Tác động của hồn cảnh sống đến vốn từ vựng ở trẻ độ tuổi mẫu
A- Phần mở đầu
1. Lịch sử nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Ngơn ngữ trẻ em khơng chỉ là vấn đề mà ngơn ngữ học khai thác mà còn
thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học khác như tâm lý học, xã hội
học, tâm thần học…Tâm lý học nghiên cứu ngơn ngữ trẻ em để rút ra mối liên
hệ giữa ngơn ngữ và tâm lý trẻ; xã hội học nhằm vào mục đích để minh chứng,
giải thích thêm về các hành động xã hội của trẻ, tâm thần học nghiên cứu ngơn
ngữ trẻ để chữa và trị các bệnh về tâm lý cho trẻ …Nói chung, ngơn ngữ là một
đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.
Xét ở phương diện ngơn ngữ học, chúng ta khơng quan tâm đến sự tác
động của ngơn ngữ ở phạm vi của các ngành khoa học khác mà tập trung khai
thác nó ở các khía cạnh ngơn ngữ học xã hội - tức là xem xét chiều hướng sử
dụng ngơn ngữ của một bộ phận, một nhóm người, mà cụ thể ở đây là trẻ em ở
độ tuổi mẫu giáo để rút ra quy luật sử dụng ngơn ngữ của trẻ.
Trong ngơn ngữ học, đã có một số đề tài đi vào khai thác về ngơn ngữ học
trẻ em tiền học đường. Song, sự nghiên cứu thường tập trung vào vốn ngơn ngữ
theo q trình phát triển tâm lý hoặc một số vấn đề về ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp trong một bối cảnh nhất định.
Trong phạm vi niên luận này, tơi sẽ tập trung nghiên cứu về sự tác động
một cách tổng thể của hồn cảnh sống đến sự hình thành và phát triển vốn từ
vựng của trẻ em độ tuổi mẫu giáo - tức độ tuổi 3 -5, độ tuổi mà khả năng giao
tiếp của trẻ cơ bản được định hình.
2. Lý do chọn đề tài
Trẻ ở tuổi từ 3 đến 5, có khả năng hình thành ngơn ngữ mạnh mẽ. Ở giai
đạn tuổi này, khả năng bắt trước cách diễn đạt ở trẻ rất cao, do vậy bất cứ một
từ, một khái niệm, một cách nói nào của người lớn cũng được trẻ nhanh chóng
tiếp thu và vận dụng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Hơn thế, nghiên cứu về hồn cảnh tác động đến ngơn ngữ của trẻ giai
đoạn mẫu giáo lớn cũng có những đặc điểm riêng.
Ở độ tuổi từ 1 đến 3, tuy khả năng tiếp thu ngơn ngữ của trẻ cũng khá
mạnh nhưng vốn từ cho các giao tiếp cơ bản hầu như chưa hình thành. Ở giai
đoạn từ 3-5 tuổi, nhìn chung khả năng giao tiếp với vốn từ thơng dụng đã hình
thành. Theo đó, sự khác biệt về ngơn ngữ của trẻ do hồn cảnh sống chi phối
được thể hiện một cách rõ rệt hơn.
Ở lứa tuổi học đường, mặc dù mơi trường chủ yếu của các em là gia đình
và nhà trường nhưng lúc này các sinh hoạt và giao tiếp ngồi phạm vi đó cũng
đã hình thành (chẳng hạn tham gia nhiều chương trình học, nhiều khố học khác
nhau; tự tổ chức đi picnic mà khơng có sự tham gia của gia đình và trường, quan
hệ bạn bè mở rộng hơn…).
Ở lứa tuổi trưởng thành, mơi trường, hồn cảnh giao tiếp của họ rất phức
tạp, theo đó ta khó bóc tách mơi trường sống của họ để nghiên cứu về tác động
của mơi trường sống đến ngơn ngữ của họ một cách tổng hợp. Tác động của
hồn cảnh sống ở đây chủ yếu được khai thác ở một khía cạnh nào đó (nghề
nghiệp, gia đình…). Song, trên thực tế mơi trường sống và sự tiếp xúc của họ
phức tạp hơn rất nhiều, do đó việc nghiên cứu tác động của hồn cảnh, mơi
trường sống của họ có nhiều điểm phức tạp.
Độ tuổi 3-5 , hồn cảnh mơi trường chủ yếu của trẻ là gia đình và nhà
trường. Mọi hoạt động của trẻ hầu như khơng tách rời hai mơi trường đó và nó
chi phối hồn tồn tới khả năng giao tiếp của các em. Do đó, việc tác động của
hồn cảnh sống và mơi trường sống đến ngơn ngơn ngữ của độ tuổi này được
thể hiện một cách rõ nét, khiến ta dễ dàng nhận ra hơn. Từ đó việc nghiên cứu
sự tác động tổng thể của mơi trường sống đến sự hình thành vốn từ vựng của trẻ
hồn tồn có tính khả thi.
3. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu đề tài này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn vai trò của hồn
cảnh sống đối với việc hình thành ngơn ngữ của trẻ, đồng thời cũng thấy rõ hơn
các nhân tố ảnh hưởng đến q trình hình thành đó.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Thơng qua các kết quả thu được từ nghiên cứu này, chúng ta có thể rút
kinh nghiệm và có những cách thức hợp lý trong q trình giáo dục ngơn ngữ
cho trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo lớn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, phương pháp chủ yếu mà chúng tơi sử dụng là
quan sát nhằm nắm bắt được hành vi nói năng của đối tượng.
Đối tượng quan sát chủ yếu mà chúng tơi khai thác bao gồm tất cả các
trường hợp liên quan:
.Trẻ em ở nơng thơn
.Trẻ em ở thành thị
.Trẻ em có thành phần gia đình khác nhau.
- Phương pháp quan sát:
Để tiến hành nghiên cứu, chúng tơi đã trực tiếp đến nhà các gia đình và
các trường học có trẻ trong đối tượng quan sát để tiến hành quan sát. Vì u cầu
của đề tài nghiên cứu nên chúng tơi khơng chỉ quan sát đối tượng trung tâm là
trẻ mà còn kết hợp với việc quan sát các đối tượng khác trong mơi trường trong
phạm vi giao tiếp của trẻ.
Việc quan sát được kết hợp và vận dụng nhiều loại khác nhau, bao gồm:
quan sát kín; quan sát ẩn và nhanh; quan sát có tham dự để có thể thu được kết
quả tốt nhất với các dạng đối tượng khác nhau. Việc quan sát được thực hiện
cùng q trình ghi chép, ghi âm để lấy được dẫn chứng xác thực và hiệu quả.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
B- Phần nội dung
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung
1. Đặc trưng cơ bản tâm lý của trẻ ở độ tuổi mẫu giáo
Tâm lý mỗi cá nhân con người khơng phải khi nào cũng giống nhau mà ở
mỗi giai đoạn có những đặc trưng riêng.Thời kỳ từ 3-5 tuổi, hoạt động chủ yếu
là chơi với bạn. Trò chơi mà trẻ hay chơi nhất lúc này là trò chơi sắm vai. Trong
trò chơi này, trẻ sẽ đóng các vai khác nhau trong gia đình (như bố mẹ, con
cái…) hay các vai trong nghề nghiệp xã hội (cơng an, bác sĩ, cơng nhân,…). Từ
đó trẻ đồng thời nhận ra và nhận biết rõ hơn một số vị trí, chức năng trong gia
đình cũng như xã hội…
Về đặc trưng tâm lý, lúc này nổi bật nhất là ý thức bản ngã, ; sự rung động
đạo thức thẩm mỹ, tư duy trực quan hình tượng.
Ngơn ngữ và tâm lý có quan hệ mật thiết với nhau; bởi vậy,cùng với sự
xuất hiện của các tâm lý mới, ngơn ngữ của trẻ cũng có những thay đổi nhất
định. Khả năng biểu đạt ngơn ngữ từ các phương diện từ vựng, ngữ âm, ngữ
pháp vì thế mà phong phú hơn.
2. Vai trò của hồn cảnh, mơi trường sống đến ngơn ngữ giao tiếp
Hồn cảnh, mơi trường sống có tác động lớn lao đến q trình hình thành,
phát triển ngơn ngữ và kỹ năng giao tiếp của con người. Đối với người trưởng
thành, ảnh hưởng của hồn cảnh mơi trường đến ngơn ngữ của họ là có sự chọn
lọc. Mỗi cá nhân có một bộ lọc ngơn ngữ riêng do nhân cách, đạo đức và quan
niệm thẩm mỹ quy định. Song, ở trẻ em, nhất là giai đoạn trẻ em tiền học đường,
do đặc điểm về hiểu biết còn hạn chế nên khả năng tiếp thu có chọn lọc rất kém.
Sự bắt trước và làm theo mọi người xung quanh là hoạt động nổi bật ở
giai đoạn này, bởi thế mơi trường sống của trẻ hay cụ thể hơn là ngơn ngữ của
những người xunh quanh có tác động lớn đến ngơn ngữ của trẻ.
Một từ, một cách nói hoặc một kiểu phát âm nào đó nếu lặp lại vài lần
trước trẻ thì ngơn ngữ đó sẽ dễ dàng trở thành ngơn ngữ của trẻ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đối với trẻ em tiền học đường, do chưa có nhiều hành động tự do nên mơi
trường chủ yếu của chúng là gia đình và nhà trường. Bởi thế, tơi sẽ tập trung đi
vào phân tích sự tác động của hồn cảnh sống đến ngơn ngữ trẻ mẫu giáo chủ
yếu ở hai điểm: mơi trường gia đình và mơi trường nhà trường.
Ở mỗi điểm vừa nêu, tơi sẽ đi vào phân tích khả năng tiếp thu vốn từ vựng
của trẻ.
3. Một số khái niệm cơ bản trong phạm vi nghiên cứu
3.1. Từ vựng
Hiện nay có khoảng hơn 300 định nghĩa khác nhau về từ. Nhìn chung,
khơng có định nghĩa nào chung về từ làm mọi người thoả mãn. Với tư cách định
nghĩa sơ bộ, có tính giả thiết để làm việc, giáo sư Nguyễn Thiện Giáp đã đua ra
định nghĩa về từ là “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngơn ngữ,được vận dụng
độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu”.
Nếu chiết tự, “vựng” là yếu tố Hán có nghĩa là “sưu tập, tập hợp các từ
của ngơn ngữ. Nó khơng chỉ bao gồm các từ mà còn bao gồm cả các ngữ, tức là
những cụm từ sẵn có, tương đương với từ, chẳng hạn như các thành ngữ tiến
Việt: xanh vỏ đỏ lòng, con dại cái mang, mẹ tròn con vng,….Tuy nhiên, trong
các đơn vị từ vựng thì từ là đơn vị cơ bản, ngữ khơng phải là đơn vị từ vựng cơ
bản, vì nó do các từ cấu tạo nên, muốn có các ngữ trước hết phải có các từ.
3.2. Phương ngữ
Phương ngữ cũng là một khái niệm mà tơi thường xun sử dụng trong
bài. Theo Hồng Thị Châu thì “ phương ngữ là một thuật ngữ ngơn ngữ học để
chỉ sự biểu hiện của ngơn ngữ tồn dân ở một địa phương cụ thể với những nét
khác biệt của nó so với ngơn ngữ tồn dân hay so với một phương ngữ khác”.
Nói như vậy có nghĩa là khái niệm phương ngữ khơng chỉ bao gồm một
mặt nào đó của phương ngữ mà nó bao gồm mọi mặt của một ngơn ngữ ( ngữ
âm, ngữ pháp, từ vựng).
Trong phạm vi niên luận này, phương ngữ mà tơi đề cập đến là xét ở khía
cạnh từ vựng. Nó tương đương với từ “tiếng địa phương”.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Chương II: Sự tác động của hồn cảnh sống đến ngơn ngữ của trẻ
1. Sự tác động của gia đình
Gia đình là mơi trường đầu tiên của trẻ bởi vậy ngơn ngữ của các thành
viên trong gia đình có tác động lớn đến sự hình thành ngơn ngữ của trẻ. Khi đi
học ở nhà trẻ, mẫu giáo, các mối quan hệ của trẻ được mở rộng thêm, song thời
gian ở nhà của trẻ vẫn nhiều và đặc biệt là những thành viên trong gia đình ln
là những đối tượng gần gũi nhất, bởi thế sự ảnh hưởng từ gia đình đối với ngơn
ngữ trẻ là thường trực và lớn lao.
Nghiên cứu sự tác động của gia đình đến ngơn ngữ của trẻ, tơi sẽ chú ý
phân tích các yếu tố, các đối tượng trực tiếp chi phối đến việc giao tiếp của trẻ
như: địa bàn sinh sống của gia đình, thành phần gia đình, nghề nghiệp bố mẹ.
1.1. Địa bàn sinh sống của gia đình
Quan sát một số đối tượng trẻ em thuộc các địa bàn sinh sống khác nhau,
ta thấy trẻ em cũng chịu tác động bởi sự chi phối của các yếu tố từ vựng của địa
phương. Sự tác động này đi theo con đường gián tiếp, đầu tiên là thơng qua các
thành viên trong gia đình.
Ví dụ: Khi quan sát trẻ em trên địa bàn ở Thanh Hố, ta thấy một số từ địa
phương có trong ngơn ngữ của trẻ như:
Ngơn ngữ địa phương Ngơn ngữ tồn dân
bồng bồng roi
mơi mi
Đớ Xấu hổ
Hòm dương
đánh nhau đánh chắc
bà mậu
cua dạm
choa bọn tao
mơ đâu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
răng gì
tê kia
rứa thế
cây đu cây xoan
Trẻ em ở khu vực Nghệ Tĩnh cũng có vốn từ vựng đặc trưng cuả địa
phương:
Từ địa phương Từ tồn dân
bà mậu
nước nác
sàng tràng
đu đủ thu đủ
chào mào chúc mào
gạo gấu
trâu tru
cát gát
muỗi mọi
đầu trốc
đánh nhau đập chắc
khơng nỏ
xoan sầu đâu
rứa gai
Trẻ em khi ở địa bàn khác, chẳng hạn như Hà Nội thì rõ ràng vốn từ vựng
sẽ có một số điểm khác biệt so với các địa phương khác.
Mặt khác, địa bàn sinh sống của trẻ còn chi phối đến ngơn ngữ của trẻ
thơng qua những yếu tố về kinh tế - xã hội. Quan sát vốn từ vựng giữa trẻ em
thành thị và trẻ em ở nơng thơn, ta thấy có sự khác nhau nhất định. Những từ
vựng mà trẻ thành thị hay dùng có thể hiếm xuất hiện ở trẻ em nơng thơn và
ngược lại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ví dụ: trẻ em thành thị thường dùng các thừ như: siêu thị, máy tính, tủ
lạnh, lò vi sóng, máy giặt, cơng viên, rạp chiếu phim, và một số từ có nguồn gốc
nước ngồi như: bye (bai), hi (hai), cancel, salơng, usb, mp3,…
Trong khi đó, trẻ em nơng thơn lại thường rất hay sử dụng những từ mà
trẻ em thành thị hiếm khi dùng như: cày, bừa, ruộng, cơng nơng, lúa, mạ, cây
chuối, cây na, cây khế, trâu, nghé, bò, gà, ao, vườn, dần, sàng, thúng, mẹt,
Sở dĩ, q trình hình thành ngơn ngữ như trên là do giữa thành thị và nơng
thơn có sự khác biệt về mơi trưòng cũng như điều kiện sống. Ở các lứa tuổi
khác, địa bàn sống cũng có ảnh hưởng đến vốn từ thường dùng của họ. Song, có
sự khác nhau cơ bản giữa trẻ thời kỳ mẫu giáo và các lứa tuổi lớn hơn về thói
quen sử dụng ngơn ngữ. Ở các lứa tuổi khác, mặc dù tần số sử dụng một số từ
vựng có thể khơng cao nhưng khơng có nghĩa là họ khơng hiểu nghĩa của các từ
đó. Ngược lại, ở trẻ em tiền học đường thì việc khơng hay sử dụng thường đồng
nghĩa với việc trẻ chưa có vốn từ đó. Chẳng hạn, trẻ em ở nơng thơn thường
chưa có các vốn từ như: siêu thị, cơng viên, rạp chiếu phim, lò vi sóng, máy
giặt,…Trẻ con thành thị lại chưa có vốn từ: mạ, dần, sàng, nghé, ao,….
Ngồi ra, vốn từ về ngơn ngữ xưng hơ ở Việt Nam giữa trẻ thành thị và
nơng thơn có sự khác nhau nhất định do tính chất và phạm vi quan hệ gia đình,
họ hàng giữa thành thị và nơng thơn có sự khác nhau. Trẻ em nơng thơn bao giờ
cũng có vốn từ xưng hơ nhiều hơn so với trẻ em thành thị. Nếu như vốn từ vựng
xưng hơ của trẻ thành thị thường là những từ như: ơng, bà, bố mẹ, cơ, chú,
bác,… thì trẻ em ở nơng thơn thường dùng thêm một số vốn từ xưng hơ khác
như: thím, o, cậu, gì, ơng chú, bà thím, ơng bác, ơng cậu,…
1.2. Thành phần gia đình
Bên cạnh yếu tố về địa bàn sinh sống của gia đình thì thành phần gia đình
cũng có những những tác động lớn đối với vốn từ vựng của trẻ. Trên thực tế
trong q trình nghiên cứu, tơi thấy rằng các gia đình có cấu tạo thành phần gia
đình khác nhau thì khả năng từ vựng của trẻ cũng khác nhau.
Việc có chung sống với ơng bà trong cùng gia đình hay khơng có ảnh
hưởng rất lớn đến ngơn ngữ từ vựng của trẻ. Cùng địa bàn sinh sống nhưng vốn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ngơn ngữ của những người cao tuổi và của các thế hệ khác có những điểm khác
biệt nhất định. Quan sát một số gia đình có trẻ sống cùng ơng bà cho thấy số từ
địa phương đương thời khơng còn thơng dụng đã xuất hiện trong ngơn ngữ trẻ
như: chốc (đầu), nác (nước), lả (lửa), đầu cún (đầu gối), mũ lãn trai (mũ lưỡi
trai), con tru (con trâu)…ở địa phương Thanh Hố.
Việc chung sống với ơng bà sẽ có những tác động tích cực đối với việc sử
dụng các ngữ của trẻ. Do vốn từ còn hạn chế nên ta có thể dễ dàng thống kê vốn
từ vựng của trẻ là các ngữ. Theo số liệu mà chúng tơi thống kê được thì số lượng
các ngữ của trẻ em khơng sống với ơng bà hầu như khơng có, hoặc chỉ ở con số
rất nhỏ (từ 1- 3 thành ngữ). Trong khi đó số lượng ngữ mà trẻ em sống với ơng
bà thường có là khoảng từ 8-10 từ. Những thành ngữ mà trẻ tiếp thu được
thường nói vê những vấn đề gần gũi với trẻ và khơng q khó hiểu như: thao
thao bất tuyệt, xanh vỏ đỏ lòng, giận cá chém thớt; nước đổ lá khoai; chó chê
mèo lắm lơng; chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng, …
Sở dĩ có hiện tượng này là do người già có thói quen sử dụng thành ngữ
trong giao tiếp nhiều hơn giới trẻ. Trẻ sống với ơng bà từ đó sẽ có điều kiện
thường xun tiếp xúc với thành ngữ nên việc hiểu, vận dụng thành ngữ trong
giao tiếp cũng tốt hơn hơn so với các trẻ khác.
Nếu đặc điểm phương ngữ của ơng bà với phương ngữ địa bàn sinh sống
của trẻ có khác biệt thì phạm vi tác động của ơng bà đến ngơn ngữ của trẻ càng
lớn hơn. Điều này thường phổ biến đối với những gia đình có sự di chuyển về
địa bàn sinh sống, sau đó ơng bà chuyển ra ở cùng. Trong khi bố mẹ của trẻ là
những người gần như đã có sự thay đổi ngơn ngữ để phù hợp với mơi trường
mới, thì ơng bà vẫn còn mang đặc điểm của vốn ngơn ngữ của địa phương
mình.
Sự tác động của ngơn ngữ ơng bà đến ngơn ngữ trẻ lúc này diễn ra ở
nhiều mặt, khơng chỉ về mặt ngữ âm mà còn thấy rõ ở cả phần từ vựng. Lúc này
vốn từ địa phương của ơng bà sẽ nhanh chóng trở thành vốn từ vựng của trẻ. Khi
quan sát một số trẻ trong thành phần gia đình trên, ta thấy vốn từ vựng địa
phương của trẻ phong phú hơn với so với những trẻ sống trong mơi trường có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
vốn từ địa phương thuần nhất. Quan sát 2 trẻ em cùng sống ở địa bàn Hà Nội,
một trẻ có mơi trường giao tiếp trong gia đình là những người thuần đặc điểm
ngơn ngữ Hà Nội và trẻ em có ơng bà hoặc người nhà có vốn từ vựng của địa
phương khác, tơi thấy có điểm khác nhau trong vốn từ. Ở trẻ em có mơi trường
ngơn ngữ của gia đình thuộc nhóm thứ nhất thì vốn từ vựng của trẻ hầu như là
vốn từ vựng mang đặc trưng của địa phương đang sống, còn nhóm trẻ em ở
trường hợp thứ hai lại còn biết thêm vốn từ vựng của địa phương khác. Chẳng
hạn, những trẻ em sống ở Hà Nội nhưng có người nhà nói phương ngữ Hà Tây
thì phát âm của trẻ sẽ có những đặc điểm của phương ngữ Hà Tây và vốn từ
vựng của trẻ cũng bao hàm cả vốn từ vựng Hà Tây.
Điều tương tự này còn có thể xét trong trường hợp gia đình có người giúp
việc mà người giúp việc lại có đặc điểm ngơn ngữ mang tính địa phương khác
so với mơi trường gia đình cũng như nhà trường của trẻ. Lúc này, nếu mức độ
gần gũi của trẻ với người giúp việc cao thì đặc điểm ngơn ngữ nói chung cũng
như vốn từ vựng của người giúp việc sẽ có ảnh hưởng càng lớn đến trẻ.
Quan sát một gia đình có nguời giúp việc là người Nghệ An, có trẻ ở độ
tuổi mẫu giáo lớn, bố mẹ thường xun bận rộn trong cơng tác nên mọi sinh
hoạt ở nhà của trẻ gần như gắn với người giúp việc cho thấy mức độ ảnh hưởng
về mặt ngơn ngữ của người giúp việc với trẻ rất cao. Khơng những có ảnh
hưởng về mặt ngữ âm mà về từ vựng trẻ cũng có những vốn từ của địa phương
Nghệ An. Nhất là những từ chỉ sự vật, hiện tượng hoặc chỉ hành động thơng
dụng như: nác (nước), đu thủ ( đu đủ), mọi (muỗi), gấu (gạo), chốc (đầu),…Một
số gia đình có ngươì giúp việc ở địa phương khác cũng tương tự như vậy.
Về cách thức dùng từ vựng của trẻ đồng thời biết hai loại vốn từ địa
phương khác nhau:
Ở trẻ đồng thời cùng lúc có vốn từ vựng của hai địa phương khác nhau thì
vấn đề đặt ra là trẻ sẽ sử dụng vốn từ vựng của địa phương nào? Theo quan sát
của chúng tơi thì trẻ dùng cả hai loại từ vựng mà trẻ biết, trong cùng một cuộc
hội thoại những từ đồng nghĩa của các địa phương khác nhau có thể đồng thời
được dùng kiểu như: “mẹ ơi, con cụng chốc vào tường, đau đầu q”…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Sở dĩ trẻ sử dụng trong giao tiếp đồng thời cả hai loại từ địa phương là do
trẻ chưa có ý thức về ngơn ngữ thấp hay ngơn ngữ cao trong giao tiếp của mình,
mọi cách dùng từ của trẻ là hồn tồn tự phát và ngẫu nhiên. Đây là điểm phân
biệt với ý thức dùng ngơn ngữ của người trưởng thành.
1.3. Sự tác động về mặt nghề nghiệp và tuổi đời bố mẹ
Bên cạnh những ngun nhân vừa nêu thì sự tác động của bố mẹ đối với
việc hình thành vốn từ vựng cuả trẻ là rất lớn. Có hai yếu tố quan trọng tác động
mạnh mẽ đến ngơn ngữ từ vựng của trẻ từ bố mẹ là vấn đề tuổi tác và nghề
nghiệp.
Ở những trẻ em là con đầu - tuổi đời của bố mẹ còn trẻ và là những người
trí thức thì vốn ngơn ngữ của trẻ có những điểm riêng nhất định. Quan sát những
trẻ em thuộc đối tượng này cho thấy những vốn từ vựng của trẻ khơng chỉ dừng
lại ở ngơn ngữ mẹ đẻ mà còn xuất hiện cả vốn từ vựng nước ngồi. Vốn từ vựng
nước ngồi ấy chủ yếu là tiếng Anh và nó thường xun được sử dụng trong gia
đình. Vốn từ vựng này mới chỉ là những từ gần gũi, thơng dụng trong cuộc sống
sinh hoạt như: hi, hello. bye, thank you, good night, apple, cat, dog, hat, table,
one, two, thrre,…
Đây là một xu thế của cuộc sống hiện đại – khi mà ngoại ngữ có vai trò
ngày càng cao trong cuộc ssống. Những ơng bố , bà mẹ trí thức trẻ phần đa có
hiểu biết nhất định về ngoại ngữ nên thường tranh thủ dạy thêm cho con ngay từ
khi còn nhỏ để trẻ thích ứng dần với ngoại ngữ, tiện lợi cho vấn đề học tập sau
này.
Mặt khác, theo quan sát của chúng tơi, gần đây xuất hiện một kiểu ngữ
mới của những trẻ là con đầu, có bổ mẹ trẻ tuổi. Đó là cách nói hiệp vần như: dở
hơi biết bơi, chuyện nhỏ như con thỏ, ngất trên cành quất, phê ra trên bờ đê, thần
kinh dẫm phải đinh,…
Đây là một hiện tượng mới trong ngơn ngữ, chỉ mới xuất hiện trong thời
gian gần đây, song khá phổ biến trong giới trẻ. Từ mang nghĩa chính được ghép
với những từ phía sau nó mà chẳng liên quan gì về tư duy logic nhưng chúng lại
hiệp vần với nhau tạo ra cảm giác thoải mái, vui vẻ trong giao tiếp. Ở nhiều gia
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đình, các ngữ này đã trở thành những phát ngơn thơng dụng, chính bản thân trẻ
cũng được người lớn giao tiếp với chúng bằng những ngữ đó, vì vậy nó mặc
nhiên trở thành vốn từ của trẻ và được trẻ sử dụng một cách thường xun, đầy
thích thú.
Nghề nghiệp của bố mẹ cũng tác động đến vốn từ vựng của trẻ. Bố mẹ
làm ruộng thì đồng thời trẻ sẽ có vốn từ liên quan đến nghề làm ruộng như: cày,
bừa, cấy, gặt, trâu, bò, dần, sàng,…Bố mẹ làm nghề dệt thì trẻ sẽ biết thêm các
từ như bơng, thoi,…Bố mẹ làm cơ quan thì vốn từ cua trẻ thường có là: cơng
tác, xếp, máy tính, …Những vốn từ này trẻ thu được là do nghe thấy từ giao
tiếp của bố mẹ với người khác hoặc với trẻ.
2. Sự tác động về phía nhà trường
2.1. Địa điểm nhà trường
Khi chưa đi học, mơi trường giao tiếp chủ yếu của trẻ là gia đình nhưng
khi đi học ở nhà trẻ, mẫu giáo, trẻ có thêm những mối quan hệ mới vì vậy mơi
trường giao tiếp của trẻ thay đổi. Để thấy rõ sự tác động của nhà trường đối với
vốn từ vựng của trẻ, tơi sẽ xem xét sự tác động ngơn ngữ của nhà trường dưới sự
đối sánh với vốn ngơn ngữ mà trẻ tiếp thu được từ gia đình. Dưới đây tơi sẽ xét
ở hai góc độ chính là địa điểm trường học của trẻ và nội dung các bài học của trẻ
ở trường.
Theo quan sát của chúng tơi, địa điểm của trường học có những tác động
nhất định đến vốn từ vựng của trẻ. Vốn từ vựng ở các trường vùng phương ngữ
khác nhau sẽ có sự khác nhau. Điều này cũng tương tự như sự tác động của địa
bàn sinh sống của gia đình đến vốn từ vựng của trẻ. Cái đáng bàn ở đây là trong
trường hợp vùng phương ngữ của trường trẻ học và vùng phương ngữ của gia
đình có sự khác nhau thì vốn từ vựng của trẻ sẽ như thế nào?
Đối với những trẻ ở trường hợp nói trên thì vốn từ vựng của trẻ bao gồm
cả hai loại phương ngữ của hai địa phương khác nhau. Chẳng hạn, đối với trẻ mà
gia đình có vốn từ vựng của phương ngữ ở Hà Nội và học ở trường trên địa bàn
Thanh Hố thì trẻ sẽ có vốn từ vựng của cả hai vùng. Như vậy, trẻ vừa có thể
hiểu được vốn từ vựng của Hà Nội lại vừa có thể hiểu được vốn từ vựng của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Thanh Hố. Khi nói “ đau chốc” hoặc “đau đầu”, nói “con trâu” hoặc “con
tru”…. trẻ đều cố thể hiểu.
Mặt khác, địa điểm của trường còn ảnh hưởng đến vốn từ vựng ngoại ngữ
của trẻ. Các trẻ em học ở thành phố thường có vốn từ vựng nước ngồi, trong
khi đó trẻ em nơng thơn lại hầu như khơng biết ngoại ngữ. Điều này là do sự tác
động của điều kiện kinh tế xã hội cũng như đặc điểm chương trình giáo dục của
từng địa phương khác nhau quy định.
Khi chúng tơi hỏi người nhà trẻ về việc phản ứng của trẻ đối với vốn từ
vựng địa phương khác thì được biết mới đầu trẻ có phản ứng là bác bỏ từ vừa
nghe nhưng sau đó khi được giải thích thì trẻ chấp nhận và hiểu được.
2.2. Sự tác động thơng qua nội dung bài học
Vốn từ vựng của trẻ đặc biệt được mở rộng thơng qua nội nung các bài
học. Nếu như ở gia đình, vốn từ của trẻ chủ yếu là những điều gắn liền với trực
quan (nhà, đồ chơi, bàn, ghế, búp bê, cơm, bát, đau, mát, nóng, lạnh, đi, chạy,…)
thì ở trường học, trẻ có nhiều khả năng để biết thêm những từ khơng trực tiếp tác
động đến trực quan như: voi, hổ, thiên nga, gấu,cáo, sói, phù thuỷ, hồng tử,
cơng chúa, nhà vua, cơng an, bác sỹ, bộ đội,…thơng qua các câu chuyện cổ tích
và tranh ảnh của nhà trường.
Thực ra khi ở nhà trẻ cũng có thể đã biết trước những từ đó nếu người nhà
có thời gian kể chuyện cổ tích, thần thoại và dạy thêm cho trẻ về hiểu biết xã hội
nhưng theo nghiên cứu của chúng tơi thì phần đa trẻ biết được những từ đó
thơng qua nhà trường. Quan sát cho thấy rằng những trẻ đi học mẫu giáo thì số
lượng từ khơng trực tiếp tác động đến trực quan của trẻ nhiều hơn so với những
trẻ ở nhà.
Mặt khác, thơng qua nhà trường thì vốn từ vựng của trẻ là những tính từ
cũng phát triển hơn. Đặc biệt là các tính từ chỉ màu sắc. Nếu như khi ở nhà thì
vốn từ của trẻ chủ yếu là các từ đơn giản như: xanh, đỏ, tím, vàng,…thì khi đến
trường trẻ sẽ có khả năng diễn đạt các màu sắc đó một cách phong phú hơn như:
đỏ lòm lòm, xanh lè, vàng khẹt, tím ngắt,…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3. Mối quan hệ giữa nhà gia đình và nhà trường trong việc hình thành vốn
từ vựng của trẻ
Gia đình và nhà trường đều có vai trò quan trọng trong q trình hình
thành vốn từ vựng của trẻ. Hai mơi trường này cũng hỗ trợ nhau để hồn thiện
và mở rộng hơn vốn từ vựng của trẻ trên nhiều mặt, nhiều phương diện khác
nhau. Vì vậy nếu một trong hai mơi trường này sử dụng ngơn ngữ khơng lành
mạnh sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với ngơn ngữ trẻ. Nhưng thực chất
thì mơi trường nào quan trọng hơn và tác động đến ngơn ngữ của trẻ nhiều hơn?
Để thấy được điều này, ta sẽ so sánh trường hợp của nhữg trẻ đến trường và
những trẻ khơng đến trường và những khía cạnh tác động theo chiều hướng khác
nhau giữa gia đình và nhà trường.
Trong trường hợp trẻ khơng đến trường, phạm vi vốn từ vựng của trẻ bị
thu hẹp lại, và tần suất dùng một số từ vựng giảm, chẳng hạn như: phấn, bảng,
bé ngoan, bút màu, vở, bà tiên, phù thuỷ, cơng chúa, voi, hổ, sói, thỏ, cáo, cơng
an, bác sỹ, học bài….Khả năng biết và nhớ từ vựng ngoại ngữ cũng sẽ kém hơn.
Khi có sự lệch pha trong ngơn ngữ gia đình và ngơn ngữ nhà trường tức là
trường hợp mà phương ngữ gia đình và phương ngữ nhà trường có sự khác
nhau.Khi đó, người nhà trẻ khơng phải là người bản ngữ của địa phương đang
sống. Trong trường hợp này thì trẻ có thể hiểu được cả hai vùng phương ngữ,
song trong giao tiếp thì trẻ sẽ chọn ngơn ngữ của vùng phương ngữ nào?
Theo quan sát của chúng tơi, thì phần đa trẻ em trong trường hợp nói trên
sử dụng ngơn ngữ của gia đình. Nếu bố mẹ mang đặc điểm của phương ngữ
Thanh Hố sống ở Hà Nội, thì vốn từ vựng của trẻ, sẽ chủ yếu là vốn từ vựng
Thanh Hố, ngược lại nếu bố mẹ mang đặc điểm của vùng phương ngữ Hà Nội
sống ở Thanh Hố thì trẻ sẽ có vốn từ vựng của Hà Nội.
Sở dĩ có đặc điểm trên là do gia đình là mơi trường đầu tiên tác động đến
ngơn ngữ của trẻ, vì vậy mức độ tác động của nó sẽ lớn hơn các mơi trường
khác. Như vậy, phương ngữ của trẻ trong trường hợp này khơng phụ thuộc vào ý
thức của trẻ mà chủ yếu phụ thuộc vào thói qn, bản năng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét