Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

_u_t_n_c_ngo_i_v_o_vi_t_nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế ở mọi quốc gia đặc biệt là những nước
đang phát triển như Việt Nam. Vốn đầu tư nước ngoài góp một phần không nhỏ
vào tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, phát triển kinh tế xã hội. Trong điều kiện hiện nay, đặc biệt sau sự kiện
Việt Nam gia nhập WTO, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã chú ý tới thị trường
Việt Nam và triển vọng về một dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là rất
lớn. Vì vậy, vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện
nay đang được rất nhiều người quan tâm. Xuất phát từ những vấn đề lí luận và
thực tiễn nói trên, việc nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết và hợp lí. Chính
vì vậy, em đã chọn nghiên cứu đề tài “Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam” cho
bài tiểu luận của mình.
Bài tiểu luận của em tập trung vào nghiên cứu những thành tựu và những
mặt hạn chế trong vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trong giai
đoạn từ năm 1986 đến năm 2006 nhằm mục đích làm rõ thực trạng thu hút và sử
dụng vốn đầu tư nước ngoài ở việt Nam từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến
nay và đề ra những giải pháp nâng cao sức thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn
đầu tư nước ngoài sau khi Việt nam ra nhập WTO.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những phương pháp nghiên cứu kinh tế cơ
bản như: phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng khoa học và các
phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích, phương pháp thống
kê, phương pháp so sánh và tổng hợp.
Đề tài gồm có ba phần:
Chương I: Những vấn đề lí luận chung về đầu tư nước ngoài.
Chương II: Thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam từ
năm 1986 đến năm 2006.
Chương III: Các giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài
sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI.
I, khái niệm về vốn đầu tư nước ngoài.
FDI là một trong hai hình thức đầu tư quốc tế gồm: đầu tư nước ngoài gián
tiếp(PFI viết tắt của portfolien Foreign Investment) và đầu tư nước ngoài trực
tiếp (FDI viét tắt của Foreign Direct Investment ). Trong hai hình thức đầu tư,
hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp được các nhà đầu tư chú trọng hơn.
Xoay quanh khái niệm FDI, có nhiều quan điểm đưa ra:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: “FDI là khoản đầu tư nước ngoài vào một
doanh nghiệp trong nước, nhà đầu tư nắm giữ một phần nhất định trong
doanh nghiệp. Theo đó, các công ty con của một công ty đa quốc gia là
một dạng đặc biệt của FDI.”
- Trong luật đầu tư được quốc hội thông qua trong kì họp thứ VIII
ngày29/11/2005, khái niệm cụ thể về FDI không được đưa ra nhưng có
thể khái quát qua các khái niệm liên quan: đầu tư là gì?, đầu tư nước
ngoài là gì?, đầu tư trực tiếp là gì?.
+ “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình
hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy
định của luật này."
+ “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt đọng đầu tư.”
+ “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và
tham gia quản lí hoạt động đầu tư.”
Qua ba khái niệm nêu trên, FDI có tthể được hiểu là việc nhà đầu tư nước
ngoài bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình, hợp pháp để tiến
hành hoạt động đầu tư và có tham gia hoạt động quản lí đầu tư.
Qua những khái niệm đã trình bày, FDI thực chất là việc nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vốn, tài sản, công nghệ, kinh nghiệm quản lí vào một
quốc gia khác và tham gia trực tiếp vào hoạt động tổ chức, điều hành, quản
lí dự án nhằm thu lợi ích kinh tế.
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
II,Quan điểm của nhà nước Việt Nam đối với vốn đầu tư nước ngoài
qua các Văn Kiện Đại Hội Đảng từ năm 1986 đến nay.
1.Quan diểm của nhà nước về vai trò của vốn đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh việc coi nội lực là yếu tố quyết định trong sự nghiệp phát
triển kinh tế, xây dựng đất nước, vai trò quan trọng của ngoại lực đặc biệt là
vốn đầu tư nước ngoài liên tục được nhấn mạnh và nêu cao qua các văn
kiện đại hội đảng từ năm 1986 đến nay:
- Vai trò tích cực của vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện trong văn kiện
đại hội đảng VI năm 1986: “Chúng ta hoan nghênh những tổ chức kinh
tế của nước ngoài quan hệ trực tiếp với các tổ chức kinh tế Việt Nam để
mở rộng quy mô hợp tác, thoả mãn lợi ích của cả hai bên, theo chính
sách và luật pháp nước ta.”
- Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được nhấn mạnh. Văn kiện
đại hội Đảng IX đã khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được
khuyến khích phát triển và là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế
Việt Nam.”
- Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài một lần nữa được khẳng định trong
văn kiện đại hội đảng X năm 2006: “các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam được
đối xử bình đẳng như doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh.”
Như vậy, cùng với quá trình phát triển của đất nước, vai trò của vốn đầu
tư nước ngoài dần được khẳng định trong nhận thức và đường lối lãnh đạo
của đảng và nhà nước Việt Nam.
2. Quan điểm của nhà nước Việt Nam và hệ thống pháp luật về thu hút và
sử dụng vốn đầu tư nước ngoài.
a, quan điểm của nhà nước về thu hút và sử dụng vốn đâù tư nước ngoài.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài, nhà nước
việt nam luôn nêu cao việc tranh thủ và sử dụng triệt để nguồn vốn đầu tư
nước ngoài. Văn kiện đại hội đảng VIII năm 1991 dã khẳng định: “Tranh
thủ mọi khả năng và dùng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài.”
Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để việc thu hút và sử
dụng vốn đầu tư nước ngoài đạt kết quả tốt. văn kiện đại hội đảng IX năm
2001 chỉ rõ nỗ lực của nhà nước nhằm xoá bỏ sự phân biệt giữa doanh
nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài: “ nghiên cứu để tiến tới áp
dụng một khung pháp luật thống nhất chung cho doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp nước ngoài.”
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Văn kiện đại hội đảng X năm 2006 tiếp tục khẳng định thiện chí của
chính phủ việt nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài: “tạo điếu kiện cho
đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùng
lãnh thổ phù hợp với cam kết quốc gia của ta. Đa dạng hoá hình thức và cơ
chế đầu tư để thu hút mạnh nguồn lực các nhà đầu tư nước ngoài bảo đảm
tính thống nhất, ổn định, minh bạch và ngày càng hấp dẫn trong chính sách
đầu tư nước ngoài.”
Việc thu hút và sử dụng có hiệu qủa vốn đầu tư nước ngoài nằm trong
chính sách đối ngoại của chính phủ Việt Nam. Đại hội đảng X tháng 4 năm
2006 khẳng định đường lối đối ngoại của Việt Nam: “thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,hoà bình, hợp tác và phát triển. Chính
sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc
tế. Chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác
quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, là đối tác tin câỵ của các
nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc
tế và khu vực.”
Nhìn chung, trong những năm gần đây nhà nước Việt Nam luôn coi
trọng việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
b, hệ thống pháp luật của Việt Nam trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu
tư nước ngòai.

Nhất quán với chủ trương sử dụng triệt để nguồn vốn đầu tư nước ngoài,
chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản luật về vốn đầu tư nước
ngoài kể từ năm 1986 tới nay.

Hệ thống luật về đầu tư nước ngoài liên tục được hoàn thiện qua các luật
được ban hành: luật đầu tư nước ngoài năm 1987, luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam năm 1996, luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đầu tư nước
ngoài năm 2000, luật khuyến khích đầu tư năm 1998 và luật đầu tư được
quốc hội thông qua ngày 29/11/2005.
Những luật này thể hiện nhiều chính sách mới và sự thay đổi quan điểm
phù hợp với tình hình thực tế của chính phủ Việt Nam :
- Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 khuyến khích các nhà đầu tư khai thác
dịch vụ, đầu tư theo chiều sâu, chú trọng các dự án sản xuất hàng hoá
thay thế nhập khẩu.
- Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 thể hiện sự tiến bộ hơn khi ưu tiên các
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các nghành xuất khẩu, các vùng sâu
vùng xa, các vùng gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt luật này cho phép thực
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hiện phân cấp cho các uỷ ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và một số ban ngành quản lí cấp giấy phép đối với các
dự án đầu tư.
- Luật đầu tư được quốc hội thông qua vào ngày 29/11/2005 đưa ra các
điều khoản ưu đãi hơn, mở rộng hơn các lĩnh vực cho phép đầu tư nước
ngoài và đặc biệt luật này tiến hành phân cấp triệt để ở các tỉnh thành,
địa phương mà không phải là một số thành phố, ban ngành như luật đầu
tư nước ngoài năm 1996 quy định.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II :
THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM
2006.
I. Những thành tựu VN đạt được trong việc thu hút và sử dụng vốn
đàu tư nước ngoài.
1. Những thành tựu trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài FDI.
Luật đầu tư nước ngoài đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1987
nhưng chỉ sau năm 1988, dòng vốn FDI mới bắt đầu đổ vào Việt Nam. Vì
vậy, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu những thành tựu vốn FDI đạt được trong
giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2006.
Thứ nhất, FDI vào Việt Nam tuy có nhiều biến động nhưng nhìn chung
là có xu hướng tăng lên đặc biệt là trong những năm gần đây. Tính đến
tháng 10 năm 2006, Việt Nam đã mở rộng hợp tác với 76 quốc gia và vùng
lãnh thổ.Tình hình thu hút và sủ dụng vốn FDI được khái quát trong bảng
dưới đây:
Năm 1988-
1990
1991-
1995
1996-
2000
2001-2005 2006
Số vốn cam
kết(tỷ
USD)
1,5 16,24 20,6 18,899 10,2
Số vốn
thực hiện
(tỷ USD)
không
đáng kể
7,513 10 13,84 4,1
Bảng 1.1 tình hình thu hút và thực hiện vốn FDI từ năm 1988 đến năm
2006
( số liệu tổng hợp từ nguồn bộ kế hoạch và đầu tư và cục đầu tư nước
ngoài)
Phân tích bảng 1.1 cho thấy:
- Trong giai đoạn đầu từ năm 1988 đến năm 1990, các nhà đầu tư còn xa
lạ với Việt Nam nên số vốn đăng kí thấp, số vốn thực hiện hầu như
không đáng kể.
- Giai đoạn 1991-1995: số vốn FDI đầu tư vào Việt Nam tăng cả về vốn
đăng kí lẫn vốn thực hiện.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Giai đoạn 1996-2000: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ ở châu Á năm 1997, vốn FDI đăng kí và thực hiện liên tục giảm ở
các năm sau. Năm 1998, tổng vốn FDI đăng kí chỉ bằng 50% so với năm
1996.
- Giai đoạn 2001-2005: Nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam đã có dấu
hiệu phục hồi, tổng số vốn thực hiện tăng 13,6% so với 5 năm trước.
- Trong năm 2006: tổng số vốn FDI đăng kí đạt kỉ lục kể từ năm 1999,
doanh nghiệp có vốn nước ngoài đóng góp 10% ngân sách nhà nước.
Thứ hai, doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ
phận hữu cơ năng động của nền kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoàiliên tục đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước, tính
đến nay ước đạt khoảng 7-8%. Nếu không kể cả dầu khí, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 27% kim ngạch xuất khẩu cả
nước. Các doanh nghiệp nước ngoài đóng góp khoảng 14%GDP cả nước và
tạo việc làm cho khoảng 1,12 triệu lao động trực tiếp cũng như hàng triệu
lao động gián tiếp.
Thứ ba, các dự án vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng về
quy mô gắn với chuyển giao công nghệ cao. Trước kia, số vốn đầu tư trung
bình cho một dự án là trên 1 triệu USD thì đến năm 2006, số vốn này tăng
lên đạt 9 triệu USD trên một dự án. Hiện nay, nhiều tập đoàn công nghệ lớn
như tập đoàn Intel, tập đoàn Sonion và 95 công ty xuyên quốc gia đang đầu
tư tại Việt Nam. Cơ cấu đầu tư nước ngoài đang chuyển biến theo hướng
tăng tỷ trọng của lĩnh vực dịch vụ.
2. Nguyên nhân
- Hệ thống luật về đầu tư nước ngoài từ năm 1987 đến nay liên tục được
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình việt Nam trong các giai
đoạn. Các chính sách thể hiện nhiều ưu đãi hơn, các chính sách không
phù hợp và gây khó khăn cho nhà đầu tư giảm đi đáng kể, tạo cho Việt
Nam môi trường pháp lí thông thoáng hơn.
- Nền kinh tế Việt Nam chứa nhiều yếu tố nội tại hấp dẫn các nhà đầu tư
nước ngoài. Tình hình chính trị Việt Nam ổn định hơn so với các nước
trong khu vực như Thái Lan, Campuchia. Nền kinh tế Việt Nam liên tục
đạt tốc độ tăng trưởng cao, trung bình 8,5%. Vị thế của Việt Nam được
cải thiện và nâng cao khi Việt Nam được quốc hội Mĩ thông qua PNRT,
Việt Nam tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh APEC và gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO. Bên cạnh đó, lao động ở Việt Nam rẻ
hơn so với các nước khác trong khu vực: Bình quân lương một người
công nhân ở Việt Nam một năm là 1266 USD, ở Trung Quốc là
1992USD và ở Thái Lan là 2792USD.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Chính phủ Việt Nam nỗ lực nâng cấp kết cấu hạ tầng, cải cách chính
sách hành chính, tích cực chống tham nhũng và nâng cao thể chế kinh tế
thị trường.
II. Hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong việc thu hút và sử
dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
1. Hạn chế trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam.
Hạn chế đầu tiên là sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư:
- Về cơ cấu theo đối tác, các nhà đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là các
nước thuộc châu Á, vốn đầu tư từ các nước này chiếm khoảng 67% vốn
đăng kí. Trong đó năm đối tác đứng đầu là: Đài Loan, Singapore, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Hồng kông, số vốn đầu tư của năm nhà đầu tư này
chiếm 59,25% số vốn đăng kí. Các nhà đầu tư thuộc châu Âu và châu
Mĩ La Tinh chiếm tỉ lệ rất ít.
- Về cơ cấu đầu tư theo ngành, vốn FDI ở Việt Nam tập trung vào ngành
công nghiệp và xây dựng ( hai ngành này chiếm 61,8% tổng số vốn đăng
kí), còn ngành dịch vụ chỉ chiếm 31,3% số vốn đăng kí. Cơ cấu đầu tư
theo ngành này không phù hợp với cơ cấu đầu tư tập trung vào ngành
dịch vụ trên thế giới và không phù hợp với định hướng phát triển đất
nước ở Việt Nam.
- Về cơ cấu đầu tư theo vùng, tuy vốn FDI có được phân bố ra nhiều tỉnh
nhưng vẫn tập trung ở hai khu vực chủ yếu là đồng bằng Sông Hồng và
vùng Nam Bộ. Như vậy, định hướng thu hút FDI vào các vùng khó khăn
vẫn chưa được thực hiện.
Hạn chế thứ hai là việc thực hiện FDI còn chậm. Tính đến tháng 9 năm
2006, có khoảng 7000 dự án đầu tư vào Việt Nam với số vốn đăng kí trên
60 tỉ USD nhưng chỉ có 36 tỉ USD được thực hiện. Việc thực hiện vốn FDI
chậm dẫn đến hậu quả là một số dự án kém hoạt động bị rút giấy phép hoặc
các nhà đầu tư tự rút giấy phép để đầu tư vào các thị trường tiềm năng hơn.
Hạn chế thứ ba là Việt Nam chưa thu hút được nguồn FDI từ các tập
đoàn, các công ty xuyên quốc gia và chưa thu hút được FDI vào các dự án
công nghệ cao.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thu hút và sử dụng vốn
đầu tư nước ngoài trực tiếp.
Nguyên nhân đầu tiên của những hạn chế nêu ở trên là rào cản trong
pháp lí. luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đã có nhiều điểm tiến bộ nhưng
vẫn còn tồn tại nhiều điều cần khắc phục:
- Hình thức đầu tư FDI ở Việt Nam chưa thực sự đa dạng. Hiện nay, ở
Việt Nam tồn tại bốn hình thức đầu tư FDI chính: hình thức liên doanh,
hình thức 100% vón đầu tư nước ngoài, hình thức xây dựng kinh doanh
chuuyển giao BOT( BOT là hình thức đầu tư được đăng kí giữa cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu
tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam ),
hình thức cổ phần hoá các doanh nghiệp nước ngoài. Trong bốn hình
thức này, hình thức liên doanh là hình thức phổ biến nhất ở Việt Nam và
được hưởng nhiều ưu đãi nhất, hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài
hiện nay đang có xu hướng gia tăng. Hình thức BOT ít được ưa chuộng
nhưng hầu hết các kết cấu hạ tầng cần được xây dựng lại chủ yếu dưới
dạng BOT. Tuy chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách ưu
đãi nhưng việc đầu tư bằng hình thức này còn gặp nhiều khó khăn. Hình
thức cổ phần hoá được áp dụng ở Việt Nam vào năm 2003 nhưng quá
trình thực hiện chậm, hiệu quả kinh tế chưa cao.
- Các chính sách ưu đãi trong luật đầu tư nước ngoài tuy đã được mở
rộnghơn nhưng vẫn còn bị bó hẹp trong một số ngành, lĩnh vực và một
số vùng. Chính vì vậy, cơ cấu ngành nghề và nhiều địa phương tồn tại
nhiều bất cập.
- Tính nhất quán và minh bạch trong chính sách đầu tư nước ngoài và hệ
thống luật chưa thoả đáng. Trong khi chính phủ Việt Nam dưa ra chính
sách tạo điều kiện tối đa cho thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài phát triển thì các quy định về xuất nhập khẩu và tỉ lệ nội địa hoá
lại được thắt chặt hơn.
- Trong hệ thống luật đầu tư nước ngoài tai Việt Nam còn thể hiện sự
phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Trong khi nhà đầu tư trong nước chỉ cần đăng kí dự án thì nhà đầu tư
nước ngoài phải trải qua quá trình thẩm định về hiệu quả dự án. Đây là
một trong những nguyên nhân làm giảm tính hấp dẫn của môi trường
đầu tư Việt Nam.
- Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Namchưa chú ý đến khâu giám sát dự án
sau khi cấp giấy phép gây ra hiện tượng ứ đọng vốn. Các tỉnh, ngành địa
phương chỉ có thể đưa ra được con số dự báo khả năng thu hút mà
không dự báo được khả năng thực hiện gây hiệu ứng ngược, các tỉnh kéo
dài thủ tục hành chính.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nguyên nhân thứ hai là thủ tục hành chính ở Việt Nam chồng chéo,
rườm rà, quan liêu .Các thủ tục này gồm các thủ tục địa chính, các thủ tục
đầu tư và xây dưng cơ bản,các thủ tục về thanh tra,kiểm tra,kiểm toán.Sự
thông minh bạch trong việc thực hiện các thủ tục hành chính dẫn đến nạn
tham nhũng và việc lãng phí cho sản xuất kinh doanh.Thêm vào đó,năng
lực quản lý và trách nhiệm của chính quyền địa phương còn yếu.Chính vì
vậy, các thủ tục hành chính của Việt Nam không được các tổ chức quốc tế
đánh giá cao.Theo đánh giá của công ty tài chính quốc tề IFC trung bình
một nhà đầu tư vào Việt Nam mất 50 ngày hoàn thành thủ tục doanh nghiệp
, để biến ý tưởng thành hiện thực trung bình mất 260 ngày qua thủ tục hành
chính, xử lý tranh chấp hợp đồng mất 343 ngày qua 37 thủ tục và chi phí
lên đến 30% giá trị được bồi thường tranh chấp.Với một thủ tục hành chính
rườm rà, năng lực cạnh tranh vốn FDI của Việt Nam bị giảm.Theo diễn đàn
kinh tế thế giới năm 2003,chỉ số cạnh tranh của Việt Nam xếp 60/102, đến
năm 2004 giảm xuống 77/104 và năm 2005 giảm xuống vị trí thứ 81.

Nguyên nhân thứ ba, là các yếu tố kết cấu hạ tầng của Việt nam chưa
đáp ứng được nhu cầu các nhà tài trợ.Kết cấu hạ tầng có thể chia ra làm hai
loại: thứ nhất, Kết cấu hạ tầng cứng gồm hệ thống đường giao thông, sân
bay, bến cảng, điện lực,viễn thông có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt
động kinh doanh của nhà đầu tư. Theo dự đoán của các chuyên gia, Việt
Nam dang đối mặt với nguy cơ quá tải hệ thống bến cảng và nguy cơ thiếu
năng lượng .Thứ hai, Kết cấu hạ tầng mềm gồm chất lượng nguồn nhân lực,
dịch vụ tài chính, công nghệ và sinh hoạt. Đội ngũ lao động trí thức ở Việt
Nam kém cả về chất lượng và số lượng so với các nước trong khu vực va
trên thế giơí nên việc áp dụng trình độ khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp
khó khăn. Các ngành dịch vụ ở Việt Nam phát triển chậm, chất lượng kém.

10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG III:
CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO.
I.Tác động của các cam kết WTO đến vốn đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam.
Theo cam kết chung về lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam cam kết mở cửa 11
ngành trong số 12 ngành dịch vụ theo phân loại của WTO. Trong 12 ngành
chia làm 155 phân ngành, và Việt Nam mở cửa 110 phân ngành gồm các
ngành rất nhạy cảm như ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, giao
thông vận tải. Việc mở cửa của các ngành dịch vụ này mở ra nhiều lựa chọn
cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn.
Theo cam kết chung, sau khi ra nhập WTO, Việt Nam phải dừng ngay các
trợ cấp thuộc nhóm “đèn đỏ” và “đèn vàng” theo phân loại WTO tức là các
trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp thay thế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu nông sản.
Việc bãi bỏ trợ cấp cùng với cam kết nhà nước sẽ không can thiệp gián tiếp
hay trực tiếp vào doanh nghiệp nhà nước tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh,
tránh độc quyền doanh nghiệp nhà nước.
Theo cam kết đa phương, Việt Nam cam kết tiến hành minh bạch hoá. Việt
Nam cam kết ngay từ khi ra nhập sẽ công bố các dự thảo các văn bản quy
phạm pháp luật do Quốc Hội, Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội và chính phủ
ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Chính phủ Việt Nam cũng cam kết sẽ công
khai các văn bản pháp luật nói trên. Như vậy các cam kết này đã tháo gỡ
vướng mắc trong việc minh bạch hoá trong quy trình, thủ tục thực hiện vốn
đầu tư nước ngoài.
Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định theo ngành
của WTO, giảm thuế xuống mức 0% hoặc rất thấp. Ngành mới Việt Nam
tham gia cam kết là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may, thiết bị Y tế. Sản
phẩm công nghệ thông tin được nhập vào Việt Nam với mức thuế 0% hoặc
mức thuế rất thấp tạo điều kiện chuyển giao công nghệ hiện đại cho Việt
Nam và giảm chi phí sản xuất cho các nhà đầu tư.
Bên cạnh đó Việt Nam cam kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài
thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong các ngành: khai thác
hỗ trợ dầu khí, phân phối, ngân hàng và dịch vụ chứng khoán theo các lộ
trình cam kết khác nhau. Cam kết này góp phần thu hút đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhìn chung, các cam kết WTO đều khá có lợi cho hoạt động thực hiện
vốn nước ngoài, góp phần tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp nhận một dòng
vốn đầu tư nước ngoài mới.
II. Giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài sau khi
Việt Nam gia nhập WTO.
Một là, chính phủ Việt Nam tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lí: chính
phủ Việt Nam cần đưa ra các chính sách, quy định đa dạng hoá các hình thức
đầu tư, các chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài vào các vùng, các ngành và
lĩnh vực theo định hướng kinh tế xã hội của Việt Nam và các chính sách
giám sát việc thực hiện vốn FDI, thưc hiện nhất quán và minh bạch trong các
cơ sở đầu tư, giảm tối thiểu sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư ngoài nước. Các chính sách, quy định này phải được dựa trên sự tôn
trọng các quy luật thị trường và các quy luật tự do thương mại. Chính phủ
tiếp tục tiến hành rà soát, sửa đổi bổ xung và loại bỏ những chính sách, quy
định không phù hợp gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Hai là, chính phủ Việt Nam tiếp tục tiến hành các cải cách hành chính liên
quan đến các thủ tục hải quan, thủ tục về thuế, thủ tục cấp giấy phép đầu tư,
thủ tục tuyển dụng lao động theo cơ chế của một đầu mối, thủ tục liên quan
đến đát đai và nhân khẩu, thủ tục hoàn thuế. Chính phủ Việt Nam tiến hành
việc cải cách cấp thủ tục hành chính song song với việc phân rõ trách nhiệm
quản lý giữa Bộ kế hoạch đầu tư, các cơ quan cấp bộ, các cơ quan ngang bộ
và các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ, các uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
nhằm tránh tình trạng chồng chéo trong việc thực hiện các thủ tục hành
chính.
Ba là, Chính phủ Việt nam tiếp tục xây dựng một thể chế thị trường hoàn
chỉnh với các thị trường lao động, thị trường đất đai cũng như các thể chế
vận hành thị trường bằng cách tăng cường thi hành và sửa đổi các luật như:
Luật Cạnh tranh, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư.
Bốn là, cây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại trên cả kết cấu hạ tầng
“cứng” cũng như kết cấu hạ tầng “mềm”. Chính phủ Việt Nam nâng cao chất
lượng của mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống điện, hệ thống cấp thoát
nước,hệ thống các đường giao thông, sân bay, bến cảng , kho tàng bến bãi
song song với việc nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, y tế
,giáo dục. Sau khi Việt nam gia nhập WTO, chính phủ Việt nam có thể sử
dụng thêm nguồn vốn từ các khoản trợ cấp bị bãi bỏ theo cam kết WTO cho
việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng mềm thì
việc phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng . Việc phát triển
nguồn nhân lực Việt Nam cần dựa trên một chiến lược cụ thể, có hệ thống để
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phục vụ lâu dài cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và mở rộng
phạm vi các trường dạy nghề trên toàn quốc.
Nếu Việt Nam thực hiện đồng bộ các giải pháp nói trên thì sức hấp dẫn
đầu tư nước ngoài của thị trường Việt Nam sẽ được nâng lên so với các nước
trên thế giới và trong khu vực.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
KẾT LUẬN
Trong kiều kiện ngày nay của VN khi mà nội lực trong nước không thể đáp
ứng nhu cầu về vốn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vốn đầu tư
nước ngoài là một bộ phận không thể thiếu trong vốn đầu tư xã hội. Vốn đầu tư
nước ngoài góp phần vào sự phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội của VN. Vì
vậy, việc thu hut và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và là một trong những tiền đề để
thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Khi nghiên cứu đề tài "thu
hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài sau khi VN gai nhập WTO", tác giả đứng
trên quan điểm toàn diện để làm sõ hai vấn đè cơ bản sau :
Về mặt lí lụân đề tài làm rõ khái niệm về vốn đầu tư nước ngoài (FDI ) cùng
các quan điểm của đảng và nhà nước VN về vốn đầu tư nước ngoài.

Về mặt thực tiễn, đề tài nghiên cứu tính hợp lí cũng như tính chưa hoàn thiện
trong vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài và các ảnh hưởng của sự
kiện Việt Nam ra nhập WTO đối với đầu tư nước ngoài ở VN. Trên cơ sở đó đề
tài đề xuất một số giải pháp để thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài có hiệu
quả.
Có thể khẳng định việc nghiên cứu vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư
nước ngoài trong điều kiện Việt Nam là cần thiết, phù hợp với nhu cầu thực tiễn.
14

Xem chi tiết: _u_t_n_c_ngo_i_v_o_vi_t_nam


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét