Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Mở rộng hoạt động cho vay đối với DNNQD tại chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Bà Triệu

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Là các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước
ngoài đóng góp là bao nhiêu, gồm:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
- Doanh nghiệp liên doanh nước ngoài và đối tác trong nước.
Hiện nay, số lượng doanh nghiệp Nhà nước ngày càng giảm, chỉ nắm giữ
những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng yếu của đất nước. Khu vực doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài đang phát triển khá nhanh trong khoảng 10 năm gần đây
và có đóng góp đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nước, tuy nhiên
sự phát triển của khu vực này sẽ có giới hạn vì phụ thuộc vào chiến lược của các
nhà đầu tư nước ngoài và mức độ hấp thụ đầu tư nước ngoài của nền kinh tế
trong nước. Chỉ có khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được sự khuyến khích của
Nhà nước đang phát triển với tốc độ khá nhanh, nhất là từ sau khi Luật doanh
nghiệp ra đời. Khu vực kinh tế này ngày càng có vai trò quyết định lớn tới sự
phát triển nhanh và ổn định của nền kinh tế đất nước.
1.1.2. Vai trò của DNNQD
Loại hình doanh nghiệp nào cũng có vai trò của nó, xác định vai trò của
DNNQD để tạo điều kiện cho các DNNQD ra đời, phát triển và nâng cao hơn
nữa vai trò của mình làm tăng sức mạnh cho đất nước. Vai trò của các DNNQD
thể hiện ở các khía cạnh sau:
1.1.2.1. Tác động mạnh mẽ đến dịch chuyển cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
- Theo cơ cấu nghành: Trước đây, DNNQD xuất hiện rất ít, chủ yếu trong
các nghành công nghiệp, còn các nghành khác như du lịch, dịch vụ… rất ít. Đến
nay, DNNQD có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh và đặc biệt
DNNQD phát triển mạnh trong lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ. Hiện
nay, DNNQD tập trung ở khu vực dịch vụ là 56,9%, trong đó thương nghiệp,
khách sạn và nhà hàng chiếm 43,9%. Tiếp đến là khu vực công nghiệp – xây
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dựng chiếm 37,7%, riêng công nghiệp là 25,2%
1
. Trong thương mại, kinh tế
ngoài quốc doanh đạt mức tăng 26%, cũng là mức cao nhất và chiếm 82% tổng
mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ (năm 2004). Xu hướng tỷ trọng DNNQD sẽ còn
tăng nhanh hơn vì đây là khu vực mà Nhà nước đang khuyến khích đầu tư và
phát triển.
- Theo cơ cấu thành phần kinh tế: Trước đây các doanh nghiệp phát triển
chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước, hiện nay chỉ còn hơn 4000 doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động trong một số nghành và lĩnh vực trọng yếu của đất
nước. Xu hướng trong tương lai, các doanh nghiệp Nhà nước sẽ tiến hành cổ
phần hóa, số lượng doanh nghiệp Nhà nước sẽ giảm xuống. Trong khi đó
DNNQD tăng rất nhanh, trong đó tăng nhanh nhất là công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn. Thành phần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng
tăng lên khá nhưng vẫn bị hạn chế do chính sách khuyến khích đầu tư nước
ngoài của Nhà nước. Như vậy, hiện nay ở nước ta về cơ cấu có 3 khu vực kinh
tế chính, đó là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ trọng thấp nhất
trong tổng số các doanh nghiệp hiện nay, tiếp đó là khu vực kinh tế Nhà nước,
và chiếm số đông nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
- Theo cơ cấu vùng kinh tế: DNNQD ngày càng xuất hiện ở khắp mọi nơi,
tất nhiên tập trung nhiều nhất vẫn là ở đô thị, các thành phố lớn. Theo vùng lãnh
thổ, sự ra đời ngày càng đông của DNNQD làm cho số lượng doanh nghiệp tập
trung nhiều nhất ở Đông Nam Bộ, tiếp đến là đồng bằng sông Cửu Long, Duyên
hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Tây Nguyên, Tây Bắc. Số lượng
doanh nghiệp tăng lên ở các vùng nghèo sẽ giúp cho các vùng này phát triển
hơn.
DNNQD phát triển nhanh chóng trong tất cả các ngành, các địa phương
và đang có xu hướng chuyển dần ra khỏi thành phố, thị xã đến nơi gần vùng
nguyên liệu, có giá đất, giá công nhân rẻ… tạo ra nhiều cơ hội phân công lại lao
động giữa các ngành, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1
“Mười vai trò của doanh nghiệp Việt Nam”, Trần Đào, Nghiên cứu và trao đổi, 10/2005
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.2.2. Thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động
Việt Nam có quy mô dân số đông và đang có xu hướng tăng cao trở lại, số
người đến tuổi lao động hàng năm lên tới trên một triệu người. Tỷ lệ thất nghiệp
ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn ngày càng tăng. Chỉ có thành lập
và phát triển doanh nghiệp mới có khả năng giải quyết việc làm cho người lao
động một cách nhanh chóng và bền vững. Hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước
trong quá trình cải cách không tạo thêm được nhiều việc làm mới; khu vực hành
chính Nhà nước đang giảm biên chế và tuyển dụng mới không nhiều. Khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thường yêu cầu cao về trình độ chuyên môn
cũng như học vấn. Chỉ có khu vực kinh tế ngoài quốc doanh với số lượng lớn
doanh nghiệp đã thu hút và tạo rất nhiều công ăn việc làm mới cho người lao
động. Tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đang hoạt động đến
nay đạt gần 5,22 triệu người. Trong đó, lao động trong doanh nghiệp Nhà nước
có 2,26 triệu người, giảm so với năm 2004 (từ 48,5% xuống còn 43,3%). Số lao
động làm việc trong các DNNQD đạt khoảng 2,1 triệu người, chiếm 40% tổng
số lao động, cao hơn tỷ trọng 36.7% (tức tăng 20%) so với năm 2004. Số lao
động làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 86
vạn người, chiếm 16.6%, cao hơn tỷ trọng 14.8% của năm 2004. Ta nhận thấy,
lao động trong khối DNNQD đang tăng mạnh và tăng với tốc độ nhanh nhất so
với 2 khu vực kinh tế còn lại. Điều đó cho thấy DNNQD đang ngày càng chiếm
vị trí quan trọng trong quá trình thu hút lao động và giải quyết việc làm cho một
bộ phận lớn dân cư với tỷ trọng thu hút lao động ngày càng tăng và tốc độ tăng
nhanh nhất so với 2 khu vực còn lại.
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.2.3. Góp phần tăng thu nhập quốc dân
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
1

DNNQD đang ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng thu nhập quốc dân
của đất nước, tỷ trọng đóng góp vào GDP của DNNQD trong 3 năm 2002, 2003,
2004 chiếm nhiều nhất so với khối kinh tế Nhà nước và khối kinh tế có vốn đầu
nước ngoài. Mặc dù tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực DNNQD không
thay đổi nhiều, có giảm chút ít qua các năm nhưng dễ dàng nhận thấy vai trò của
khu vực kinh tế DNNQD là rất lớn, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất qua các năm,
đóng góp 46.86% GDP trong năm 2002, 46.45% GDP năm 2003 và 45.61%
GDP năm 2004. Trong khi đó, doanh nghiệp Nhà nước có đóng góp trung bình
39% GDP hàng năm và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp
trung bình 14.5% GDP hàng năm.
1.1.2.4.Tăng thu Ngân sách Nhà nước
Nhờ hoạt động có hiệu quả, doanh thu trung bình của các DNNQD năm
2003 đạt 485 nghìn tỷ đồng, tăng tới 33% so với năm 2002 và chiếm 33.4% tổng
doanh thu do các doanh nghiệp Việt Nam tạo ra (1453 nghìn tỷ đồng). Tổng
doanh thu các doanh nghiệp tăng dẫn đến doanh thu ngân sách Nhà nước tăng.
Năm 2003, tổng số nộp ngân sách Nhà nước của DNNQD là 20 nghìn tỷ đồng,
1
“ Khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam – xu hướng phát triển trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành
phần”, Ngô Văn Giang, Tạp chí Tài Chính, 3/2006
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tuy mới chiếm 17.7% nhưng đã tăng tới 66.7% so với năm 2002. Điều này làm
chuyển một quy trình từ xưa là Nhà nước phải đi vay để nuôi doanh nghiệp thì
hiện nay doanh nghiệp đã nuôi Nhà nước, tạo điều kiện để Nhà nước dần trở
thành người tạo hành lang pháp lý, quản lý hành chính, kiểm tra, thanh tra và tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả các thành phần doanh nghiệp cùng
hoạt động.
1 1.2.5.Thu hút nhiều vốn đầu tư của xã hội, đổi mới kỹ thuật - công nghệ làm
động lực cho tăng trưởng.
Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp thu hút đầu năm 2004 là 1709
nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh thu hút được 337 nghìn tỷ
đồng, chiếm 19.7% trong tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp, và đã tăng
41.6% so với năm 2003. Bình quân 1 DNNQD đạt 5.2 tỷ đồng, bình quân 1 lao
động đạt 160 triệu đồng, thấp nhất so với 2 khu vực kinh tế còn lại nhưng đó là
sự phát triển và cố gắng lớn của các DNNQD. Vốn đầu tư của các DNNQD
đang trở thành nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều
địa phương. Mặt khác trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường
chọn nơi có môi trường đầu tư thuận lợi (vị trí địa lý, cơ chế đặc thù…) thì đầu
tư của khu vực ngoài quốc doanh xuất hiện ở tất cả các vùng với các điều kiện
khác nhau, cả những vùng điều kiện kinh tế còn khó khăn.
Mặt khác, sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế khiến các DNNQD
không ngừng nâng cao, đầu tư đổi mới tài sản, trang thiết bị, công nghệ - kỹ
thuật. Chính thiết bị kỹ thuật mới, công nghệ mới là động lực cho quá trình phát
triển.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhìn chung năng động, thích ứng
nhanh với những thay đổi của thị trường, góp phần giữ gìn và phát triển các
ngành nghề truyền thống, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động,
góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Nếu được tổ chức tốt, quan tâm
tạo điều kiện phát triển thì các DNNQD sẽ là nơi áp dụng các công nghệ tiên
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tiến, hiện đại tiến tới trở thành khu vực kinh tế có quy mô phát triển lớn mạnh.
Sự phát triển của khu vực ngoài quốc doanh là nhân tố chủ yếu tạo môi trường
cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, phá bỏ dần tính độc quyền của khu vực
kinh tế Nhà nước. Thể chế kinh tế thị trường ngày càng thích ứng hơn với cơ
chế kinh tế mới. Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nước ta sẽ
không thực hiện được nếu không có sự tham gia của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh.
1.1.3. Đặc điểm của DNNQD
Các DNNQD ra đời muộn nhưng lại là thành phần kinh tế đang được chú
ý hiện nay. Quá trình hình thành và phát triển của các DNNQD phải luôn được
đặt trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác, và phải chú ý tới đặc
điểm của các DNNQD để phát triển một cách hiệu quả hơn. Các DNNQD có
một số đặc điểm sau:
- Thành lập và hoạt động chủ yếu dựa trên tính tư hữu về tư liệu sản xuất.
Việc phân loại DNNQD với doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài thực chất là đề cập tới vấn đề sở hữu. DNNQD là những
doanh nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó bao gồm các
hình thức sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu tập thể và sở hữu hỗn hợp.
Việc phân loại thành các hình thức kinh doanh ngoài quốc doanh như công ty
TNHH một thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần,
doanh nghiệp tư nhân… cũng đều dựa trên tính tư hữu về tư liệu sản xuất mà cụ
thể chính là số vốn góp.
- Mục tiêu hoạt động chính là lợi nhuận. Khác với doanh nghiệp Nhà
nước, DNNQD không có yếu tố sở hữu nhà nước, hoạt động không vì một mục
tiêu cụ thể nào của Nhà nước và không có sự bảo hộ của nhà nước như một số
doanh nghiệp Nhà nước. Chủ sở hữu DNNQD được toàn quyền quyết định về
hoạt động kinh doanh của mình (trong khuôn khổ pháp luật) vì mục tiêu lớn nhất
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
là tăng giá trị doanh nghiệp. DNNQD phải “tự thân vận động” trong cơ chế thị
trường để tìm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất và tăng lợi nhuận.
- Quy mô vốn và lao động thường nhỏ. Thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh chỉ thực sự được công nhận là một khu vực kinh tế chính thức từ sau khi
đổi mới (năm 1986). Do vậy, về quy mô vốn và lao động của DNNQD còn rất
nhỏ bé, có tới 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực kinh tế này. Trong
số các DNNQD chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân. Năm 2003, số lượng
DNNQD có số lao động dưới 300 người chiếm tới 99% (128049 doanh nghiệp)
trong tổng số DNNQD (129052 doanh nghiệp). Thực tế trong những năm gần
đây, số doanh nghiệp có vốn sử dụng dưới 10 tỷ đồng chiếm 94.93%, bình quân
vốn thực tế sử dụng một doanh nghiệp là 3.7 tỷ đồng
1
, quá ít so với nhu cầu phát
triển của nền kinh tế.
- Ngày càng tăng nhanh về số lượng: Điều này phù hợp với xu thế phát
triển chung của đất nước và thế giới. Đặc điểm này được thể hiện qua bảng đăng
ký kinh doanh DNNQD.
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
1
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa với tín dụng ngân hàng”, Phạm thị Tường Vân, Tài chính doanh nghiệp,
số 3/2006
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ta nhận thấy rằng, khu vực DNNQD chiếm tỷ trọng khá lớn so với doanh
nghiệp Nhà nước, trên 95% tổng số và ngày càng có xu hướng tăng nhanh, khi
mà nền kinh tế đang trên đà phát triển và đang cần sự tham gia mạnh mẽ và
năng động của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Ta cũng nhận thấy tốc độ tăng
của DNNQD tăng nhanh hơn so với doanh nghiệp Nhà nước, bình quân tăng gấp
1.3 lần qua các năm, trong khi đó doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 tăng khá
mạnh gấp 2.2 lần so với năm 2002, năm 2004 tăng gấp 1.1 lần so với năm 2003
và năm 2005 tốc độ tăng chỉ bằng 94% so với năm 2004. DNNQD phát triển rất
nhanh đặc biệt tại các đô thị và các thành phố lớn. Trên địa bàn thành phố Hà
Nội, nếu năm 2001 mới có 2818 doanh nghiệp, thì đến tháng 5/2005 đã có
25479 doanh nghiệp. Như vậy sau hơn 3 năm đã có hơn 22000 DNNQD ra đời.
Bình quân mỗi năm có trên 7000 DNNQD được thành lập. DNNQD phát triển
đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội đất nước và ngày
càng trở thành lực lượng kinh tế quan trọng.
- Khả năng tích lũy và huy động vốn còn hạn chế trong khi nhu cầu vốn là
rất lớn. Vì DNNQD ra đời muộn trong môi trường pháp luật mới tạo dựng còn
nhiều vướng mắc và sửa đổi, mặt khác DNNQD với quy mô vốn nhỏ, năng lực
quản lý chưa cao, thường làm ăn nhỏ lẻ chưa có chiến lược phát triển lâu dài nên
khả năng tích lũy vốn từ kinh doanh thấp. Lượng vốn tự có của các DNNQD chỉ
đáp ứng từ 20 – 30% yêu cầu của chính bản thân doanh nghiệp. Các chỉ tiêu
hiệu quả của DNNQD thấp, tỷ suất lợi nhuận/ vốn thấp quá xa so với lãi suất
ngân hàng làm hạn chế khả năng huy động vốn của DNNQD từ các tổ chức tín
dụng, trong khi nhu cầu vốn để đổi mới và trang bị máy móc công nghệ, cơ sở
hạ tầng là rất lớn.
1.2. Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNQD
1.2.1. Khái quát về cho vay của NHTM
Ngân hàng là một trong những tổ chức tín dụng quan trọng nhất của nền
kinh tế, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Hoạt động của
ngân hàng chính là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế.
Cho vay là một trong rất nhiều dịch vụ của NHTM, chiếm vị trí rất quan
trọng trong hoạt động của các NHTM. Hoạt động chính của một NHTM là huy
động vốn và sử dụng nguồn vốn huy động được nhằm thu lợi nhuận. Việc sử
dụng vốn là quá trình tạo nên các khoản tài sản khác nhau của Ngân hàng, trong
đó cho vay là khoản mục tài sản lớn và quan trọng nhất.
Theo mục 2, điều 3/1627 – 2001/QĐ- NHNN, cho vay là hình thức cấp
tín dụng theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản
tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay là quan hệ tín dụng bình đẳng, xuất phát từ lợi ích của doanh
nghiệp và Ngân hàng. Đây không phải là quan hệ cấp phát, xin – cho mà theo
nguyên tắc bên vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng sau một thời gian
nhất định được xác định trong hợp đồng cho vay. Trước khi trở thành người cho
vay, bản thân ngân hàng đã phải đi vay các tổ chức và cá nhân trong xã hội.
Doanh nghiệp vay vốn để có nguồn tài chính thực hiện các dự án đầu tư, kinh
doanh phục vụ cho mục tiêu lợi nhuận của mình. Ngân hàng huy động vốn vào
và phải cho vay để lấy chênh lệch lãi suất tồn tại và phát triển. Huy động vốn mà
không cho vay thì các Ngân hàng không thể tồn tại được.
Cho vay của ngân hàng có mối quan hệ qua lại mật thiết với tình hình
phát triển kinh tế của đất nước. Rõ ràng, cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu
của ngân hàng – để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp; tài trợ cho hoạt động chi
tiêu của các cá nhân, chính phủ để đảm bảo những hoạt động bình thường và cần
thiết cho một nền kinh tế phát triển.
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2.2. Nguyên tắc cho vay của NHTM
Hoạt động cho vay là hoạt động rủi ro nhất của các NHTM nhưng lại là
hoạt động có tỷ trọng lớn nhất tại các NHTM Việt Nam hiện nay. Do đó trong
quá trình hoạt động cần phải quản lý cho vay một cách chặt chẽ, nhằm đảm bảo
an toàn và khả năng sinh lời cao nhất. Ngoài việc đảm bảo các điều kiện cho vay
đối với DNNQD như: Là pháp nhân, có năng lực pháp luật dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ
trong thời hạn cam kết; có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ
khả thi, hiệu quả phù hợp với quy định của pháp luật, NHTM luôn phải đảm bảo
hai nguyên tắc cho vay quan trọng sau:
1.2.2.1. Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích
Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích đã thỏa thuận
với Ngân hàng, không được trái với quy định của pháp luật và quy định của
Ngân hàng cấp trên. Mỗi Ngân hàng có phạm vi, kế hoạch hoạt động khác nhau,
mục đích của việc cho vay được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo
Ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái phép và việc tài trợ đó phù hợp
với chiến lược phát triển của Ngân hàng cũng như mục tiêu phát triển của đất
nước. Đối với ngân hàng, việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích hay
không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay của ngân hàng sau này.
Còn về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả vốn vay đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả
nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và
củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
1.2.2.2. Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi đúng thời hạn
Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi với thời gian xác định
được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng. Tùy vào từng loại hình cho vay mà khách
hàng có thể trả vốn và lãi theo những cách thức khác nhau được quy định rõ
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét