, hệ thống dự đoán thiên tai kết
hợp với vệ tinh do thám, thiết bị dự đoán và hệ thống công nghệ phòng chống
thiên tai tương ứng cũng cần được thiết lập.
Phát triển nhanh chóng công nghệ tiết kiệm nước. Phát triển và mở rộng công
nghệ tưới tiêu tiết kiệm nước trên cơ sở tăng cường tỉ lệ sử dụng nguồn nước từ
trong mạch. Hỗ trợ mạnh mẽ cho công nghệ và phương tiện cho thuỷ lợi
mương máng, tưới nhỏ giọt, tưới thẩm thấu, tưới cho ngấm dần xuống mặt đất
và tưới gián đoạn. Cải tiến công nghệ làm ruộng khô, xây mương thấm qua,
máy hô hấp cho cây và công nghệ chống hạn hán. Thêm vào đó, công nghệ
kiểm soát sự ô nhiễm nguồn nước, lọc nước ngầm và ngăn chặn sự xâm nhập
của nước biển cũng cần được tăng cường nhằm sử dụng nguồn nước một cách
hợp lý.
Phát triển nhà máy thuỷ điện nông thôn loại vừa và nhỏ. Cần trú trọng vạch ra
và dự kiến kế hoạch toàn diện để tăng cường việc tiêu chuẩn hoá, đồng bộ hoá,
12
và phổ biến hoá các sản phẩm điện, nước và khai thác các loại máy móc rẻ với
chi phí thấp.
5. Nghiên cứu và phát triển nhựa dùng trong nông nghiệp có hiệu quả cao,
ít ô nhiễm và chi phí thấp:
Nghiên cứu và phát triển các loại nhựa tiết kiệm năng lượng, có hiệu quả và ít ô
nhiễm, các nguyên vật liệu và máy móc dùng cho nông nghiệp nhằm tiết kiệm
gỗ và thép, duy trì độ ẩm, tăng nhiệt độ, tránh sói mòn đất, ngăn ngừa sự lan
tràn của bệnh tật, côn trùng và cỏ dại và những yếu tố làm thay đổi môi trường
vi sinh thái.
Phát triển màng nhựa công dụng tốt. Những vật liệu nhựa bền cần được tăng
cường để thay thế màng và ống nhựa thường dễ hỏng. Kỹ thuật và sản phẩm
nhựa, vật liệu tiết kiệm nước, hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt, tưới kênh mương và
tưới thẩm thấu dùng cho nông nghiệp cần được nghiên cứu và phát triển. Cần
hỗ trợ hơn nữa cho ngành sản xuất các sản phẩm nhựa nông nghiệp giành cho
việc bảo vệ cỏ cho vật nuôi, kiểm soát luồng gió, ngăn ngừa cát, chế tạo đường
bao lưới và các loại hộp lưới.
Nghiên cứu các nguyên vật liệu hiệu quả cao, đa chức năng và dễ phân huỷ,
những sản phẩm nông nghiệp mới như màng nhựa có thể khôi phục được, màng
nhựa dễ phân huỷ và kiểm soát ánh sách, màng làm phân huỷ sinh vật, màng
nhựa từ cây lấy sợi, màng có độ trong suốt cao và màng đa chức năng.
6. Nỗ lực phát triển khoa học công nghệ khí tượng tăng cường chất lượng
và quy mô phục vụ:
Tập trung phát triển khoa học công nghệ khí tượng nhằm dự đoán chính xác,
ngăn chặn có hiệu quả các thiên tai. Công nghệ và máy móc này phải cung cấp
được những thông tin khí tượng chính xác và đúng lúc. Nên sử dụng vệ tinh, hệ
thống dự đoán bằng điều khiển từ xa, gis, GPS và mạng lưới máy tính để tăng
độ chính xác của việc dự báo thời tiết xấu, dự báo khí hậu tầm trung và tầm xa
và theo dõi một cách năng động sự tăng trưởng của năng suất nông nghiệp.
Ngoài ra cũng cần phải có dự báo về năng suất cây trồng ở Trung Quốc cũng
như trên thế giới.
13
Nghiên cứu và phát triển kỹ thuật ngăn ngừa thiên tai. Tăng cường vận dụng
công nghệ và máy móc ngăn chặn mưa đá và mưa tuyết, ngăn ngừa úng lụt và
hạn hán. Tập trung nghiên cứu công nghệ điều tiết vi khí hậu trong nông nghiệp
với quy mô công nghiệp hoá và nghiên cứu sự biến động của khí hậu trên thế
giới.
Phần III: Định hướng khoa học công nghệ và ưu tiến trong giai đoạn giữa
sản xuất
Giai đoạn giữa sản xuất nông nghiệp bao gồm làm nông (công nghiệp hoá hạt
giống), làm rừng, chăn nuôi (sản xuất thức ăn chăn nuôi) và công nghiệp thuỷ
sản.
1. Tăng năng suất trên một đơn vị, cải thiện chất lượng và tăng mức độ
khoa học công nghệ trong trồng trọt:
Vận dụng khoa học công nghệ trồng trọt để tăng sự phát triển bền vững của
ngành trồng trọt hướng tới năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, chi phí thấp
và có trình độ thâm canh. Tăng tính năng của đất và sản lượng các nguồn đất là
mục tiêu chính của khoa học công nghệ trong trồng trọt. Tăng năng suất trên
một đơn vị sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm là định hướng chính. Trú
trọng chuyển đổi và quản lý các thửa ruộng cỡ trung và năng suất thấp và xây
những thửa ruộng năng suất cao và rất cao. Nhân giống ngô đặc biệt và gạo
cao sản. Sử dụng kỹ thuật canh tác các vụ mùa thâm canh, có năng suất cao và
cực cao một cách ổn định, trong khi đó phải tận dụng đa dạng nguồn đất.
Tối ưu hoá cơ cấu ngành nông, tăng cường quá trình chuyển đổi từ cơ cấu hai
cây lương thực và công nghiệp sang cơ cấu ba cây lương thực, công nghiệp và
hoa màu. Tập trung trồng các loại lúa cỏ, ngô cỏ, lúa mạch cỏ và lúa mạch cỏ
đen.
Phối hợp thâm canh với công nghệ hiện đại, phát triển công nghệ làm nông đa
vụ và phấn đấu tạo cơ chế đa vụ với mức tăng 10 đến 15 %. Năng suất lúa mỳ
của các thửa ruộng năng suất cao ở các vùng đơn vụ, hai vụ và 3 vụ một năm
cần được nâng lần lượt tới mức 10500 đến 15000 kg/ha, 18000 đến 22500
kg/ha và 22500 đến 30000 kg/ha.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét