Nhờ những đột phá quan trọng trong các chính sách đất đai đã mang lại những
Nhờ những đột phá quan trọng trong các chính sách đất đai đã mang lại những
thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và tăng trưởng kinh tế ở Việt
thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam gần 20 năm qua góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội.
Nam gần 20 năm qua góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội.
Tuy nhiên, chính sách đất đai mới chủ yếu điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã
Tuy nhiên, chính sách đất đai mới chủ yếu điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã
hội và ruộng đất trong nông nghiệp nông thôn. Trong khi nền kinh tế thị trường
hội và ruộng đất trong nông nghiệp nông thôn. Trong khi nền kinh tế thị trường
hiện đại đòi hỏi chính sách đất đai bao quát rộng và toàn diện trên các lĩnh vực
hiện đại đòi hỏi chính sách đất đai bao quát rộng và toàn diện trên các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh, đầu tư, du lịch, qui hoạch, giao thông, kinh doanh bất động
sản xuất kinh doanh, đầu tư, du lịch, qui hoạch, giao thông, kinh doanh bất động
sản… chứ không bó hẹp trong nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, trong những
sản… chứ không bó hẹp trong nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, trong những
năm gần đây, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng, chuyển
năm gần đây, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng, chuyển
nhượng, kinh doanh đất đai ở các lĩnh vực, các vùng ngày càng lớn đã phát sinh
nhượng, kinh doanh đất đai ở các lĩnh vực, các vùng ngày càng lớn đã phát sinh
nhiều vấn đề mà chính sách đất đai khó giải quyết. Đặc biệt, thị trường bất động
nhiều vấn đề mà chính sách đất đai khó giải quyết. Đặc biệt, thị trường bất động
sản trong thời gian qua biến động khó lường gây lúng túng nhiều phía từ các
sản trong thời gian qua biến động khó lường gây lúng túng nhiều phía từ các
tầng lớp dân cư, nhà đầu tư và cả những người làm chính sáchTình hình trên đã
tầng lớp dân cư, nhà đầu tư và cả những người làm chính sáchTình hình trên đã
được các cấp chính quyền địa phương (tùy theo tình hình cụ thể) đưa ra cách
được các cấp chính quyền địa phương (tùy theo tình hình cụ thể) đưa ra cách
giải quyết khác nhau, thậm chí tùy tiện gây bất bình trong dư luận.Trước tình
giải quyết khác nhau, thậm chí tùy tiện gây bất bình trong dư luận.Trước tình
hình đó, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo, ban hành và chỉnh sửa các điều khoản
hình đó, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo, ban hành và chỉnh sửa các điều khoản
của Luật Đất đai (Luật Đất đai sửa đổi năm 1998, 2001); và các văn bản dưới
của Luật Đất đai (Luật Đất đai sửa đổi năm 1998, 2001); và các văn bản dưới
luật khác cho phù hợp.
luật khác cho phù hợp.
Vấn đề đặt ra là đã đến lúc cần đánh giá nghiêm túc và toàn diện vai trò, ý nghĩa
Vấn đề đặt ra là đã đến lúc cần đánh giá nghiêm túc và toàn diện vai trò, ý nghĩa
của chính sách đất đai trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế, làm sáng tỏ những vấn
của chính sách đất đai trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế, làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách đất đai phù hợp
đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách đất đai phù hợp
với thời kỳ chuyển đổi kinh tế sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
với thời kỳ chuyển đổi kinh tế sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam
Việt Nam
.
.
CHƯƠNG 2
2. Thực trạng chính sách đất đai thời kỳ đổi mới kinh tế (1981-2005)
2.1 Quan điểm, chính sách đất đai của nhà nước
2.1.1 Giai đoạn 1981-1992: triển khai về chính sách đất đai
Đây là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung bao cấp bộc lộ một cách toàn diện mặt
tiêu cực của nó, mà hậu quả là cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc vào
cuối những năm 70 đầu những năm 80. Đầu thập niên 1980, sản xuất lương thực
không đáp ứng được nhu cầu đời sống của nhân dân, hàng năm vẫn phải nhập
trên 1 triệu tấn lương thực.
Trong khó khăn, một số địa phương đã mạnh dạn tìm cách tháo gỡ và làm thử
cách quản lý mới. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và rút kinh nghiệm qua các thí
điểm, ngày 13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương đảng khóa V đã ra
Chỉ thị số 100/CT-TƯ về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người
lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100). Chỉ thị 100 là
khâu đột phá mở đầu sự đổi mới đã có tác dụng ngăn chặn sự xa sút và tạo đà đi
lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Từ đó nền nông nghiệp bước đầu
có khởi sắc, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 14,4 triệu tấn năm 1980 tăng
lên 18,4 triệu tấn năm 1986, bình quân mỗi năm tăng gần 70 vạn tấn, gấp 3 lần
mức tăng trước đó. Mặc dù vậy, cơ chế “Khoán 100” cũng không thể tháo gỡ
hết những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp. Ngày 05-04-1988, Nghị quyết
10/NQ- TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành (hay còn
gọi “Khoán 10”): Nghị quyết 10, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa
nhận là đơn vị kinh tế tự chủ. Nghị quyết 10 đã được giai cấp nông dân tiếp
nhận với tinh thần phấn khởi thực hiện, đưa lại nhiều chuyển biến rõ rệt: sản
xuất lương thực đã có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5
triệu tấn năm 1989, tức là tăng thêm 2 triệu tấn trong 1 năm, tốc độ tăng trưởng
trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục chưa từng có. Tuy nhiên, “Khoán 10"
chưa đề cập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác
xã mới.
Văn bản đầu tiên do Nhà nước ban hành về đất đai và ruộng đất thể hiện tinh
thần đổi mới của Đại hội VI là Luật Đất đai năm 1987. Ngày 15-07-1992, Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 327/CT chính sách sử dụng ruộng đất
đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước với nội dung: lấy hộ gia đình
làm đơn vị sản xuất để giao đất rừng, giao đất bãi bồi với những điều kiện rộng
rãi: mỗi hộ được giao đất rừng tùy khả năng trong đó có 5000 m
2
kinh tế vườn
(nếu là đất rừng), 300 m
2
(nếu là đất trồng cây công nghiệp), 700 m
2
(nếu là đất
bãi bồi). Nhà nước dành 60% vốn dự án để xây dựng kết cấu hạ tầng, 40% còn
lại cho hộ gia đình vay không lấy lãi. Những hộ chuyển vùng đến khu kinh tế
mới được phép chuyển quyền sử dụng đất canh tác, đất thổ cư để lấy tiền làm
vốn. Trong Quyết định này Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng khuyến khích
các doanh nghiệp, các công ty tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ vốn đầu tư
dưới hình thức đồn điền, trang trại.
Như vậy chính sách đất đai giai đoạn 1981-1992 chủ yếu
Thể hiện tinh thần đổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm,
chủ yếu là mang tính thăm dò, thí điểm
Chủ yếu là điều chỉnh trong nông nghiệp và các đơn vị tập thể như nông, lâm
trường, hợp tác xã
Quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của cá nhân vẫn chưa được thừa nhận.
2.1.2 Giai đoạn 1993-2005: đẩy mạnh thực hiện chính sách đất đai
Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc
giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân. Đồng thời
giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển đổi,
quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm
tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho
những người sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 1993 là một trong những đạo luật quan trọng thể hiện đường
lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Những kết quả đạt được trong việc thực
hiện đạo luật này đã thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị- xã
hội.
Ngày 02-12-1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai được ban
hành và ngày 01-10-2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của Luật Đất đai. Luật
sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò quản lý
nhà nước đối với đất đai.
Ngày 10-12-2003 Luật Đất đai năm 2003 lại tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được ban hành và có hiệu
lực ngày 01-07- 2004, thể hiện trong Điều 61, 62, 63 của Luật Đất đai đã thừa
nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.
Như vậy, chính sách đất đai giai đoạn 1993 đến nay
Về ưu điểm: quyền sử dụng đất lâu dài của cá nhân đã được thừa nhận và
đảm bảo thực hiện; đồng thời, có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực
tiễn.
Về khuyết điểm: chính sách thiếu tầm chiến lược, không có khả năng dự báo dài
hạn, thay đổi thường xuyên thể hiện tính đối phó và xử lý tình huống.
2.2 Tác động của chính sách đất đai đến phát triển kinh tế-xã hội
2.2.1 Tác động của chính sách đất đai đối với sự chuyển biến quan hệ ruộng đất
trong nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác động tích cực
Một trong những thành tựu nổi bật, khởi sắc của nông nghiệp Việt Nam trong
thập kỷ vừa qua là sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn đã thực sự được
giải phóng. Nông nghiệp và kinh tế nông thôn có nhịp độ tăng trưởng khá: giai
đoạn 1986 – 2004, nông nghiệp tăng trưởng 3,905%, đặc biệt giai đoạn 1996-
2000 tăng trưởng cao 4,47% là mức tăng trưởng lý tưởng để đảm bảo kinh tế
phát triển và bảo đảm an ninh lương thực của đất nước. Tỷ lệ hộ nghèo ở nông
thôn giảm từ 29% năm 1990 đến năm 2004 còn 11% (theo tiêu chí của Việt
Nam). Tăng tỷ lệ thời gian lao động ở khu vực nông thôn từ 72,46% giai đoạn
1996 – 2000 lên 76,58% giai đoạn 2001- 2004. Hiện có 1,35 triệu cơ sở ngành
nghề nông thôn, thu hút trên 10 triệu lao động, góp phần cải thiện đời sống nông
dân và bộ mặt nông thôn.
Tác động tiêu cực
Thứ nhất, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp và manh mún, quản lý sử
dụng kém hiệu quả.
Với tốc độ tăng dân số bình quân từ năm 1990 đến năm 2004 là 1,6%/năm làm
đất canh tác ở các vùng nông thôn Việt Nam ngày càng bị thu hẹp [phụ lục 4]
Thứ hai, việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã và đang
đựơc triển khai trong cả nước nhưng một số nơi tiến hành còn chậm.
Thứ ba, các hợp tác xã kiểu cũ đến nay không còn thích hợp với nền kinh tế thị
trường cần phải có những thay đổi.
Thứ tư, việc cụ thể hóa 5 quyền sử dụng đất: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, thế chấp và thừa kế cho đến nay chưa thông suốt
Thứ năm, tiêu cực của cán bộ nhà nước trong quản lý và thực hiện chính sách
đất đai
2.22. Tác động của chính sách đất đối với sự hình thành thị trường động sản ở
Việt Nam
Thị trường bất động sản Việt Nam trước năm 1993
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980, đất đai và bất động sản ở
Việt Nam thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng… do đó, hoạt động giao dịch
mua bán, thuê mướn, cầm cố đất đai, nhà cửa diễn ra bình thường. Sau cải cách
ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc, đất đai và
bất động sản được phân phối lại.Các bên tham gia giao dịch theo cách thức tự
tìm đến nhau và tự thỏa thuận giá cả. Trong giai đoạn này, mặc dù Nhà nước
chưa có văn bản pháp luật về giao dịch bất động sản, nhưng Nhà nước vẫn thừa
nhận hợp thức hóa các thủ tục giao dịch mua bán, thuê mướn… và thu lệ phí
trước bạ (thuế trước bạ) khi đăng ký quyền sở hữu nhà, đất.
Nhìn chung, trong giai đoạn từ năm 1980 đến đầu thập kỷ 90, thị trường bất
động sản ở Việt Nam là thị trường ngầm và hình thành một cách tự phát.
• Thị trường bất động sản ở Việt Nam từ năm 1993 đến nay
Điều 3, Luật Đất đai năm 1993: “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp
của người sử dụng đất; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất
cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất từ người khác có các quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất theo qui định của Luật này và các qui định khác của pháp
luật. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; các quyền, nghĩa vụ của
người sử dụng đất chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất, thuê đất và đúng
mục đích sử dụng của đất được giao, được thuê theo qui định của Luật này và
các quy định khác của pháp luật”. Tiếp đó, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã có qui
định về các điều kiện, nội dung hợp đồng mua bán tài sản, về chuyển đổi, cho
thuê, thế chấp quyền sử dụng đất. Đây là sự thay đổi mang tính đột phá, tạo cơ
sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản.
CHƯƠNG 3
3. Những thành tựu và hạn chế của chính sách đất đai trong thời kỳ đổi mới
kinh tế từ 1981-2005
3.1 Những thành tựu:
• Các quyền sở hữu tài sản đối với đất đai của nhân dân được Nhà nước thiết lập
và đảm bảo thực hiện
Ở Việt Nam, thực chất các quyền: sử dụng, thừa kế, chuyển đổi, chuyển
nhượng, thế chấp và cho thuê là những biểu hiện của quyền sở hữu ruộng đất về
mặt kinh tế. Hay nói cách khác, việc xác lập 5 quyền về đất đai như vậy thực
chất là trao cho người dân quyền sở hữu có hạn chế về đất đai. Xác lập quyền sở
hữu ruộng đất bao gồm xác lập quyền sở hữu pháp lý của Nhà nước và quyền sở
hữu kinh tế cho những người sử dụng.
cho dù quyền sở hữu ruộng đất có hoàn toàn thuộc tư nhân thì tính pháp lý vẫn
thuộc về Nhà nước bởi vì, chủ ruộng đất vẫn phải chuyển quyền sở hữu ruộng
đất cho Nhà nước để sử dụng vào mục đích chung dưới hình thức mua bán hoặc
cho thuê. Vì vậy, suy cho cùng đối với những chủ ruộng đất, những người sử
dụng ruộng đất, quyền sở hữu kinh tế (hay còn gọi là quyền hưởng dụng) là
quyền lợi của họ trong sử dụng ruộng đất. Quyền hưởng dụng được xác lập ở
hầu hết các nước, mặc dù nó thể hiện ở những hình thức khác nhau, ví dụ quyền
tư hữu về ruộng đất nhưng lưu ý rằng quyền tư hữu về đất cũng bị Nhà nước
rằng buộc bởi các điều kiện khác, như là ràng buộc về mục đích sử dụng, quy
hoạch chung… Đối với nước ta, trong tiến trình đổi mới, ruộng đất đã được trả
lại quyền hưởng dụng cho hộ nông dân và các tổ chức sản xuất kinh doanh.
• Thành tựu trong đổi mới quản lý và sử dụng đất đai:
Giáo sư Lan Williamson, Đại học Melbourne, Úc, người chỉ đạo cuộc điều tra
về thị trường đất đai khu vực nông thôn Việt Nam, nhận xét: “…trong quãng
thời gian 10 năm, Việt Nam đã tạo ra một thị trường đất đai chính thức khá
năng động ở khu vực nông thôn.Đây là một thành tựu rất lớn so với các nước
khác trên thế giới và Việt Nam có thể tự hào về điều này”.
Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu á (tại hội thảo công bố kết quả
điều tra về thị trường đất đai khu vực nông thôn Việt Nam, ngày 4-11-2004):
Việt Nam đã đạt được tiến bộ lớn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp khi triển khai Luật Đất đai năm 1993. Các cơ chế thị
trường chính thức có hiệu quả đã được thiết lập cho việc chuyển nhượng và thế
chấp đất nông nghiệp.
Không chỉ thành công trong thị trường đất đai khu vực nông thôn, chính sự sôi
động thị trường đất đai khu vực thành thị mới thể hiện rõ nét sự tiến bộ trong
chính sách đất đai Việt Nam. Từ những qui định về giao đất sử dụng ổn định lâu
dài đến việc mở rộng các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế,
thế chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh đã
giúp cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư, bảo vệ và khai thác sử dụng đất có
hiệu quả.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy một số vấn đề cản trở sự tham gia
bình đẳng của người dân vào thị trường đất đai khu vực nông thôn. Ví dụ, việc
phải đóng phí sử dụng đất khá cao để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ở đã làm cho nhiều hộ nghèo chưa nhận được giấy chứng nhận. Mức phí
phải đóng để đăng ký một số thay đổi mục đích sử dụng đất cũng là cao đối với
người nghèo.
• Bước tiến của quyền bình đẳng về giới được xác lập trong chính sách đất đai:
Một trong những nội dung quan trọng của Luật Đất đai năm 2003 qui định tại
Điều 48, khoản 3 như sau: “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của
vợ, chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ,
tên chồng”.
Đây được coi là một bước tiến mới trong vấn đề bình đẳng giới nói chung và
quyền của người phụ nữ trong việc sử dụng đất đai nói riêng. Theo số liệu thống
kê mới đây, hiện nay 97% phụ nữ Việt Nam không đứng tên trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Thực tế này đã dẫn đến những hậu quả bất lợi cho
chính người phụ nữ. Vì thế, việc đổi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đai có ghi cả tên vợ và chồng là cần thiết, đã khẳng định được quyền bình đẳng
nam nữ trong việc thực hiện các quyền do pháp luật đã qui định.
3.2 Những hạn chế của chính sách đất đai hiện nay và nguyên nhân
3.2.1 Hạn chế trong xây dựng và thực thi chính sách
Thứ nhất, do công tác tuyên truyền chưa tốt nên sự phân định của Nhà nước
giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai thiếu rõ ràng, không chặt chẽ dẫn
đến những cách hiểu khác nhau và thực hiện khác nhau từ những cơ quan quản
lý nhà nước đến người dân. Người sử dụng đất không nắm chắc quyền và nghĩa
vụ của mình, trong khi pháp luật quy định không thật rõ ràng, chặt chẽ đã xảy ra
tình trạng vi phạm, tranh chấp, khiếu kiện gây mất ổn định trị an trong xã hội;
chính quyền các cấp, nhất là các cấp xã, phường, thị trấn quản lý đất đai không
nghiêm, ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Thực tế đã chứng minh rằng một
khi lý luận lờ mờ thì thực tế tùy tiện.
Thứ hai, về mặt pháp lý cũng như thực tiễn thừa nhận đất đai là một hàng hóa
đặc biệt, quyền sử dụng đất là có giá trị và được đem ra trao đổi, mua bán,
chuyển nhượng trên thị trường. Tuy nhiên, các chính sách về đất đai, nhà ở lại
chưa phù hợp với các yêu cầu và các quy luật hoạt động của nền kinh tế thị
trường.
Thứ ba, các chính sách về đất đai, cụ thể là chính sách thuế, phí, lệ phí sử dụng
đất, bồi thường giải phóng mặt bằng… chưa thể hiện được nguyên tắc phân
phối địa tô giữa người sử dụng đất và chủ sở hữu đất làm thất thoát các nguồn
lợi do đất mang lại từ Nhà nước chuyển sang người sử dụng và chiếm giữ đất
đai.
Thứ tư, công tác qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai của Chính phủ bộc lộ
nhiều yếu kém và mang nặng tính hình thức, chưa phù hợp với yêu cầu thực tế
và định hướng phát triển kinh tế xã hội, xem [phụ lục 1]
Nguyên nhân làm cho việc hợp thức hóa các quyền về bất động sản ở nước ta
chậm, là: (1) Do buông lỏng trong công tác quản lý trong một thời gian dài, nên
khối lượng công việc ứ đọng rất lớn; (2) Thủ tục cấp giấy chứng nhận phức tạp,
rườm rà.
Thứ năm, việc phân định trách nhiệm quản lý đất đai cho các cấp các ngành
chưa rõ ràng, còn thiếu cụ thể, không rõ trách nhiệm dẫn đến sự trùng lắp trong
các văn bản làm cho việc triển khai thi hành pháp luật khó khăn, lúng túng
Thứ sáu, hệ thống văn bản pháp luật và chính sách đất đai được ban hành quá
nhiều, thay đổi thường xuyên, thiếu thống nhất, còn chồng chéo do nhiều cấp
khác nhau ban hành (từ trung ương đến địa phương) làm cho việc quản lý đất
đai gặp nhiều khó khăn; hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý đất đai thiếu
tính thống nhất từ trên xuống dưới.
• Hạn chế do hoạt động của thị trường bất động sản không chính thức gây ra:
Thứ nhất, sử dụng đất đai và bất động sản kém hiệu quả, lãng phí.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét