Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần nhà Hà Nội

Chuyên đề tốt nghiệp
Lời nói đầu
ể từ đại hội đảng VI (Năm 1986) đến nay, đất nước ta đã qua 20
năm đổi mới, đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. K
Dưới sự quản lý của nhà nước, nền kinh tế đã có những bước phát
triển mạnh mẽ cả về “chất và lượng”. Thể hiện bằng việc số lượng các
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trong cả nước tăng lên nhanh chóng, đặc
biệt là trong một vài năm trở lại đây. Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của
các doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực, với nhiều ngành nghề sản xuất kinh
doanh khác nhau đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn. Do đó, vai trò to lớn
của hệ thống Ngân hàng, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại ngày càng
được khẳng định.
Như chúng ta đã biết, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu, tạo ra
doanh thu và lợi nhuận, thậm chí nó còn quyết định sự tồn tại và phát triển
của mỗi Ngân hàng. Nhưng, vì nhiều nguyên nhân hoạt động tín dụng tại các
ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn gặp nhiều rủi ro. Những rủi ro này
không chỉ có ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Ngân hàng nói riêng, mà còn
tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Có nhiều biện
pháp để giảm thiểu rủi ro tín dụng, nhưng nâng cao chất lượng tín dụng
trong Ngân hàng là biện pháp có tính chiến lược nhất cả trong ngắn hạn và
dài hạn.
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay, em đang là sinh viên thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần nhà Hà Nội, chính vì thế em đã quyết định chọn đề tài:
“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần nhà Hà Nội” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I. Một số vấn đề chung về chất lượng tín dụng
Ngân hàng
1.1. Tổng quan về tín dụng Ngân hàng
1.1.1. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng
Theo Luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín
dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng.
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử
dụng một khoản tiền vay với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho
vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ
khác.
Vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng
với các cá nhân và tổ chức dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (cả gốc và
lãi) sau một thời gian nhất định.
Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng, người cho vay chỉ nhượng lại
quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời hạn nhất định. Do người
đi vay không có quyền sở hữu số vốn ấy, nên phải hoàn trả lại người cho vay
khi đến thời hạn đã thỏa thuận. Việc hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về
mặt giá trị mà còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức.
Quá trình vận động mang tính hoàn trả của tín dụng là biểu hiện đặc
trưng nhất cho sự khác biệt giữa quan hệ tín dụng với các quan hệ kinh tế
khác.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả hoạt động đi vay và cho
vay. Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như Ngân hàng hoặc
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
7
Chuyên đề tốt nghiệp
các trung gian khác (Ví dụ như tín dụng Ngân hàng) thì chủ yếu bao hàm
nghĩa là Ngân hàng cho vay. (Giáo trình Ngân hàng thương mại, Khoa Ngân
hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân).
1.1.2. Bản chất và vai trò của tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1. Bản chất của tín dụng Ngân hàng
Từ khái niệm tín dụng Ngân hàng, bản chất của tín dụng Ngân hàng
được thể hiện trên hai khía cạnh:
- Thứ nhất, là mối quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng với các cá nhân, tổ
chức trong cho vay là hoạt động chủ yếu.
- Thứ hai, dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (cả gốc và lãi) trong một thời xác
định, với những thỏa thuận giữa hai bên (Ngân hàng và các cá nhân, tổ
chức).
1.1.2.2. Vai trò của tín dụng Ngân hàng
- Đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Như chúng ta đã biết, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của các
Ngân hàng thương mại, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của một Ngân
hàng trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận
nhiều nhất cho một Ngân hàng thương mại. Cùng với sự phát triển của khoa
học công nghệ, sự thay đổi trong môi trường kinh doanh, nhiều hoạt động
mới trong Ngân hàng đã xuất hiện song hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt
động cơ bản chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ các hoạt động của các Ngân
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
8
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng thương mại. Hoạt động cho vay thường chiếm trên 70% tổng tài sản
có. Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao.
- Đối với nền kinh tế thị trường
Vốn là yếu tố rất quan trọng trong các hoạt động của mỗi cá nhân và
tổ chức kinh tế, khi có đủ vốn họ có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện các
kế hoạch đầu tư sản xuất và ngược lại, khi thiếu vốn sẽ ảnh hưởng không
nhỏ tới hoạt động kinh doanh. Với chức năng nhận tiền gửi và cho vay, sự
có mặt của Ngân hàng với hoạt động tín dụng được coi như một trung gian
kết nối nhu cầu của những người thừa vốn với những người thiếu vốn. Lãi
suất huy động và lãi suất cho vay của Ngân hàng là công cụ điều chỉnh các
quan hệ cung cầu vốn tín dụng. Nhờ có Ngân hàng với hoạt động tín dụng
mà vốn được quay vòng một cách liên tục, điều này không những làm tăng
khả năng tích luỹ của Ngân hàng mà còn thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh
tế nhờ vào nguồn thu từ việc cấp tín dụng của Ngân hàng. Tín dụng Ngân
hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tất cả các thành phần
kinh tế để cho các cá nhân, doanh nghiệp vay góp phần mở rộng sản xuất
kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại các ngành kinh tế phát triển đối
lập nhau. Một số ngành có điều kiện phát triển mạnh, trở thành ngành kinh
tế chủ lực, ngược lại, cũng có một số ngành do nhiều nguyên nhân khác
nhau (nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn), nên kém phát triển. Để có thể
cân đối lại cơ cấu kinh tế giữa các ngành điều quan trọng là phải có vốn, tín
dụng Ngân hàng đáp ứng một phần yêu cầu đó. Ngân hàng cung cấp cho các
ngành thực hiện đầu tư theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, hình thành các
ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý đồng thời khai
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
9
Chuyên đề tốt nghiệp
thác triệt để các nguồn lực, điều này thể hiện qua việc cấp tín dụng cho các
dự án, chương trình phát triển để thúc đẩy nhanh tốc độ dịch chuyển cơ cấu
kinh tế. Tín dụng Ngân hàng góp phần cơ cấu lại nền kinh tế.
Với chức năng huy động những nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, tín
dụng Ngân hàng đã trực tiếp lảm giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong
lưu thông. Lượng tiền dư thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp
thời có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tình trạng lưu thông tiền tệ dẫn đến
mất cân đối trong quan hệ tiền - hàng, và hệ thống giá cả bị biến động là
điều khó tránh khỏi. Do đó, tín dụng Ngân hàng đã góp phần ổn định tiền tệ
và ổn định giá cả, trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát, tín dụng Ngân
hàng còn được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần
làm giảm lạm phát.
Trong điều kiện hiện nay, các nước đều tiến hành mở cửa nền kinh tế,
nên hoạt động giao lưu kinh tế giữa các nước với nhau diễn ra ngày càng
nhiều. Tín dụng Ngân hàng là một phương tiện nối liền kinh tế các nước với
nhau thông qua hoạt động đầu tư vốn xuyên quốc gia, ngoài ra tín dụng
Ngân hàng còn đáp ứng các nhu cầu về xuất nhập khẩu. Do đó, tín dụng
Ngân hàng sẽ góp phần phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại.
1.1.3. Các hình thức của tín dụng Ngân hàng
1.1.3.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm thường
được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các
doanh nghiệp và cho vay phục vụ sinh hoạt tiêu dùng cá nhân.
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
10
Chuyên đề tốt nghiệp
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên một năm đến năm
năm, loại tín dụng này dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài
sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công
trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ năm năm trở lên, loại tín
dụng này được sử dụng để cung cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở
rộng sản xuất với quy mô lớn: Đầu tư xây dựng các công trình thuộc cơ sở
hạ tầng . . .
1.1.3.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng thường được
cung cấp cho các doanh nghiệp để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng thường được cung cấp cho các cá
nhân nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Tín dụng tiêu dùng thường được
cung cấp cho việc mua sắm nhà, ô tô, thiết bị gia đình khác . . .
1.1.3.3. Căn cứ vào đối tượng tín dụng
- Tín dụng vốn lưu động: Được cung cấp để hình thành vốn lưu động cho
doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.
Thường được thể hiện dưới các hình thức: Cho vau để dự trữ hàng hóa, cho
vay để trang trải trong sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới
hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá.
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
11
Chuyên đề tốt nghiệp
- Tín dụng vốn cố định: Được cung cấp để hình thành vốn cố định cho doanh
nghiệp. Tín dụng vốn cố định thường dùng để đầu tư mua sắm, xây dựng các
xí nghiệp và công trình mới . . .
1.1.3.4. Tín dụng được chia theo đảm bảo
- Tín dụng không có bảo đảm: Là hình thức tín dụng không có tài sản thế
chấp, chỉ cho vay đối với những khách hàng quen, có uy tín, hoạt động kinh
doanh ổn định, có lãi hoặc những đối tượng do Chính phủ quy định. Các
khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn hoặc những
khoản cho vay trong thời gian ngắn mà Ngân hàng có khả năng giám sát . .
cũng có thế không cần tài sản đảm bảo. (Giáo trình Ngân hàng thương mại,
Khoa Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân).
- Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức tín dụng có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc được bảo lãnh bởi người thứ ba.
1.2. Chất lượng tín dụng Ngân hàng
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp muốn đứng vững thì cạnh
tranh là yếu tố không thể tránh khỏi, sản xuất càng phát triển thì cạnh tranh
càng gay gắt. Cạnh tranh diễn ra trên 4 phương diện chủ yếu:
- Chất lượng
- Giá cả
- Sự đa dạng hàng hóa về chủng loại và mẫu mã
- Tốc độ cung ứng hàng hóa kịp thời
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đó, chất lượng là yếu tố quan trọng nhất tạo điều kiện giúp
doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường.
Với hoạt động của các Ngân hàng thương mại cũng thế, chất lượng tín
dụng là yếu tố hàng đầu quyết định kết quả kinh doanh của mỗi Ngân hàng.
Chất lượng tín dụng Ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất của
Ngân hàng đối với những yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng với
Ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn, tăng lợi nhuận cho Ngân hàng.
Chất lượng tín dụng Ngân hàng được xem xét trên 3 khía cạnh
- Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Chất lượng tín dụng được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích
phù hợp với chính sách tín dụng của Ngân hàng hoàn trả gốc và lãi đúng
hạn, đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả
năng cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường.
- Xét trên góc độ lợi ích của khách hàng
Chất lượng tín dụng phải phù hợp với mục đích sử dụng, với lãi suất
và kỳ hạn hợp lý, thủ tục tín dụng đơn giản, thuận tiện thu hút được nhiều
khách hàng, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với nền kinh tế
Chất lượng tín dụng phải hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh, tiêu dùng
hợp pháp góp phần phục vụ sản xuất lưu thông hàng hóa, giải quyết công ăn
việc làm, xây dựng các cơ sở kinh tế xã hội . . . giải quyết mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế với tăng trưởng tín dụng.
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong bài viết của mình em chỉ xem xét chất lượng tín dụng trên khía
cạnh hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.2. Các chỉ tiêu biểu hiện chất lượng tín dụng Ngân hàng
- Dư nợ tín dụng
Phản ánh số tiền mà Ngân hàng cho khách hàng vay, tuy nhiên khoản
vay này chưa đến hạn thanh toán hoặc những khoản vay này đang nằm trong
tình trạng nợ quá hạn.
Mặc dù bao gồm cả những khoản nợ quá hạn, song chỉ tiêu dư nợ tín
dụng được các Ngân hàng rất quan tâm, vì chỉ tiêu này cho biết quy mô tín
dụng của Ngân hàng thông qua việc so sánh giữa các thời kỳ với nhau. Sự
tăng lên hay giảm xuống của dư nợ tín dụng phản ánh chất lượng tín dụng
của Ngân hàng. Nếu dư nợ tín dụng tăng đều và ổn định qua các thời kỳ,
chứng tỏ chất lượng tín dụng Ngân hàng tốt. Ngược lại, khi dư nợ tín dụng
giảm nhanh và có tính hệ thống qua các thời kỳ điều đó chứng tỏ hoạt động
tín dụng của Ngân hàng đang có vấn đề, và có thể chất lượng tín dụng của
Ngân hàng xấu, nguyên nhân có thể là: Chất lượng dịch vụ không tốt, trình
độ của nhân viên tín dụng yếu kém, Ngân hàng đang phải giải quyết một số
khoản vay xấu . . .
- Lãi cho vay thu từ hoạt động tín dụng
Lãi cho vay thu từ hoạt động tín dụng càng cao, chứng tỏ dư nợ tín
dụng của Ngân hàng tăng trưởng tốt, ổn định qua các thời kỳ, khách hàng trả
nợ gốc, lãi vay và các khoản phí đầy đủ, đúng hạn. Chứng tỏ hoạt động tín
dụng của Ngân hàng càng có hiệu quả.
Lê Minh Hải, lớp TCDN 44C khoa Ngân hàng - Tài Chính
Trường đại học Kinh tế Quốc Dân
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét