Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Minh Phong
trong cách định nghĩa của mình các tác giả đều đồng nhất vốn với tài sản của
doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà
doanh nghiệp đang nắm giữ. Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, vốn đợc quan
niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đâù và các quá trình sản xuất tiếp theo
của doanh nghiệp. Các định nghĩa này đã chỉ ra vốn là một yếu tố đầu vào của
quá trình sản xuất, sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất
riêng biệt, chia cắt mà trong toàn bộ mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất liên
tục suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp .
Từ những định nghĩa về vốn ta có thể rút ra nhận xét. Trong thời kỳ bao
cấp, phần lớn vốn kinh doanh của doanh nghiệp do nhà nớc cấp hoặc cho vay với
lãi suất thấp nên ngời ta không quan tâm hoặc hầu nh không để ý tới tính
hàng hoá và các đặc trng của vốn kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trờng vốn là
yếu tố số một của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, số vốn đó không tự nhiên
có một cách dễ dàng. Vì vậy để quản lý vốn có hiệu quả thì phải xem xét đặc tr-
ng của nó.
1.2 Đặc tr ng cơ bản của vốn.
Vốn là đại diện cho một lợng giá trị tài sản. Điều đó có nghĩa là vốn là biểu
hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình nh nhà xởng, đất đai, máy
móc, thiết bị Nh vậy một lợng tiền phát hành thoát ly giá trị thực của hàng hoá
để đa vào đầu t , những khoản nợ không có khả năng thanh toán thì không đúng
với nghĩa của vốn .
Vốn phải vận động sinh lời . Vốn phải biểu hiện bằng tiền nhng tiền chỉ là
dạng tiềm năng của vốn , để biến tiền thành vốn thì đồng tiền đó phải đa vào
hoạt động kinh doanh kiếm lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi
hình thái biểu hiện nhng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn
phải là giá trị lớn hơn . Đó cũng là nguyên lý đầu t, sử dụng và bảo toàn vốn .Vì
vậy khi đồng vốn ứ đọng, tài sản cố định không sử dụng, tài nguyên, sức lao động
không dùng đến, tiền vàng bỏ ống cất trữ hoặc các khoản nợ khó đòi chỉ là
những đồng tiền chết. Mặt khác tiền có vận động nhng phân tán quay về nơi xuất
5
phát với giá trị thấp hơn thì đồng vốn cũng không đợc bảo đảm, chu kỳ vận động
tiếp theo bị ảnh hởng.
Vốn phải đợc tập trung tích tụ đến một lợng nhất định mới có thể phát huy đ-
ợc tác dụng. để đầu t vào sản xuất kinh doanh vốn phải đợc tích tụ thành món
lớn . Do đó doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của doanh nghiệp
mà phải tìm cách thu hút nguồn vốn nh: góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu,
liên doanh.
Vốn có giá trị về mặt thời gian điều này cũng có nghĩa là phải xem xét về yếu
tố thời gian của đồng vốn. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, vấn đề này
không đợc xem xét kỹ vì nhà nớc đã tạo ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả
tạo trong nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế thị trờng phải xem xét yếu tố thời
gian vì ảnh hởng của sự biến động gía cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở
mỗi thòi kỳ là khác nhau.
Vốn phải gắn với chủ sở hữu. Mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất
định . Trong nền kinh tế thị trờng không thể có những đồng vốn vô chủ, ở đâu có
đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ có chi phí lãng phí, không có hiệu quả.
Ngợc lại, chỉ có xác định chủ sở hữu rõ thì đồng vốn mới đợc sử dụng tiết kiệm
và có hiệu quả cao. Cần phải phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn là hai
quyền khác nhau. Tuỳ theo hình thức đầu t mà ngời có quyền sở hữu và quyền sử
dụng là đồng nhất hoặc là riêng rẽ. Song dù trong trờng hợp nào ngời sở hữu vốn
vẫn đợc u tiên đảm bảo quyền lợi và đợc tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình.
Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý vốn nếu vi phạm sẽ khó huy động
vốn nhàn rỗi trong xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng, vốn phải đợc quan niệm là một loại hàng hoá -
hàng đặc biệt. Những ngời sẵn có vốn có thể đa vào thị trờng, những ngời cần vốn
tới thị trờng vay nghĩa là đợc sử dụng vốn của ngời có quyền sở hữu vốn.
Trong nền kinh tế thị trờng vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài
sản hữu hình mà còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình nh: vị trí địa lý
kinh doanh, nhãn hiệu, bản quyền, phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ
6
Từ những phân tích trên chỉ ra một yếu tố cấp bách cần thiết là phải nhận
thức rõ ràng dầy đủ về vốn để quản lý có hiệu qủa.
1.3 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp .
Một xã hội muốn tồn tại và phát triển phải có những mối liên hệ về hoạt
động kinh tế làm nội lực thúc đẩy nó các hoạt động kinh tế lại cần một diều kiện
rất quan trọng đó là vốn kinh doanh.
Nói riêng về một doanh nghiệp, từ khi chuẩn bị thành lập đến khi thành
lập doanh nghiệp đã cần có một lợng vốn tích luỹ nhất định để đảm bảo điều kiện
tối thiểu về kỹ thuật và nguyên vật liệu cho doanh nghiệp có thể hoạt động một
cách ổn định, sau đó trong quá trình phát triển, do yêu cầu của cạnh tranh kinh tế,
do nhu cầu của thị trờng doanh nghiệp phải nâng cao trình độ sản xuất của lao
động, cải tiến công nghệ sản xuất mở rộng thị trờng Điều này cũng chỉ thực
hiện đợc khi có lợng vốn đợc bổ xung nhất định nào đó. Từ đó có thể thấy, vốn
đối với doanh nghiệp là điều kiện sống còn, nó gắn liền với hầu hết các loại hoạt
động của bất cứ doanh nghiệp nào .Qua đó cũng thấy đợc rằng, nếu nguồn vốn đ-
ợc sử dụng hợp lý có hiệu quả tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển, ngợc lại sử
dụng một cách lãng phí sẽ đem lại sự thất bại cho doanh nghiệp.
Đối với một nền kinh tế, một cộng đồng xã hội thì đồng vốn đầu t là yêu
cầu cấp thiết không thể thiếu đợc cho sự tồn taị và phát triển, vốn còn giúp cho xã
hội giải quyết đợc nhiều mặt quan trọng. Có vốn thì một xã hội mới giải quyết
thoả đáng những vấn đề mang tính chung cho cộng đồng nh an ninh quốc phòng,
giáo dục truyền thống, thông tin đại chúng Bên cạnh đó vốn còn làm cho
nền kinh tế phát triển một cách đồng đều và ổn định. Nhà nớc đầu t vào những
ngành kém hiệu quả nhng lại không thể thiếu đợc đối với xã hội mà các nhà đầu
t bỏ qua vì khó thu hồi vốn, cần vốn lớn, lợi nhuận thấp là: giao thông đờng xá,
cầu cống
Nh vậy đối với một doanh nghiệp hay với cả một nền kinh tế nói chung
thì một điều kiện cần thiết chung để tồn tại là phải có vốn. Dù mục đích của hoạt
động kinh tế là gì đi chăng nữa nó vẫn cần phải có nguồn đầu t nhất định chắc
chắn thì mới có thể hoạt động đợc.Từ việc nhận rõ vai trò của vốn chúng ta phải
7
chú trọng gọi, huy động thêm vốn đầu t từ những nguồn có thể giúp cho doanh
nghiệp nói riêng, nền kinh tế xã hội nói chung ngày càng phát triển.
2 Cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp khi đi vào hoạt động thì nguồn vốn đợc huy động rất
hiếm khi chỉ có một nguồn duy nhất mà hầu hết các doanh nghiệp đều phải huy
động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Điều này giúp cho doanh nghiệp và bên đầu
t tránh đợc những rủi ro không đáng có khi chỉ có một nguồn đầu t, không đủ vốn
kinh doanh ,không đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn.
Trong doanh nghiệp, vốn kinh doanh đợc kết cấu tuỳ theo loại hình kinh
doanh của từng doanh nghiệp, tuy nhiên phân loại kết cấu còn tuỳ thuộc theo
nhiều tiêu thức khác nhau.
2.1 Căn c theo nguồn hình thành thì vốn kinh doanh của doanh
nghiệp gồm :
2.1.1 Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp .
Do chủ doanh nghiệp bỏ ra để đầu t, vốn cổ phần hoặc một phần lợi
nhuận đợc giữ lại bổ xung cho vốn kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp nhà nớc vốn chủ sở hữu gồm :
Nguồn vốn do ngân sách cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách :
Nguồn vốn ngân sách gồm: Vốn cấp lần đầu và vốn cấp bổ xung trong
quá trình hoạt động.Vốn có nguồn gốc từ ngân sách gồm vốn chuyển từ doanh
nghiệp khác đến, một phần lợi nhuận, vốn viện trợ và khấu hao cơ bản giữ lại sử
dụng.
Nguồn vốn cổ phần nh cổ phiếu trái phiếu do nhà nớc phát hành hoặc các cổ
đông đầu t.
2.1.2 Nguồn vốn liên doanh liên kết.
Là vốn do đơn vị khác tham gia liên doanh liên kết với doanh nghiệp đem
đến góp chung. Đối với doanh nghiệp nhà nớc việc liên doanh liên kết có nhiều
vấn đề phức tạp trong quản lý nhà nớc, đặc biệt khó kiểm tra kiểm soát các phơng
án phân phối lợi nhuận, do vậy liên doanh liên kết trong kinh doanh cần phải quy
định thật chặt chẽ và đầy đủ trên văn bản giấy tờ kể cả quyền lợi của mỗi bên .
8
2.1.3 Nguồn vốn tín dụng .
Là các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của ngân hàng, các tổ
chức tín dụng các tổ chức tài chính, các đơn vị cá nhân trong và ngoài nớc để bổ
xung vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra còn nhiều hình thức khác nh
phát hành trái phiếu.
Việc phân biệt nguồn vốn còn cần xác định ảnh hởng của nguồn vốn đó
đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp để từ đó xác định cơ câú vốn tối u
cho doanh nghiệp.
2.2 Căn c vào công dụng kinh tế thì cơ cấu vốn của doanh nghiệp
gồm :
2.2.1 Vốn cố định
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định đợc
gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định .
Tài sản cố định là những t liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng
dài. Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn
dần và giá trị của nó đợc chuyển dịch nhiều lần vào chi phí kinh doanh. Khác với
đối tợng lao động, tài sản cố định tham gia nhiều lần vào chu kỳ kinh doanh và
giữ nguyên hình thái vật chất ban đâù cho đến lúc thải bỏ.
Do tài sản cố định trong doanh nghiệp có nhiều loại với nhiều hình thái
biểu hiện, tính chất đầu t, công dụng và tình hình sử dụng khác nhau, nên ngời ta
tiến hành phân loại tài sản cố định theo những tiêu thức nhất định để tiện cho
quản lý và sử dụng tuỳ thuôc vào quy định về tài sản của từng quốc gia, từng
doanh nghiệp cụ thể về tài sản cố định .Chúng ta có 4 loại tài sản nh sau:
Tài sản cố định hữu hình : bao gồm toàn bộ những t liệu lao động có hình thái
vật chất cụ thể, có đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng theo chế độ quy
định
Tài sản vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, phản
ánh một lợng giá trị mà doanh nghiệp đã đầu t. Theo quy định tất cả mọi khoản
chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra liên quan đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp có giá tri lớn hơn hoặc bằng 5000.000 và thời gian sử dụng lớn
9
hơn hoặc bằng 1 năm mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì đựoc coi
là tài sản cố định vô hình.
Tài sản thuê tài chính: là tài sản cố định mà doanh nghiệp đi thuê dài hạn và
đợc bên cho thuê giao quyền sử dụng và quản lý trong thời gian thuê tài sản cố
định. Tiền thu về từ cho thuê đủ dể cho ngời cho thuê trang trải đợc chi phí của
tài sản cộng với khoản lợi nhuận từ khoản đầu t đó.
Tài sản tài chính: bao gồm các khoản đầu t tài chính dài hạn với mục đích
kiếm lời có thời hạn trên 1 năm nh đầu t liên doanh dài hạn đầu t chứng khoán
dài hạn .
Khi nền kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ tài sản vô hình, tài sản thuê tài
chính và tài sản cố định tài chính càng cao.
Tài sản cố định có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ thuộc
loại hình của doanh nghiệp và khả năng tạo nguồn tài trợ của doanh nghiệp .
2.2.2 Vốn l u động .
Khác với t liệu lao động đối tợng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng đối tợng lao động khác. Phần
lớn các đối tợng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực thể sản
phẩm: bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh một số khác bị mất đi nh nhiên liệu.
Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng phải có đối tợng lao động, lợng
tiền ứng trớc để để thoả mãn nhu cầu về đối tợng lao động gọi là vốn lu thông của
doanh nghiệp hay nói dới góc độ tài sản thì vốn lu động dợc sử dụng chỉ những
tài sản lu động.
Tài sản lu động là những tài sản ngắn hạn và thờng xuyên luân chuyển
trong quá trình kinh doanh.
Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lu động chủ yếu
đợc thể hiện ở các bộ phận là tiền tồn kho. Giá trị của tài sản lu động thờng
chiếm khoảng 20-50%giá trị tổng tài sản trong các công ty kinh doanh. Sự yếu
kém trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lu
động, các khoản nợ ngắn hạn sẽ dẫn đến thất bại của doanh nghiệp.
10
2.3 Các ph ơng pháp huy động vốn .
Xây dựng chiến luợc kinh doanh và huy động vốn với chi phí thấp nhất là
yêu cầu cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thi rờng. Thực ra
đây là cách thức tạo ra vốn cho doanh nghiệp, các cách thức này có liên quan đến
cơ cấu theo nguồn hình thành. Từ đó ta thấy rằng doanh nghiệp có thể huy động
vốn từ các nguồn.
- Ngân sách quốc gia
- Trích từ lợi nhuận hoặc từ tích luỹ của chủ sở hữu
- Gọi liên doanh liên kết
- Vay nợ tín dụng
- Vay trên thị trờng tài chính
- Tín dụng nhà cung cấp tín dụng thơng mại
3. Hiệu quả sử dụng vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn
3.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn .
Điểm xuất phát để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là phải có một lợng vốn nhất định và nguồn tài trợ tơng ứng. Song sử dụng
để có hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định tới sự tăng trởng của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn đợc hiểu là với lợng vốn nhất định bỏ vào hoạt
động sản xuất kinh doanh sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất và làm cho đồng vốn
sinh sôi nảy nở.
Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản
ánh việc sử dụng vốn một cách hợp lý, nghĩa là với số vốn nhất định phải làm sao
làm đợc nhiều việc nhất và không chỉ giới hạn ở việc sử dụng vốn với số lợng
nhất định mà bao gồm cả việc tăng năng suất lao động.
Kết quả của việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả thể hiện ở mức doanh
lợi đạt đợc. Sử dụng có hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp mới
có vốn để đầu t đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ. Không những thế, nhờ
11
có vốn mà các nhà quản lý có thể dành đợc thời cơ thuận lợi trong kinh doanh. Vì
vậy việc quản lý vốn sản xuất kinh doanh sao cho đạt hiệu quả là vị trí hàng đầu
trong công tác tài chính ở doanh nghiệp , đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức
đến hiệu quả s dụng vốn .
3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kết quả tổng thể
của hàng loạt các biện pháp tổ chức, các biện pháp kinh tế kỹ thuật và tài chính.
Việc tổ chức sao cho đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh
doanh có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
3.2.1 Các chỉ tiêu tổng hợp
Để xây dựng một chỉ tiêu tổng hợp ngời ta so sánh một đại lợng biểu thị
chi phí. thông thòng chỉ tiêu tổng hợp cho ngòi ta phân tích hai khía cạnh: để đạt
đợc một đơn vị kết quả cần bao nhiêu đơn vị chi phí đầu vào hoặc một đơn vị chi
phí đầu ra tạo ra đựoc bao nhiêu đơn vị kết quả. Ba đại lợng thờng đợc sử dụng
là: doanh thu, thu nhập và lợi nhuận ròng . Các đại lợng biểu thị chi phí có thể là
tổng vốn kinh doanh, vốn chủ sở hữu, tuỳ theo góc độ xem xét của ng òi phân
tích.
Doanh thu thực hiện trong kỳ
Khả năng sản xuất kinh doanh =
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh đựoc sử dụng tạo ra mấy
đồng doanh thu. So sánh giữa các đơn vị hoạt động trong một lĩnh vực hoặc giữa
các kỳ với nhau chỉ tiêu này sẽ cho thấy xu thế của việc sử dụng.
Tổng thu nhập trong kỳ
Khả năng sinh lời =
Vốn kinh doanh trong kỳ
12
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của một đồng vốn đã sử dụng. Để
đánh giá so sánh giữa các kỳ kinh doanh , nếu chỉ tiêu này tăng có thể kết luận
vốn đợc sử dụng có hiệu quả tốt
Lợi nhuận ròng ( kỳ )
Doanh lợi vốn =
Vốn chủ sở hữu trong kỳ
Tính toán chỉ tiêu này có thể thấy đợc hiệu quả thực tế của nguồn vốn
chủ sở hữu doanh nghiệp
Ngoài việc sử dụng các chỉ tiêu tổng hợp, để phân tích kết cấu, đánh
giá việc phân bổ các bộ phận của nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ngời
ta còn dùng các chỉ tiêu phân tích. Đó là các chỉ tiêu đợc thiết lập dựa trên việc
so sánh các bộ phận của vốn kinh doanh với nhau hoặc với tổng thể vốn kinh
doanh. Các chỉ tiêu thờng sử dụng:
Vốn cố định (Vốn lu động )
Kết cấu vốn kinh doanh =
Tổng tài sản
Nguồn vốn vay nợ
Hệ số nợ =
Tổng tài sản
3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá vốn cố định :
Việc phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định để có biện pháp sử dụng
triệt để, có hiệu quả về số lợng, thời gian và công suất máy móc thiết bị sản xuất
và các tài sản cố định khác là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngời ta thờng sử dụng các chỉ
tiêu theo nhóm sau:
- Tình hình biến độngcủa tài sản cố định(TSCĐ):
Giá trị TSCĐ tăng ( giảm ) trong kỳ
Hệ số tăng giảm TSCĐ =
Giá trị tài sản bình quân trong kỳ
13
Giá trị tài sản cố định tăng trong kỳ bao gồm những tài sản cố định thuộc
nơi khác chuyển đến.
Giá trị tái sản cố định giảm trong kỳ bao gồm những TSCĐ đã hết hạn sử
dụng đã thanh lý hoặc cha hết hạn sử dụngchuyển đi nơi khác .
Giá trị TSCĐ mới (tăng) trong kỳ
Hệ số đổi mớiTSCĐ =
Giá trị TSCĐ có ở cuối kỳ
Giá trị TSCĐ cũ giảm trong kỳ
Hệ số loại bỏ TSCĐ =
Giá trị TSCĐ có ở kỳ đầu
Hệ số tăng giảm TSCĐ phản ánh chung mức độ tăng giảm thuần tuý về
quy mô TSCĐ. Còn hệ số đổi mới TSCĐ và loại bỏ TSCĐ ngoài việc phản ánh
tăng giảm thuần tuý về tài sản cố định còn phản ánh quá trình tiến bộ khoa học
kỹ thuật, tình hình đổi mới trang thiết bị của doanh nghiệp. Khi phân tích ta có
thể so sánh các hệ số trên giữa đầu kỳ và cuối kỳ, giữa thực tế và kế hoạch để
thấy đợc phớng đầu t, đổi mới trang thiết bị của doanh nghiệp.
Nhân tố cơ bản làm thay đổi hiện trạng của TSCĐ là sự hao mòn trong
quá trình sử dụng, TSCĐ hao mòn dần dần và đến một lúc nào đó không còn sử
dụng đợc nữa. Mặt khác quá trình hao mòn TSCĐ diễn ra phụ thuộc vào trình độ
sản xuất, trình độ áp dụng kỹ thuật công nghệ và kỹ thuật bảo đảm của doanh
nghiệp.Việc phân tích tình trạng kỹ thuật của TSCĐ là một vấn đề hết sức quan
trọng, nhằm đánh giá đúng mức TSCĐ của doanh nghiệp đang sử dụng còn mới
hay cũ ở mức nào từ đó có biện pháp đúng đắn để tái sản xuất TSCĐ. Để phân
tích tình trạng của TSCĐ, cần phân tích chỉ tiêu hệ số hao mònTSCĐ.
- Chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Hiệu quả s dụng TSCĐ =
Giá trị TSCĐ trong kỳ
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét