Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Chiến lược cắt giảm chi phí sản xuất hàng may mặc tại Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Intimex Hà Nội

Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm còn đang dở dang cuối kỳ và
sản phẩm hỏng.
Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ
đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh
hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm.
2. Các yếu tố hình thành chi phí sản xuất
1
Xuất phát từ đặc điểm của chi phí và quá trình hình thành chi phí, chi
phí sản xuất được tạo nên từ một số thành tố cơ bản sau:
• Nguyên vật liệu trực tiếp
• Lao động trực tiếp
• Sản xuất chung
Với nhiệm vụ là định nghĩa và nhận biết ba yếu tố chi phí cơ bản chiếm
tỷ trọng trong sản phẩm. Chúng được gọi là chi phí sản phẩm
2.1. Nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp là những yếu tố vật chất tạo nên thành phần
chính của sản phẩm. Nguyên liệu trực tiếp được nhận diện một cách dễ dàng
trong sản phẩm vì nó tượng trưng cho đặc tính dễ thấy nhất của sản phẩm
được sản xuất ra. Nguyên vật liệu sản xuất may là vải vóc, tơ tằm, …Phần
lớn sản phẩm thường gồm nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau. Tuy nhiên
việc sản xuất ra sản phẩm cũng bao gồm những loại chi phí nằm ngoài chi phí
sản xuất trực tiếp. Đó là các chi phí gián tiếp cấu thành nên sản phẩm.
2.2. Lao động trực tiếp
Là toàn bộ người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp. Họ trực
tiếp biến đổi nguyên vật liệu thành sản phẩm hữu dụng. Thông thường những
lao động này trực tiếp xử lý nguyên vật liệu bằng tay hoặc sử dụng công cụ
1
Phần này tham khảo từ: Nathan S.lavin - Kế toán chi phí – Nhà xuất bản Thống kê – năm 1994, tr. 16-18.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm. Lao động trực tiếp ở
các xưởng may là những công nhân đứng máy may hay là những công nhân
trực tiếp cắt vải bằng tay với dụng cụ hỗ trợ là các loại kéo và nguyên liệu là
phấn kẻ đường.
2.3. Sản xuất chung
Là toàn bộ những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm, sau chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đó là chi phí nguyên
vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp và chi phí phân xưởng khác.
- Nguyên vật liệu gián tiếp: Là những yếu tố vật chất không tạo nên
thành phẩm chính của sản phẩm, hoặc nếu có thì chúng cũng không phải là
những yếu tố quan trọng và chủ yếu tạo nên sản phẩm. Thí dụ: nhiên liệu
dùng trong chạy máy móc sản xuất của các xưởng may. Một thí dụ khác là chỉ
dùng để kết nối các bộ phận cấu thành nên một sản phẩm cũng là chi phí sản
xuất chung bởi chi phí của chúng nhỏ hơn rất nhiều chi phí nguyên vật liệu
chính (vải).
- Lao động gián tiếp: Là các chi phí tiền lương của tất cả các lao động
không trực tiếp tham gia sản xuất sản phẩm. Lao động gián tiếp bao gồm
giám sát viên, nhân viên bảo vệ phân xưởng, thợ sửa chữa và bảo trì máy.
Tóm lại, lao động gián tiếp có nhiệm vụ hỗ trợ cho việc vận hành sản xuất của
lao động trực tiếp. Lực lượng này bao gồm toàn bộ nhân viên làm việc trong
các phòng ban của một công ty sản xuất: phòng tổ chức hành chính, phòng kế
toán, phòng kinh doanh, bộ phận kỹ thuật….
- Các chi phí phân xưởng khác: Nhóm này bao gồm những chi phí cần
thiết khác để vận hành phân xưởng. Chí phí này bao gồm chi phí thuê phân
xưởng, chi phí khấu hao máy móc thiết bị, chi phí điện nước, chi phí động
lực, chi phí bảo hiểm chống cháy và chống trộm.
6
Chuyên đề tốt nghiệp
3. Phân lo i chi phí theo kho n m c chi phí trong giáạ ả ụ
thành s n ph mả ẩ
Có nhiều cách phân loại chi phí sản xuất như: phân loại theo mối quan
hệ với sản phẩm, phân loại chi phí theo quá trình mô tả các hoạt động sản
xuất, theo hoạt động chức năng. Tuy nhiên để xem xét vấn để dựa trên quan
điểm của một nhà quản lý chi phí, em phân loại theo các khoản mục chi phí.
Cách phân loại này thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm, cung cấp
thông tin về các khoản mục chi phí cho các nhà quản trị để từ đó có thể đưa ra
những quyết định quản lý như giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
hay giá bán thành phẩm. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất bao gồm 5
khoản mục chi phí. Đó là:
3.1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu tham
gia trực tiếp vào sản xuất, chế tạo ra sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
3.2 Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí này bao gồm lương, phụ cấp lương và các khoản trích cho các
quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn
3.3 Chi phí sản xuất chung
Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất( trừ chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp).
3.4 Chi phí bán hàng
Là khoản chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình tiêu thụ sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Chi phí bán hàng gồm các khoản mục
chi phí sau: tiền lương,các khoản phụ cấp lương phải tra cho nhân viên bán
hàng, bảo hiểm, kinh phí công đoàn,hoa hông đại lý, hao hông môi giới, tiếp
7
Chuyên đề tốt nghiệp
thị, đóng gói, vận chuyển, bảo quản , khấu hao tài sản cố định, chi phí mua
ngoài và các chi phí bằng tiền khác của bộ phận bán hàng
3.5 Chi phí quản lý doanh nghiệp
Là các khoản chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí
chung khác có liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp. Chi phí này bao gồm các
khoản mục chi phí sau: tiền lương và các khoản phụ cấp phải trả cho ban
giám đốc và nhân viên quản lý, bảo hiểm, kinh phí công đoàn theo tỷ lệ quy
định tính trên tiền lương của nhân viên quản lý, chi phí vật liệu, đồ dùng văn
phòng, khấu hao tài sản cố định dùng chung cho toàn bộ doanh nghiệp và các
chi phí khác bằng tiền dung chung cho toàn bộ doanh nghiệp như chi phí tiếp
tân, khánh tiết.
Như vậy, chỉ tiêu chi phí sản xuất là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng,
qua chỉ tiêu này ta có các thông tin về tình hính dụng lao động, tư liệu sản
xuất, nguồn vốn doanh nghiệp. Khi chi phí sản xuất được quản lý chặt chẽ
cũng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả sử dụng của các yếu tố đầu vào.
Điều này động nghĩa với việc doanh nghiệp đã giảm được chi phí, giảm giá
thành sản phẩm và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường. Mặt khác, việc hạch
toán chi phí sản xuất kịp thời chi phí sản xuất kịp thời, trung thực và hợp lý sẽ
giúp cho nhà quản trị có những quyết định sáng suốt trong sản xuất kinh
doanh. Chính vì thế, yêu cầu quản lý chi phí sản xuất là một yếu tố mang tính
khách quan và rất quan trọng. Nó là một trong số những yếu tố quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
II. CẮT GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT
1. Khái niệm và nội dung
1.1 Khái niệm
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Cắt giảm chi phí là cách thức mà một doanh nghiệp tiến hành nhằm
giảm thiểu những giá trị đầu vào trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp,
từ đó tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường cùng ngành.
Việc cắt giảm chi phí là một quá trình diễn ra lâu dài và rất phức tạp.
Chi phí phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố chủ quan và
những yếu tố khách quan mà bản thân mỗi doanh nghiệp không thể khống chế
được bởi tính biến động không ngừng của nó. Chi phí luôn ở trạng thái
“động”. Do đó, doanh nghiệp muốn thành công trong hoạt động này cần phải
có tiềm lực mạnh với quyết tâm cao, đồng thời phải không ngừng nắm bắt kịp
thời các thông tin mới nhất trên thị trường để có những quyết sách phù hợp
với điều kiện thực tiễn.
Cắt giảm chi phí là một hoạt động vô cùng cần thiết và hữu ích cho mỗi
doanh nghiệp nếu muốn tồn tại trên thị trường và giữ được chỗ đứng. Cắt
giảm chi phí làm hạ giá bán sản phẩm trên thị trường và tiến tới nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm. Doanh nghiệp có sức cạnh tranh sản phẩm cao sẽ
hứa hẹn đem lại khoản doanh thu và lợi nhuận kếch xù thông qua cạnh tranh
về giá bán. Tuy nhiên không phải công ty nào cung có thể làm tốt công tác
này. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, mỗi một doanh nghiệp lại có những chiến
lược kinh doanh khác nhau. Do vậy, tuỳ thuộc vào các yếu tố cạnh tranh và
đặc biệt là những yêu cầu của thị trường mà doanh nghiệp có những cách ứng
xử phù hợp để đưa ra những chiến lược phù hợp cho từng giai đoạn phát triển
nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh.
Việc cắt giảm chi phí là luôn phải gắn liền với hiệu quả kinh tế tài
chính của công ty và phải nằm trong khuôn khổ luật pháp. Có thể nói rằng:
cắt giảm chi phí là con dao hai lưỡi. Một mặt, hoạt động này là tăng năng lực
cạnh tranh giúp tăng lợi nhuận cho công ty và có thể phục vụ tốt nhất cho lợi
ích của cán bộ công nhân viên nhằm tạo động lực cho sản xuất và tăng năng
9
Chuyên đề tốt nghiệp
suất lao động chung trong mỗi doanh nghiệp. Công ty có thể cắt giảm các chi
phí không cần thiết như chi phí điện nước hay chi phí nguyên vật liệu bằng
cách tìm nhà cung cấp mới có giá rẻ hơn, sử dụng nguyên liệu tái chế nhưng
vẫn phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng. Một mặt, bằng cách này hay cách
khác công ty có thể bất chấp thủ đoạn để trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước,
thiếu trách nhiệm, thực hiện các hành vi bất hợp pháp thông qua việc trốn
thuế, mua những nguyên vật liệu lậu để giảm chi phí sản xuất một cách đáng
kể. Hành động này cần được lên án để ngăn chặn kịp thời.
1.2 Nội dung của việc cắt giảm chi phí sản xuất.
Hoạt động sản xuất luôn diễn ra một liên tục để đảm bảo đáp ứng tốt
nhu cầu thị trường theo đúng tiến độ. Cắt giảm chi phí cũng phải được tiến
hành song song. Việc cắt giảm chi phí phải được thực hiện một cách nghiêm
túc và chặt chẽ để đảm bảo tránh thất thoát và đạt hiệu quả cao.
Chi phí sản xuất là tập hợp của nhiều yếu tố chi phí, vịêc cắt giảm chi
phí cũng phải tiến hành trên các khoản mục sau:
1.2.1 Cắt giảm chi phí nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố vật chất đầu vào trong mọi quá trình sản xuất.
Nó là thành phần chính của sản phẩm. Sản phẩm của ngành sản xuất hàng may
mặc là quần, áo, váy, đầm, mũ…. Những sản phẩm này có thể được tạo nên từ
chất liệu như: vải, sợi, len, da, lông thú…. Ngoài ra còn có chỉ, cúc, khoá…. Đây
là những nguyên liệu chính cấu thành nên dáng hình sản phẩm. Nếu không có
chúng thì quá trình sản xuất không thể xảy ra. Do đó, nguyên vật liệu có vai trò
vô cùng quan trọng trong việc hính thành nên sản phẩm .
Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu chi phí
hình thành nên giá cả thành phẩm. Bởi vậy, giảm chi phí nguyên vật liệu là
10
Chuyên đề tốt nghiệp
một nội dung mà các doanh nghiệp quan tâm và tìm kiếm phương thức thực
hiện hiệu quả. Cắt giảm chi phí nguyên vật liệu doanh nghiệp sẽ tiết kiệm
được một khoản tiền để chi trả cho những hoạt động cần thiết.
1.2.2 Cắt giảm chi phí nhân công
Đảng đã khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc
con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân
trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân
tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Tuy nhiên, từ ý tưởng trên đi tới đường lối, chính sách và tổ chức thực
hiện là cả một cuộc trường chinh gian khổ cho chất lượng nguồn nhân lực và
năng suất lao động.
Hiện nay, khả năng phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới mức trần,
doanh nghiệp đang đứng trước đòi hỏi phải bằng mọi cách chuyển từ lợi thế
so sánh dựa trên lao động giá rẻ và nhờ cậy vào tài nguyên, môi trường sáng
tạo ra lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên phát huy nguồn lực con người. Song
doanh nghiệp đang vấp phải 3 trở lực lớn: chất lượng còn thấp về nguồn nhân
lực, sự bất cập lớn của kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuât, năng lực quản lý
hẫng hụt nhiều mặt. Vấn đề con người luôn được doanh nghiệp quan tâm. Do
đó, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì cần phải quan tâm đến đời
sống của cán bộ công nhân viên trong công ty nhằm phát huy nội lực tối đa và
giảm chi phí một cách lâu dài.
1.2.3 Cắt giảm chi phí sản xuất chung
Hoạt động sản xuất là hoạt động diễn ra thường xuyên và bao gồm rất
nhiều yếu tố sản xuất. Đây là yếu tố phục vụ một cách đắc lực cho quá trình
sản xuất sản phẩm có thể được thực hiện với tốc độ nhanh và mang tính khoa
học. Nó kết hợp sức lao động của con người và sự sẵn có của nguyên vật liệu
để trợ giúp cho hoạt động sản xuất của công ty. Toàn bộ chi phí mua máy
11
Chuyên đề tốt nghiệp
móc và trang thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất đều được coi là những chi
phí sản xuất chung.
Việc cắt giảm chi phí sản xuất chung đòi hỏi các doanh nghiệp cần cân
nhắc thật kỹ càng bởi nó có liên quan một cách mật thiết với năng suất lao
động. Tuy nhiên tiết giảm chi phí này lại có thể nhanh chóng nâng cao sưc
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và luôn có cơ hội để tìm kiếm một thị
trường mới tiềm năng hơn.
1.2.4 Cắt giảm chi phí bán hàng
Mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp là bán được hàng để đem lại
doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Hoạt động bán hàng được triển khai
nhằm đáp ứng nhu cầu đưa sản phẩm hàng hoá đến tận tay của người tiêu
dùng có nhu cầu sử dụng.
Là khoản chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình tiêu thụ sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp.
Là Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và thương mại, một
trong nỗi bận tâm của chủ doanh nghiệp là làm sao quản lý sát sao tình hình
kinh doanh với các số liệu về kho hàng (nhập, xuất, tồn kho) và tình hình công
nợ của từng khách hàng. Nếu thực hiện việc quản lý trên bằng ghi sổ sách thủ
công, sẽ làm mất rất nhiều thời gian và công sức, đôi khi còn bị thất thoát về
mặt tài chính. Quản lý bán hàng trong các doanh nghiệp là công việc quan
trọng, đòi hỏi bộ phận quản lý phải tiến hành nhiều nghiệp vụ phức tạp. Các
nghiệp vụ càng phức tạp thì lượng chi phí bỏ ra ngày càng nhiều và khó dự
báo. Giảm chi phí bán hàng là giảm thiểu cơ bản những tổn thất không đáng có
trong các nghiệp vụ bán hàng nhằm tiết kiệm một khoản chi phí nhất định.
1.2.5 Cắt giảm chi phí quản lý doanh nghiệp
Là những khoản chi phí có tính nhạy cảm nhất và dễ tác động để hoàn
thành chiến lược của công ty. Nó bao gồm toàn bộ chi phí của khối quản lý và
12
Chuyên đề tốt nghiệp
điều hành doanh nghiệp. Đó là: Chi phí quảng cáo, khuyến mại, chi phí giao
dịch, đối ngoại (không bao gồm: Chi phí nghiên cứu thị trường: thăm dò,
khảo sát, phỏng vấn, thu thập, phân tích và đánh giá thông tin; chi phí phát
triển và hỗ trợ nghiên cứu thị trường; chi phí thuê tư vấn thực hiện công việc
nghiên cứu, phát triển và hỗ trợ nghiên cứu thị trường; Chi phí trưng bày, giới
thiệu sản phẩm và tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại: chi phí mở phòng hoặc
gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm; chi phí thuê không gian để trưng bày,
giới thiệu sản phẩm; chi phí vật liệu, công cụ hỗ trợ trưng bày, giới thiệu sản
phẩm; chi phí vận chuyển sản phẩm trưng bày, giới thiệu); Chi tiếp tân, khánh
tiết, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị; Chi phí hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi
phí, chi phí chiết khấu thanh toán (kể cả chi bằng tiền cho đại lý và người mua
hàng hoá, dịch vụ với khối lượng lớn); Chi báo biếu, báo tặng của các cơ quan
báo chí và các loại chi phí khác phần vượt quá 10% tổng số các khoản chi phí
hợp lý. Đối với hoạt động kinh doanh thương mại chi phí hợp lý để xác định
mức khống chế không bao gồm giá vốn của hàng hoá bán ra.
Do vậy, doanh nghiệp phải có những chính sách thích hợp cắt giảm khoản
mục chi phí này để đạt múc tiết kiệm chi cho các hoạt động cần thiết hơn.
2. Sự cần thiết phải cắt giảm chi phí sản xuất
2.1 Chi phí sản xuất cao do lạm phát
“Hiện tượng lạm phát là căn bệnh cố hữu của mọi nền kinh tế đang có
tốc độ tăng trưởng dương, để khắc phục hiện tượng này, trước hết ta phải
phân tích được những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra nó”
2
.
Bởi vì, lạm phát luôn luôn là kết quả của sự tác động tổng hợp của các
yếu tố kinh tế khác nhau, và thường thì rất khó nhận ra đâu là nguyên nhân
chủ yếu, nên việc chống lạm phát thường gặp nhiều khó khăn. Từ sự phân
tích đúng đắn này, ta mới có thể đề ra các giải pháp quản lí, sử dụng các công
2
http://blog.sgc.vn/?p=47
13
Chuyên đề tốt nghiệp
cụ điều tiết vĩ mô (bao gồm: chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính
sách kinh tế đối ngoại, chính sách thu nhập) phối hợp thực hiện một cách
đồng bộ với nhau nhằm tạo ra một tác động tổng hợp kiềm chế lạm phát ở
mức độ vừa phải, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển một cách
bền vững.
Chi phí sản xuất tăng có thể do các nguyên nhân sau: do gia tăng tiền
lương danh nghĩa, tăng giá nguyên-nhiên-vật liệu,… Do chi phí sản xuất tăng
nên doanh nghiệp buộc phải tăng giá sản phẩm nhằm bảo đảm lợi nhuận.
Ở Việt Nam, để tính lạm phát, người ta chỉ dùng " chỉ số giá tiêu dùng".
Bảng 1: Chỉ số giá tiêu dùng so sánh giữa năm sau và năm trước.
(Năm trước tính là 100)
Năm
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng tỷ lệ
lạm phát
100 103,9 103,1 107,8 108,3 107,5 126,3
(Nguồn: Tổng cục thống kê )
Giá tiêu dùng năm nay diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng cao ở các
tháng cuối năm. So với tháng 12 năm 2006, giá tiêu dùng năm 2007 tăng
12,63%, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 18,92%; nhà ở và
vật liệu xây dựng tăng 17,12%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng từ
1,69% đến 7,27%. Giá tiêu dùng bình quân năm 2007 so với năm 2006 tăng
8,3%, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,16%; nhà ở và vật
liệu xây dựng tăng 11,01%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ tăng
3,18-6,15%. Giá nguyên liệu sản xuất phôi thép trên thế giới năm nay tăng
65% so với năm trước; mỗi tấn thép tiêu hao khoảng 40 lít dầu.
Điều này khiến cho hàng loạt nhà máy xí nghiệp đứng trước nguy cơ
phá sản do lượng hàng tiêu thụ giảm sút do giảm cầu tiêu dùng. Vấn để đặt ra
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét