Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản xuất sản phẩm tại xí nghiệp than cao thắng

Đồ án môn học Kế toán tài chính
Phần 1
Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

5
Đồ án môn học Kế toán tài chính
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thanh sản phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất lợng của hoạt
động sản xuất trong doanh nghiệp, thông qua những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành
do bộ phận kế toán cung cấp các nhà quản lý sẽ nắm đợc những chỉ tiêu thực tế của từng hoạt
động, từng loại sản phẩm cũng nh kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của sản phẩm để
có các quyết định quản lý thích hợp. Việc phấn đấu hạ giá thành và nâng cao chất lợng sản
phẩm là nhân tố quyết định nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nâng
cao thu nhập cho ngời lao động. Do đó hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
có một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Chuyển sang cơ chế thị trờng, đứng trớc sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ chi phí sản
xuất vào giá thành sản phẩm và phải đảm bảo có lợi nhuận, làm sao cho chi phí bỏ ra là thấp
nhất và lợi nhuận thu về là cao nhất trong khả năng của doanh nghiệp. Muốn vậy trớc hết phải
tổ chức hạch toán đầy đủ, chính xác chi phí sản xuất tránh tình trạng các doanh nghiệp ăn dần
vào vốn, thậm chí sẽ phải phá sản, từ bỏ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nền kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi con ngời ngày càng phải quản lý chặt chẽ hơn
chi phí sản xuất và kết quả kinh doanh, các tổ chức kinh tế phải từng bớc xây dựng cơ chế
hoàn chỉnh trong việc kiểm soát hệ thống chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của tổ chức
mình. Và muốn hạch toán chính xác chi phí đầu vào thì kế toán phải tổ chức ghi chép, tính
toán, phản ánh và giám đốc một cách thờng xuyên liên tục các chi phí chi ra trong quá trình
sản xuất theo từng nơi phát sinh chi phí. Trên cơ sở đó cung cấp các thông tin kinh tế quan
trọng về tình hình sử dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị nhân công cho lãnh đạo
doanh nghiệp có biện pháp xử lý kịp thời với chi phí sản xuất chi ra trong kỳ, nhằm tiết kiệm
chi phí lao động sống và lao động vật hoá để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
Nh vậy, việc tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm sẽ phản ánh đúng đắn tình hình và
kết quả thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp, xác định đợc đúng đắn kết quả tài
chính, tránh đợc kết quả lãi giả lỗ thật. Chính vì vậy tính đúng, tính đủ giá thành có ý nghĩa
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

6
Đồ án môn học Kế toán tài chính
hết sức quan trọng và thiết thực đối với việc tăng cờng và cải tiến công tác quản lý giá thành
nói riêng và quản lý tài sản của doanh nghiệp nói chung.
1.2. Mục đích, đối tợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu của chuyên đề
1.2.1. Mục đích
Mục đích chung của chuyên đề là nghiên cứu công tác hạch toán kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp than Cao Thắng và đề xuất một số ý
kiến nhằm hoàn thiện hơn công tác hạch toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại Xí nghiệp. Cụ thể là hệ thống hoá cơ sở lý luận về công tác hạch toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đánh giá thực trạng công tác hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm than tại Xí nghiệp than Cao Thắng nhằm quản lý và kiểm
soát chặt chẽ chi phí sản xuất, đảm bảo tính đúng, tính đủ chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
1.2.2. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu chủ yếu là công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Xí nghiệp than Cao Thắng.
1.2.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về chi phí và giá thành
- Phân tích việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp than Cao Thắng
- Thực hành công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Xí nghiệp than Cao Thắng tháng 3 năm 2009.
1.2.4. Phơng pháp nghiên cứu
Thống kê, tập hợp số liệu về chi phí phát sinh, các mẫu biểu chứng từ, sổ sách kế toán
để làm rõ hiện trạng về công tác hạch toán chi phí sản xuất và xác định giá thành sản phẩm,
qua đó tổ chức thực hành công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp
than Cao Thắng. Để làm đợc điều đó, trong đồ án sử dụng kết hợp các phơng pháp nghiên
cứu: Thống kê, so sánh, nghiên cứu thực tiễn, hệ thống hoá, đối chiếu, kiểm tra, nhằm vận
dụng những kiến thức đợc học trong trờng vào giải quyết nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cụ
thể trong thực tiễn.
1.3. Cơ sở lý luận về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.3.1. Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

7
Đồ án môn học Kế toán tài chính
1.3.1.1. Khái niệm
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần phải huy động các nguồn nhân, tài, vật
lực (lao động, vật t, tiền vốn ) để thực hiện việc sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện các
công việc lao vụ, thu mua dự trữ hàng hoá, luân chuyển lu thông sản phẩm, hàng hoá, thực
hiện hoạt động đầu t kể cả chi cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp. Điều đó có
nghĩa là doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cho
quá trình hoạt động của mình.
Nh vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong một thời kỳ
nhất định.
1.3.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều khoản chi có nội dung, công dụng và mục đích sử
dụng khác nhau. Vì vậy để quản lý chi phí đợc chặt chẽ, theo dõi và hạch toán chi phí một
cách có hệ thống, nâng cao chất lợng công tác kiểm tra và phân tích kinh tế trong các doanh
nghiệp, cần phải phân loại chi phí theo các tiêu thức thích hợp. Tuỳ theo việc xem xét chi phí
ở các góc độ khác nhau và mục đích quản lý chi phí mà chi phí sản xuất đợc phân loại theo
các tiêu thức khác nhau. Sau đây xin đề cập đến hai cách phân loại chủ yếu đối với chi phí
của doanh nghiệp:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế
Theo cách phân loại này những khoản chi phí có chung tính chất, nội dung kinh tế đợc
xếp chung vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và sử dụng vào mục
đích gì. Theo tiêu thức này thì toàn bộ chi phí của doanh nghiệp đợc phân biệt thành năm
loại:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu:
Bao gồm các chi phí nguyên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật
liệu và thiết bị cơ bản
- Chi phí nhân công: là chi phí về tiền lơng, tiền công phải trả cho ngời lao động và các
khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trên tiền lơng, tiền công
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ chi phí khấu hao của tất cả các tài sản
cố định trong doanh nghiệp.
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

8
Đồ án môn học Kế toán tài chính
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài
phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp (nh dịch vụ cung cấp điện, nớc, sửa chữa các tài
sản cố định )
- Chi phí khác bằng tiền: Là các chi phí khác bằng tiền phát sinh trong quá trình sản
xuất kinh doanh ngoài 4 chi phí nói trên.
Trên thực tế các doanh nghiệp vẫn phân loại các chi phí thành 8 yếu tố sau:
1. Nguyên vật liệu
2. Nhiên liệu
3. Động lực
4. Tiền lơng
5. BHXH, BHYT, KPCĐ6. Khấu hao TSCĐ
7. Chi phí dịch vụ mua ngoài
8. Chi phí khác bằng tiền
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế có tác dụng quan trọng đối
với việc quản lý chi phí của lĩnh vực sản xuất: cho phép hiểu rõ cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố
chi phí, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, làm cơ sở
cho việc dự trù hay xây dựng kế hoạch cung ứng vật t, tiền vốn, huy động sử dụng lao động
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất
để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau. Mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi
phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nh thế
nào. Theo tiêu thức này chi phí sản xuất đợc chi thành các loại:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các nguyên vật liệu chính
(kể cả nửa thành phẩm mua ngoài), vật liệu phụ, nhiêu liệu sử dụng trực tiếp vào việc sản
xuất tạo ra những sản phẩm hay thực hiện công việc, lao vụ. Không tính vào khoản mục này
những chi phí nguyên vật liệu dùng vào mục đích sản xuất chung hay cho những hoạt động
ngoài lĩnh vực sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lơng, phụ cấp phải trả các khoản
trích BHXH, BHYT và KPCĐ trên tiền lơng của công nhân (lao động) trực tiếp sản xuất theo
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

9
Đồ án môn học Kế toán tài chính
qui định. Không tính vào khoản mục này khoản tiền lơng, phụ cấp và các khoản trích trên
tiền lơng của nhân viên phân xởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý doanh nghiệp hay
nhân viên khác.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ sản xuất chung
tại bộ phận sản xuất (phân xởng, đội, trại ) bao gồm các khoản sau:
+ Chi phí nhân viên phân xởng
+ Chi phí vật liệu
+ Chi phí dụng cụ sản xuất
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí bằng tiền khác
Trong thực tế, để quản trị chi phí tới từng loại, các doanh nghiệp khai thác than chia
chi phí thành 8 loại nh phân loại ở trên nhng theo dõi riêng cho từng đối tợng chịu phí, sau đó
vẫn tập hợp theo các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
và chi phí sản xuất chung.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ
cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành và định mức chi phí cho kỳ sau.
Ngoài 2 cách phân loại trên đây để phục vụ cho công tác quản lý và công tác kế toán
chi phí sản xuất có thể đợc phân loại theo nhiều cách khác nhau nh:
Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lợng sản phẩm, lao
vụ (chi phí khả biến và chi phí bất biến), phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp
chi phí giá thành (chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp); hoặc có thể phân loại chi phí theo mối quan
hệ của chi phí với qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm (chi phí cơ bản và chi phí chung).
1.3.2. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm
1.3.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm (công việc, lao vụ) là chi phí sản xuất tính cho một khối lợng hoặc
một đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành.
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

10
Đồ án môn học Kế toán tài chính
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản,
vật t lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng nh tính đúng đắn của các giải pháp tổ
chức, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả,
năng suất lao động, chất lợng sản xuất, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt
động sản xuất.
Mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành phản ánh trình độ sử dụng hợp lý và tiết kiệm
lao động, vật t, khả năng tận dụng công suất máy móc, trình độ quản lý kinh tế và hạch toán
kinh tế nội bộ.
1.3.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
* Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Gồm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế
hoạch và sản lợng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh
nghiệp thực hiện và đợc tính trớc khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành
kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở các định mức chi phí
hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức đợc xem nh thớc đo chính
xác để xác định kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t, tiền vốn trong doanh nghiệp, giúp cho
việc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong
quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng giống nh giá thành
kế hoạch, việc tính giá thành định mức cũng đợc tiến hành trớc khi sản xuất chế tạo sản
phẩm.
- Giá thành thực tế: Là giá thành đợc tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã
phát sinh và tập hợp đợc trong kỳ và sản lợng sản phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ. Giá
thành thực tế chỉ có thể tính toán đợc sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm đ-
ợc tính toán cho cả chi tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị. Giá thành thực tế là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong quá trình tổ chức và sử
dụng các giải pháp kinh tế, kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

11
Đồ án môn học Kế toán tài chính
xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với nhà nớc cũng nh các đối tác liên doanh, liên kết.
* Phân loại giá thành theo phạm vi các yếu tố cấu thành
Gồm 2 loại:
- Giá thành sản xuất: Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất,
chế tạo sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản
xuất chung ) tính cho những sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản
xuất của sản phẩm đợc sử dụng để ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao
thẳng cho khách hàng, đồng thời là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và lãi gộp trong kỳ ở các
doanh nghiệp.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất và chi phí bán
hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm tiêu thụ. Giá thành toàn bộ của sản
phẩm tiêu thụ chỉ xác định và tính toán khi sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã đợc xác định
là tiêu thụ. Giá thành toàn bộ là căn cứ để tính toán, xác định mức lợi nhuận trớc thuế của
doanh nghiệp.
1.3.3. Phân biệt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất có
quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm cùng giống nhau về chất: Chúng đều là các hao phí về lao động sống, lao
động vật hoá và các chỉ tiêu khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình chế tạo sản phẩm.
Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có những sự khác nhau trên các
phơng diện sau:
+ Chi phí sản xuất gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí còn giá thành sản phẩm
phải gắn với khối lợng sản phẩm, công việc, lao vụ đã sản xuất hoặc hoàn thành.
+ Về mặt lợng, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau khi có sản
phẩm sản xuất dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ. Sự khác nhau về mặt lợng và mối quan hệ giữa
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức tính giá thành sản phẩm tổng
quát sau đây:
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

12
Đồ án môn học Kế toán tài chính
Z = D
dk
+ C - D
ck
Trong đó:
Z: Tổng giá thành sản phẩm
D
dk
: Trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ
C: Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
D
ck
: Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
1.3.4. ý nghĩa của việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và xác định giá thành sản phẩm
Tổ chức kế toán hợp lý, chính xác chi phí sản xuất, tính đúng, tính đủ giá thành sản
phẩm có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành. Tổ chức kiểm tra tính hợp
pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung, ở từng bộ phận và đối tợng nói
riêng góp phần quản lý tài sản, vật t, lao động, tiền vốn tiết kiệm có hiệu quả. Mặt khác tạo
điều kiện và có biện pháp phấn đấu hạ thấp giá thành sản phẩm, nâng cao chất lợng sản phẩm
là một trong những điều kiện quan trọng để thị trờng chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp,
tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm của doanh nghiệp có điều kiện cạnh tranh với sản phẩm
của các doanh nghiệp khác.
Công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là đối tợng chính của kế toán
quản trị, chủ yếu cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý ở doanh nghiệp, song nó
có ý nghĩa rất quan trọng và chi phối đến chất lợng công tác kế toán khác, cũng nh chất lợng
và hiệu quả của công tác quản lý kinh tế, tài chính, tình hình thực hiện chính sách chế độ của
Nhà nớc, Bộ, Ngành trong doanh nghiệp. Do vậy, quản lý chi phí là một yêu cầu cấp thiết mà
tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện.
1.3.5. Yêu cầu, nhiệm vụ đối với công tác hạch toán chi phí và tính giá thành
trong doanh nghiệp
1.3.5.1. Yêu cầu quản lý chi phí và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lợng hoạt động
sản xuất, kết quả sử dụng các loài tài sản, vật t, tiền vốn, lao động mà doang nghiệp đã thực
hiện nhằm thu lợi nhuận tối đa với chi phí bỏ ra tối thiểu. Do đó, doanh nghiệp tiết kiệm chi
phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là một trong những mục tiêu số 1 của các doanh
nghiệp khi muốn tồn tại trong nền kinh tế thị trờng. Để đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm , kế toán cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất từng bộ phận
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

13
Đồ án môn học Kế toán tài chính
- Ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác các chi phí phát sinh trong quá trình
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Kiểm tra thực hiện các định mức tiêu hao vật t, kỹ thuật
- Tính toán chính xác, đầy đủ, kịp thời giá thành đơn vị
- Kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ giá thành từ đó đa ra những khả năng tiềm
tàng có thể khai thác và phấn đấu hạ giá thành sản phẩm
- Xác định kế hoạch ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp
1.3.5.2. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Để tổ chức tốt kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đáp ứng tốt yêu cầu
quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí và đối tợng tính giá thành phù hợp với đặc
thù của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý.
- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm phù hợp với phơng pháp kế toán hàng tồn kho mà doanh nghiệp đã lựa chọn.
- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối tợng kế
toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định, theo yếu tố chi phí và khoản mục giá thành.
-Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố, định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp.
- Tổ chức kiểm kê đánh giá khối lợng sản phẩm dở dang một cách khoa học, hợp lý,
xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ một cách đầy đủ, chính xác.
Xuất phát từ yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm ta có thể khẳng định rằng việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
một cách đầy đủ, chính xác và khoa học là yêu cầu không thể thiếu đợc trong kế toán, là khâu
quan trọng nhất của kế toán trong doanh nghiệp.
1.3.6. Nội dung công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.3.6.1. Đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
Đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí nhằm
đáp ứng yêu cầu tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Các chi phí phát sinh cần đợc tập hợp theo phạm vi, giới hạn cần đợc tập hợp có thể là:
Sinh viên: Bùi Thị Phơng Lớp: kế toán B K53

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét