Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Nghị định 92-CP năm 1993 hướng dẫn Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật

khả năng thực hiện thì cơ quan kiểm dịch thực vật xử lý và chủ vật thể phải trả phí tổn.
3- Trong trường hợp cùng một lúc phải xử lý vật thể nhiễm dịch của nhiều chủ vật thể, nhưng các chủ vật
thể không thoả thuận được với nhau, thì cơ quan kiểm dịch thực vật quyết định và các chủ vật thể phải thực
hiện.
Điều 4. - Chủ các phương tiện chuyên chở, bảo quản phải thực hiện những quy định về kiểm dịch thực vật
đối với phương tiện và vật thể mà mình chuyên chở, bảo quản theo phương tiện đó.
Điều 5. - Việc khử trùng vật thể nhiễm dịch phải do tổ chức có đủ điều kiện thực hiện theo quy định của Bộ
Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm. Nếu là vật thể nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh thì phải do cơ quan
kiểm dịch thực vật hoặc tổ chức chuyên trách khác của nhà nước được cơ quan kiểm dịch thực vật chỉ định
thực hiện, có sự giám sát của cơ quan kiểm dịch thực vật.
Điều 6. - Khi vận chuyển vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật đến ranh giới vùng dịch, đến cửa khẩu để
xuất khẩu hoặc đến cửa khẩu để nhập khẩu, chủ vật thể phải làm đầy đủ các thủ tục sau đây:
1. Khai báo với cơ quan kiểm dịch thực vật nơi gần nhất trước ít nhất 24 giờ. Đối với hành lý xách tay,
hành lý gửi theo phương tiện chuyên chở và lương thực, thực phẩm mang theo, có nguồn gốc là thực vật thì
phải khai báo tại chỗ khi cán bộ kiểm dịch thực vật yêu cầu;
2. Tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ kiểm dịch thực vật kiểm tra lấy mẫu vật thể thuộc diện kiểm dịch thực
vật như mở, đóng phương tiện vận chuyển, kho chứa, kiện hàng, cung cấp nhân lực cho việc lấy mẫu hàng,
3. Nộp lệ phí và phí tổn kiểm dịch thực vật theo quy định.
Điều 7. - Sau khi chủ vật thể khai báo, cơ quan kiểm dịch thực vật phải kiểm tra, phúc tra, cấp giấy chứng
nhận kiểm dịch thực vật ngay trong phạm vi 24 giờ. Trong trường hợp phải kéo dài quá 24 giờ, cơ quan
kiểm dịch thực vật phải báo cho chủ vật thể biết.
Điều 8. - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm công bố danh mục những vật thể có khả
năng mang theo đối tượng kiểm dịch thực vật mà ở Việt Nam chưa có điều kiện phát hiện và ngăn chặn.
Trong trường hợp đó, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm sẽ công bố cấm hoặc hạn chế chuyên
chở, xuất khảu, nhập khẩu, quá cảnh ở một số vùng theo một số lộ trình vào thời gian nhất định để phòng
ngừa sự lây lan, xâm nhập của các đối tượng kiểm dịch thực vật.
Điều 9. - Thao tác kỹ thuật kiểm tra vật thể và thủ tục lập hồ sơ, giấy tờ về kiểm dịch thực vật phải được áp
dụng thống nhất trong phạm vi cả nước, theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
Điều 10. - Cán bộ kiểm dịch thực vật khi làm nhiệm vụ được vào những nơi có vật phẩm, phương tiện,
công cụ thuộc diện kiểm dịch thực vật. Riêng đối với những nơi cơ mật thuộc về an ninh và quốc phòng thì
phải được cấp có thẩm quyền quản lý các cơ sở đó tạo điều kiện và hướng dẫn cách làm nhiệm vụ để bảo
đảm được cả hai yêu cầu bảo mật và kiểm dịch.
Điều 11. - Việc phối hợp giữa các cơ quan đối với việc xuất, nhập, quá cảnh những vật thể thuộc diện kiểm
dịch được quy định như sau:
1. Các cơ quan Cảng vụ, Hải quan, Bưu điện, Công an, Bộ đội biên phòng có trách nhiệm phối hợp với các
cơ quan kiểm dịch thực vật khi cần kiểm tra, ngăn chặn, đuổi bắt các đối tượng vi phạm chế độ kiểm dịch
thực vật.
2. Việc khai báo vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật xuất khẩu, nhập khẩu tại các cửa khẩu là một trong
những nội dung cấu thành của tờ khai hải quan.
3. Các cơ quan Hải quan có trách nhiệm kết hợp trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát kiểm dịch thực vật
đối với các loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh. Thủ tục hải quan chỉ hoàn tất đối với vật thể
thuộc diện kiểm dịch thực vật sau khi đã làm đầy đủ thủ tục kiểm dịch thực vật cũng như những thủ tục
khác theo quy định của pháp luật.
Chương 2:
KIỂM DỊCH THỰC VẬT NỘI ĐỊA
Điều 12. - Đối tượng kiểm dịch thực vật nội địa được quy định như sau:
1. Đối tượng kiểm dịch thực vật nội địa là những loài sinh vật gây hại huy hiểm mới xuất hiện trong phạm
vi không gian hẹp, có khả năng lây lan ra phạm vi rộng.
2. Những vật thể đã hoặc có khả năng mang đối tượng kiểm dịch thực vật nội địa đều thuộc diện kiểm dịch
thực vật nội địa.
Điều 13. - Nội dung công tác kiểm dịch thực vật ở những vùng chưa phát hiện đối tượng kiểm dịch thực vật
nội địa bao gồm:
1. Chủ tài nguyên thực vật phải thường xuyên theo dõi tình hình sinh vật gây hại tài nguyên thực vật của
mình hoặc do mình trực tiếp quản lý.
Ở những nơi thường tập trung vật thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu, quá cảnh hoặc đưa từ vùng
dịch đến thì việc theo dõi nêu trên phải theo yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan kiểm dịch thực vật;
2. Khi phát hiện đối tượng kiểm dịch thực vật nội địa hoặc sinh vật gây hại nghi là đối tượng đó thì chủ vật
thể hoặc người phát hiện phải báo cáo ngay cho cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật nơi gần nhất. Nhận
được thông báo, cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật phải xác minh ngay. Chủ vật thể có trách nhiệm thực
hiện các biện pháp xử lý theo hướng dẫn của cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
3. Nơi nào có đối tượng kiểm dịch thực vật nội địa thì nơi đó phải tiến hành kiểm dịch thực vật theo những
quy định tại Điều 13 của Điều lệ này.
4. Vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải có chứng nhận kiểm dịch thực vật của cơ quan kiểm dịch thực
vật ở ranh giới vùng dịch trong quá trình chuyên chở, bảo quản, sử dụng. Chủ vật thể phải thực hiện đúng
những quy định ghi trong giấy chứng nhận.
Điều 14. - Nội dung công tác kiểm dịch thực vật ở những vùng đang có đối tượng kiểm dịch thực vật nội
địa bao gồm:
1. Ở nơi có ổ dịch chủ vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải thực hiện các biện pháp xử lý vật thể
nhiễm dịch theo quy định và dưới sự giám sát, xác nhận của cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật có trách nhiệm hướng dẫn chủ vật thể áp dụng các biện pháp xử lý
vật thể nhiễm dịch;
2. Ở nơi có nhiều ổ dịch, có dấu hiệu các ổ dịch lan tràn thành vùng dịch, các cơ quan có trách nhiệm phải
áp dụng những biện pháp dưới đây:
a) Cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật phải báo cáo ngay với cơ quan có thẩm quyền công bố dịch. Chủ
vật thể và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện việc dập dịch theo quy định tại Điều 11 Pháp
lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
b) Mọi vật thể có khả năng mang đối tượng kiểm dịch thực vật đang có trong vùng dịch khi di chuyển ra
khỏi vùng dịch phải được kiểm tra, xử lý và có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nội địa;
c) Địa điểm kiểm dịch thực vật nội địa do cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật chỉ định tại ranh giới vùng
dịch hoặc tại nơi trong vùng dịch mà từ đó lô vật thể được di chuyển ra ngoài.
3. Việc khai báo, kiểm tra, xử lý, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nội địa được thực hiện theo quy
định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Điều lệ này.
Điều 15. - Nghiêm cấm việc di chuyển đối tượng kiểm dịch thực vật nội địa còn sống đến các vùng chưa có
dịch. Trong trường hợp việc di chuyển nhằm mục đích nghiên cứu thì phải được Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Công nghiệp thực phẩm cho phép.
Chương 3:
KIỂM DỊCH THỰC VẬT NHẬP KHẨU
Điều 16. - Đối tượng và vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu được quy định như sau:
1. Đối tượng kiểm dịch nhập khẩu bao gồm những sinh vật gây hại nguy hiểm, chưa hoặc mới xuất hiện
trong phạm vi không gian hẹp, có khả năng từ nước ngoài xâm nhập, lây lan vào trong nước.
Danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực
phẩm xác định và công bố từng thời gian.
2. Những vật thể đã hoặc có khả năng mang các sinh vật gây hại nêu trên đều thuộc diện kiểm dịch thực vật
nhập khẩu.
Điều 17. - Vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu vào Việt Nam phải có những điều kiện sau đây:
1. Có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật của nước xuất khẩu theo mẫu quy định tại Công ước quốc tế
1951 về bảo vệ thực vật;
2. Không có đối tượng kiểm dịch thực vật nhập khẩu và không có sinh vật gây hại nguy hiểm khác, nếu có
thì đã qua xử lý.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quy định tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật đối với
vật thể nhập khẩu nhằm đảm bảo những điều kiện nêu trên.
Điều 18. - Thủ tục kiểm dịch thực vật nhập khẩu bao gồm:
1. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu giống cây phải đăng ký trước với Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực
phẩm ít nhất là 10 ngày kể từ khi đưa giống cây đó đến cửa khẩu đường bộ, đường sắt, đường biển, cảng
sông, sân bay, cơ sở bưu điện (gọi chung là cửa khẩu) đầu tiên;
2. Khi vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu đã vào cửa khẩu đầu tiên, chủ vật thể phải khai báo
với cơ quan kiểm dịch thực vật Việt Nam nơi gần nhất. Cơ quan này chỉ định cụ thể địa điểm kiểm dịch tại
cửa khẩu đầu tiên đó hoặc ở nơi khác có điều kiện cách ly;
3. Việc khai báo, kiểm tra, xử lý, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nhập khẩu đối với vật thể thuộc
diện kiểm dịch thực vật được thực hiện theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Điều lệ này;
4. Khi phương tiện vận tải đường thuỷ thuộc diện kiểm dịch thực vật vào lãnh hải Việt Nam, chủ phương
tiện phải khai báo và cơ quan kiểm dịch thực vật Việt Nam kiểm tra, nếu không có đối tượng kiểm dịch
thực vật nhập khẩu thì phương tiện đó được phép cập cảng, nếu có đối tượng kiểm dịch thực vật thì phải xử
lý.
Việc kiểm tra vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu chuyên chở trên phương tiện vận tải đường
thuỷ được tiến hành tại địa điểm kiểm dịch ở cảng Việt Nam.
Điều 19. - Trách nhiệm của cơ quan kiểm dịch thực vật, chủ vật thể trong việc vận chuyển, bảo quản, sử
dụng vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật được quy định như sau:
1. Cơ quan kiểm dịch thực vật có quyền giám sát về mặt kiểm dịch thực vật đối với vật thể thuộc diện kiểm
dịch thực vật nhập khẩu kể từ khi vật thể đó được đưa vào lãnh thổ Việt Nam.
2. Trong quá trình vận chuyển, bảo quản, sử dụng vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu, chủ vật
thể phải có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nhập khẩu và thực hiện đầy đủ các biện pháp quy định tại
giấy chứng nhận đó.
Điều 20. - Cơ quan kiểm dịch thực vật được phép tiến hành hoặc phối hợp với cơ quan kiểm dịch thực vật
nước xuất khẩu tiến hành kiểm tra, xử lý vật thể nhập khẩu tại nước xuất khẩu.
Điều 21. - Nghiêm cấm đưa đối tượng kiểm dịch thực vật nhập khẩu còn sống ở bất kỳ giai đoạn sinh
trưởng nào vào Việt Nam, trong trường hợp cần đưa vào để nghiên cứu thì do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Công nghiệp thực phẩm quyết định.
Điều 22. - Việc xử lý những vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật từ nước ngoài do trôi dạt, rơi vãi, vứt bỏ,
để lọt vào Việt Nam thuộc thẩm quyền của của cơ quan kiểm dịch thực vật có sự phối hợp của các cơ quan
hữu quan như Cảng vụ, Hải quan, Công an, Bộ đội biên phòng.
Chương 4:
KIỂM DỊCH THỰC VẬT XUẤT KHẨU
Điều 23. - Đối tượng và vật thể thuộc diện kiểm dịch xuất khẩu được quy định như sau:
1. Đối tượng kiểm dịch thực vật xuất khẩu bao gồm những loại sinh vật gây hại không được để lọt ra nước
ngoài theo quy định trong các hợp đồng buôn bán, liên doanh, các hiệp định, công ước và các văn bản thoả
thuận, cam kết khác giữa bên Việt Nam với một hoặc nhiều bên nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế.
2. Những vật thể đã hoặc có khả năng mang đối tượng kiểm dịch thực vật xuất khẩu đều thuộc diện kiểm
dịch thực vật xuất khẩu.
Điều 24. - Chủ vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật khi xuất khẩu phải có những điều kiện sau đây:
1. Chủ vật thể phải có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do cơ quan kiểm dịch thực vật Việt Nam cấp;
2. Phù hợp với yêu cầu về kiểm dịch thực vật quy định trong các hợp đồng buôn bán, liên doanh, các hiệp
định, công ước và các văn bản thoả thuận, cam kết giữa bên Việt Nam với một hoặc nhiều bên nước ngoài
hoặc tổ chức quốc tế.
Điều 25. - Thủ tục kiểm dịch thực vật xuất khẩu bao gồm:
1. Khi vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật xuất khẩu đưa đến cửa khẩu đường bộ, đường sắt, cảng biển,
cảng sông, sân bay, cơ sở bưu điện cuối cùng, hoặc đến nơi mà từ đó vật thể xuất khẩu ra nước ngoài, chủ
vật thể phải khai báo trước với cơ quan kiểm dịch thực vật gần nhất. Cơ quan kiểm dịch thực vật chỉ định
địa điểm kiểm dịch tại các cửa khẩu và các nơi nêu trên;
2. Cơ quan kiểm dịch thực vật có quyền ra quyết định hoặc chấp nhận theo yêu cầu của chủ vật thể thực
hiện phương thức kiểm tra sơ bộ tại cơ sở sản xuất, bảo quản ở sâu trong nội địa và phúc tra tại cửa khẩu
cuối cùng, trong trường hợp này việc kiểm tra và phúc tra cuối cùng vẫn phải được thực hiện để cấp giấy
chứng nhận kiểm dịch thực vật xuất khẩu;
3. Việc khai báo, kiểm tra, xử lý, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật xuất khẩu đối với vật thể thuộc
diện kiểm dịch thực vật được thực hiện theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Điều lệ này.
Điều 26. - Trách nhiệm của cơ quan kiểm dịch thực vật, chủ vật thể trong khi vận chuyển vật thể ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam được quy định như sau:
1. Cơ quan kiểm dịch thực vật có quyền giám sát về mặt kiểm dịch thực vật đối với vật thể thuộc diện kiểm
dịch thực vật xuất khẩu từ khi vật thể được kiểm tra, phúc tra, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật xuất
khẩu cho đến khi vận chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
2. Chủ vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật xuất khẩu khi vận
chuyển vật thể từ địa điểm kiểm dịch thực vật xuất khẩu ra nước ngoài và phải thực hiện đầy đủ các biện
pháp quy định tại giấy chứng nhận đó.
Chương 5:
KIỂM DỊCH THỰC VẬT QUÁ CẢNH
Điều 27. - Vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật khi chuyên chở quá cảnh Việt Nam phải có giấy chứng
nhận kiểm dịch thực vật do cơ quan kiểm dịch thực vật của Nhà nước nơi xuất xứ cấp, phải được đóng gói
kín, chắc chắn và được chở bằng phương tiện không bị nhiễm đối tượng kiểm dịch thực vật nhập khẩu,
hoặc sinh vật gây hại nguy hiểm khác có thể lây lan dọc đường.
Điều 28. - Thủ tục kiểm dịch thực vật quá cảnh bao gồm:
1. Khi vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật quá cảnh vào cửa khẩu đầu tiên của Việt Nam, chủ vật thể phải
báo cho cơ quan kiểm dịch thực vật gần nhất;
2. Cơ quan kiểm dịch thực vật Việt Nam có quyền giám sát vật thể đó, kiểm tra phương tiện vận chuyển và
bên ngoài vật thể, yêu cầu chủ vật thể xuất trình giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật của nước xuất xứ.
Điều 29. - Trách nhiệm của cơ quan kiểm dịch thực vật và chủ vật thể trong thời gian vật thể quá cảnh Việt
Nam được quy định như sau:
1. Trong trường hợp đối tượng kiểm dịch thực vật nhập khẩu hoặc sinh vật gây hại nguy hiểm khác từ vật
thể thuộc diện kiểm dịch thực vật quá cảnh lây lan trên lãnh thổ Việt Nam thì chủ vật thể phải báo ngay cho
cơ quan kiểm dịch thực vật gần nhất, hoặc chính quyền địa phương để báo cho cơ quan kiểm dịch thực vật
xử lý và chủ vật thể phải trả phí tổn.
2. Trong trường hợp phát hiện vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật quá cảnh đóng gói không đúng quy
định về kiểm dịch thực vật, không có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật của nước xuất xứ thì cơ quan
kiểm dịch thực vật của Việt Nam có quyền kiểm tra vật thể và phương tiện hoặc đình chỉ vận chuyển cho
tới khi đóng gói đúng quy định. Cơ quan kiểm dịch thực vật Việt Nam kiểm tra kết quả xử lý vật thể đó để
xét và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật cho quá cảnh.
Mọi phí tổn kiểm dịch chủ vật thể phải trả cho cơ quan kiểm dịch thực vật Việt Nam.
Chương 6:
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 30. - Người nào vi phạm các quy định của Điều lệ này và các quy định khác của pháp luật về kiểm
dịch thực vật thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 31. - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan
hữu quan ban hành các quy định chi tiết, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thi hành Điều lệ này.
Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình tổ chức
thực hiện Điều lệ này.
Điều lệ này có hiệu lực từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.

ĐIỀU LỆ VỀ QUẢN LÝ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
(Ban hành kèm theo Nghị định số 92-CP ngày 27-11-1993 của Chính phủ)
Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. - Điều lệ này quy định việc quản lý thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam.
Thuốc bảo vệ thực vật bao gồm các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; các
chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật; các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các
loại sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt.
Điều 2. - Trong Điều lệ này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hoạt chất hay chất hữu hiệu của thuốc bảo vệ thực vật bao gồm các chất có trong thuốc thành phẩm có
tác dụng trừ diệt hoặc hạn chế sự sinh trưởng, phát triển của các sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; chất
có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, xua đuổi hoặc thu hút các loại sinh vật gây hại tài nguyên thực
vật đến để tiêu diệt;
2. Thuốc thành phẩm là thuốc được sản xuất theo quy trình công nghệ đã được chứng nhận, có tiêu chuẩn
chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký tại cơ quan chức năng có thẩm quyền và được phép đưa
vào lưu thông, sử dụng;
3. Thuốc kỹ thuật là thuốc có hàm lượng hoạt chất cao được dùng để gia công, chế biến thuốc thành phẩm;
4. Dạng thuốc là trạng thái vật lý với những yêu cầu về tính chất lý học đặc thù của thuốc thành phẩm được
thể hiện dưới dạng lỏng, dạng dung dịch, dạng nhũ dầu, dạng huyền phù, dạng hạt, dạng bột tan, dạng bột
thấm nước, dạng nhão v.v ;
5. Thời gian cách ly là khoảng thời gian tối thiểu kể từ ngày sử dụng thuốc bảo vệ thực vật lần cuối cùng
đến ngày thu hoạch sản phẩm trong quá trình trồng trọt hoặc thời gian tối thiểu từ khi sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật lần cuối cùng đến khi sử dụng sản phẩm trong quá trình bảo quản;
6. Dư lượng là lượng hoạt chất và các sản phẩm phân huỷ có độc tính còn lưu lại trong nông sản phẩm, môi
trường sau khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Điều 3. - Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động sản xuất, gia công, xuất khẩu, nhập
khẩu, lưu thông, lưu chứa, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo pháp luật
về quản lý thuốc bảo vệ thực vật của Việt Nam.
Điều 4. - Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn,
chủng loại, dạng, tính năng tác dụng và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, và ban hành quy chế cấp giấy
hoạt động dịch vụ thuốc bảo vệ thực vật.
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm phối hợp với Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường, Bộ Y tế và Bộ Thương mại trong quản lý Nhà nước về sản xuất gia công, xuất khẩu, nhập
khẩu, lưu thông, lưu chứa, nhãn thuốc, bao bì, đóng gói và quảng cáo thuốc bảo vệ thực vật.
Cơ quan quản lý Nhà nước về nông nghiệp các cấp giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong phạm vi địa phương.
Điều 5. - Nghiêm cấm việc nhập khẩu, sản xuất gia công, lưu thông và sử dụng các loại thuốc sau đây:
thuốc không có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; thuốc
giả; thuốc đã hết hạn sử dụng; thuốc không có dấu kiểm tra chất lượng của cơ sở sản xuất; thuốc không có
hoặc không đúng nhãn hiệu tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký.
Hàng năm vào tháng 1 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm công bố công khai danh mục
thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Trường
hợp có yêu cầu mới có thể xem xét và bổ sung danh mục giữa hai kỳ công bố hàng năm. Quyết định việc
hạn chế sử dụng hoặc cấm sử dụng các loại thuốc đã có trong danh mục sẽ bắt đầu có hiệu lực sau 3 tháng
kể từ ngày công bố.
Chương 2:
SẢN XUẤT, GIA CÔNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SỬ DỤNG TRONG NƯỚC
Điều 6. - Hoạt động sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật bao gồm:
1. Sản xuất các hoạt chất, thuốc kỹ thuật có nguồn gốc từ hoá học, sinh học;
2. Gia công các hoạt chất hoặc thuốc kỹ thuật thành thuốc thành phẩm ở các dạng khác nhau để sử dụng;
3. Các hoạt động đóng chai, đóng gói từ khối lượng, dung tích lớn thành khối lượng, dung tích nhỏ.
Điều 7. - Việc đăng ký sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật được thực hiện theo quy định như sau:
1. Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật (bao gồm cả việc đóng chai,
đóng gói) phải tuân theo các quy định hiện hành của Nhà nước về đăng ký thành lập và thành lập lại doanh
nghiệp và các loại hình cơ sở sản xuất. Cơ quan có thẩm quyền chỉ cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp
sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm về tiêu chuẩn, chủng loại,
dạng và tính năng tác dụng của thuốc.
Việc thẩm định và cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp và cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật chậm nhất
là 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, nếu không cấp giấy phép thì phải thông báo rõ lý do bằng
văn bản để tổ chức, cá nhân xin đăng ký biết.
2. Các loại thuốc bảo vệ thực vật phải đăng ký sản xuất, gia công bao gồm:
a) Thuốc đăng ký sản xuất, gia công lần đầu;
b) Thuốc đã được cấp đăng ký sản xuất, gia công nhưng có thay đổi về tên gọi, hàm lượng hoạt chất, công
thức, dạng thuốc, bao bì, nhãn hiệu;
c) Thuốc đã sản xuất ở nước ngoài, nhưng nay đăng ký sản xuất, gia công ở Việt Nam;
d) Thuốc được Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm cho phép sử dụng thử.
Điều 8. - Điều kiện để tổ chức, cá nhân xin đăng ký sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật:
1. Có quy trình công nghệ sản xuất, gia công đảm bảo chất lượng thuốc bảo vệ thực vật;
2. Có địa điểm và trang thiết bị đảm bảo chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn cho sức khoẻ người, sinh
vật và môi trương sinh thái;
3. Người quản lý, điều hành sản xuất, gia công phải có bằng hoặc chứng chỉ đại học về hoá học hoặc bảo vệ
thực vật;
4. Có đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất, gia công.
Điều 9. - Tổ chức, cá nhân chỉ được sản xuất, gia công các loại thuốc bảo vệ thực vật sau:
1. Các loại thuốc có trong danh mục thuốc được phép sử dụng, hạn chế sử dụng ở Việt Nam do Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm công bố;
2. Các loại thuốc bảo vệ thực vật sản xuất, gia công để xuất khẩu.
Điều 10. - Quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật:
1. Tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, gia công và bán thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của giấy
phép;
2. Giấy phép sản xuất, gia công thuốc chỉ cấp 1 lần và có giá trị kể từ ngày cấp. Sau 6 tháng kể từ ngày cấp
giấy phép nếu không triển khai thì bị thu hồi giấy phép;
3. Khi tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép và đã hoạt động nhưng không tiếp tục sản xuất, gia công thì
phải trả lại giấy phép;
4. Cơ sở sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật có trách nhiệm báo cáo tình hình sản xuất, gia công hàng
quý, hàng năm với cơ quan cấp giấy phép và cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo quy định hiện hành của
Nhà nước về công tác báo cáo thống kê;
5. Tổ chức, cá nhân xin sản xuất, gia công thuốc phải nộp một khoản lệ phí theo quy định của Nhà nước;
6. Nghiêm cấm hành vi sản xuất, gia công thuốc không có giấy phép hoặc không đúng quy định trong giấy
phép.
Chương 3:
XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU THUỐC VÀ NGUYÊN LIỆU LÀM THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Điều 11. - Nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc bảo vệ thực vật:
1. Tổ chức, cá nhân được nhập khẩu thuốc thành phẩm hoặc nguyên liệu để sản xuất, gia công thuốc thành
phẩm theo quy định của pháp luật.
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm xác định nhu cầu thuốc cần nhập hàng năm. Trên cơ sở đó Bộ
Thương mại cấp giấy phép nhập khẩu theo quy định của pháp luật và theo đề nghị của các cơ sở có giấy
phép hoạt động xuất nhập khẩu thuốc, nguyên liệu để sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật.
2. Đối với trường hợp thuốc thành phẩm hoặc nguyên liệu để sản xuất, gia công thuốc thành phẩm nhưng
chưa có trong danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam thì việc nhập khẩu số lượng ít để phục vụ
cho việc nghiên cứu, thí nghiệm, sản xuất thử phải được Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm cho
phép.
Điều 12. - Tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật phải có các điều kiện sau đây:
1. Có hợp đồng đặt hàng của nước ngoài;
2. Có giấy phép xuất khẩu của Bộ Thương mại;
3. Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài tự bỏ vốn hoặc liên doanh với tổ chức, cá nhân trong nước sản
xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam để xuất khẩu thì phải được cơ quan chức năng có thẩm
quyền quyết định.
Chương 4:
LƯU THÔNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG NƯỚC
Điều 13. - Lưu thông thuốc bảo vệ thực vật bao gồm quá trình từ khi thuốc thành phẩm được xuất khỏi cơ
sở sản xuất, gia công hoặc thuốc nhập vào cửa khẩu Việt Nam cho tới khi sử dụng thuốc.
Điều 14. - Việc vận chuyển thuốc phải bảo đảm an toàn theo yêu cầu của từng loại thuốc.
Điều 15. - Tổ chức, cá nhân lưu chứa thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải có kho tàng đáp ứng yêu cầu kỹ
thuật, bảo đảm chất lượng thuốc, bảo đảm an toàn đối với người, sinh vật và môi trường sinh thái.
Điều 16. - Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật phải có đủ điều kiện sau:
1. Có giấy phép kinh doanh do cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp. Cơ quan quản lý Nhà nước về nông
nghiệp cấp tỉnh cấp giấy phép hành nghề cho các cửa hàng bán thuốc bảo vệ thực vật thuộc lãnh thổ địa
phương quản lý;
2. Có văn bằng hoặc chứng chỉ về trình độ chuyên môn theo quy định;
3. Có giấy chứng nhận sức khoẻ của cơ quan y tế;
4. Có cửa hàng, kho chứa, trang bị cần thiết.
Điều 17. - Phạm vi kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật:
1. Chỉ được bán các loại thuốc có trong danh mục thuốc được phép sử dụng, hạn chế sử dụng ở Việt Nam;
2. Không được bán thuốc giả, thuốc quá hạn sử dụng, thuốc kém phẩm chất, thuốc không rõ nguồn gốc hợp
pháp, thuốc không đúng nhãn hiệu, tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, thuốc không có dấu kiểm tra chất
lượng của cơ sở sản xuất.
3- Không được bán thuốc bảo vệ thực vật cùng với lương thực, thực phẩm, hàng giải khát trong cùng một
cửa hàng.
Điều 18. - Việc lưu thông, quảng cáo thuốc bảo vệ thực vật phải theo đúng quy định sau đây:
1. Thuốc lưu thông phải có nhãn hàng hoá theo đúng quy định đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền;
2. Chỉ được quảng cáo, thông tin các loại thuốc có trong danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.
Nội dung quảng cáo, thông tin phải đúng tính năng, tác dụng của thuốc và theo quy định của Nhà nước.
Chương 5:
SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Điều 19. - Tổ chức, cá nhân là chủ tài nguyên thực vật có quyền sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có
trong danh mục thuốc được phép sử dụng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật theo hướng dẫn
của cán bộ chuyên môn hoặc theo chỉ dẫn ở nhãn thuốc: sử dụng đúng thuốc, đúng đối tượng, đúng liều
lượng, đúng lúc, đúng phương pháp, đúng phạm vi cho phép; bảo đảm an toàn cho người, động vật và môi
trường sinh thái.
Điều 20. - Việc thu hoạch, sử dụng thực vật và sản phẩm thực vật đã xử lý thuốc bảo vệ thực vật phải theo
đúng quy định về thời gian cách ly đối với mỗi loại thuốc.
Điều 21. - Việc tiêu huỷ thuốc và bao bì thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất và lưu thông và sử dụng phải
theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
Chương 6:
KIỂM ĐỊNH, KHẢO NGHIỆM THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Điều 22. - Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước việc kiểm
định thuốc bảo vệ thực vật khi đưa vào lưu thông, sử dụng và khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật mới trong
phạm vi cả nước.
Điều 23. - Cơ quan kiểm định, khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp
thực phẩm tiến hành kiểm định chất lượng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình lưu thông, sử dụng, kiểm
định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có trong nông sản, quản lý việc khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật
mới. Cơ quan này có quyền kiểm tra, lấy mẫu để kiểm định chất lượng và dư lượng thuốc theo định kỳ
hoặc đột xuất, hoặc theo yêu cầu của chủ hàng. Kết quả kiểm định và khảo nghiệm là cơ sở pháp lý cho
việc quản lý Nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật. Cơ quan kiểm định và khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật
phải chịu trách nhiệm về kết quả kiểm định và khảo nghiệm của mình trước pháp luật.
Điều 24. - Trong quá trình sản xuất, gia công, hành nghề dịch vụ thuốc bảo vệ thực vật, kiểm định, khảo
nghiệm thuốc, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài phải tuân theo quy định về việc kiểm tra, lấy mẫu
và phải trả lệ phí, các phí tổn phát sinh cần thiết theo quy định của Nhà nước.
Chương 7:
CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ DỰ TRỮ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Điều 25. - Việc lập, chế độ quản lý, sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật ở Trung ương
được quy định như sau:
1. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước xây
dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngân sách dành cho quỹ dự trữ Nhà nước về thuốc bảo vệ
thực vật.
Quỹ dự trữ Nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật hàng năm ở Trung ương bằng 10% tổng giá trị thuốc bảo vệ
thực vật sử dụng của bình quân 5 năm gần nhất.
2. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quản lý quỹ dự trữ Nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật.
3. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Tài chính quy định số lượng, chủng loại các loại
thuốc bảo vệ thực vật dự trữ hàng năm, chế độ bảo quản, luân chuyển, quyết toán và cấp phát bổ sung vốn
theo mức quy định tại Khoản 1 Điều này.
4. Trong trường hợp có thiên tai, sinh vật gây hại tài nguyên thực vật phát sinh thành dịch trên diện rộng,
gây hại nghiêm trọng, vượt quá khả năng phòng trừ của địa phương thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm trình Thủ
tướng Chính phủ cho phép sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật. Số lượng và phương
thức xuất quỹ dự trữ Nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật do Thủ tướng Chính phủ quyết định tuỳ từng
trường hợp cụ thể.
Điều 26. - Việc lập, chế độ quản lý, phương thức sử dụng quỹ dự trữ về thuốc bảo vệ thực vật ở các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định theo
hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Tài chính.
Chương 8:
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 27. - Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Điều lệ này và các quy định khác của pháp luật về
thuốc bảo vệ thực vật thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính, bồi thường thiệt
hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 28. - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan
hữu quan ban hành các quy định chi tiết, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thi hành Điều lệ này.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình tổ chức thực hiện
Điều lệ này.
Điều lệ này có hiệu lực từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.

QUY ĐỊNH VỀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC, THANH TRA CHUYÊN NGÀNH, GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP VÀ LỆ PHÍ, PHÍ TỔN VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT
(Ban hành kèm theo Nghị định số 92-CP ngày 27-11-1993 của Chính phủ)
HỆ THỐNG TỔ CHỨC CHUYÊN NGÀNH BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT
Điều 1. - Hệ thống tổ chức chuyên ngành Bảo vệ và kiểm dịch thực vật được tổ chức theo hai cấp, thống
nhất từ Trung ương đến địa phương, được quy định như sau:
1. Ở Trung ương, Cục bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm là cơ quan giúp Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm thống nhất quản lý Nhà nước về chuyên ngành bảo vệ và
kiểm dịch thực vật trong phạm vi cả nước, có tư cách pháp nhân; có con dấu riêng, được hưởng kinh phí từ
ngân sách Nhà nước, được mở tài khoản riêng, kể cả tài khoản ngoại tệ.
a) Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghệ thực
phẩm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật trong phạm vi
cả nước theo quy định tại điều 31 pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
b) Cục bảo vệ thực vật được Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam uỷ quyền tham gia những tổ chức quốc tế về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, hợp tác với các nước
và các tổ chức quốc tế về các hoạt động thuộc lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
c) Cục bảo vệ thực vật có các đơn vị bảo vệ sau:
- Các trung tâm bảo vệ thực vật vùng đóng tại Hải Hưng, Nghệ An, Quảng ngãi, Tiền Giang thực hiện chức
năng điều tra phát hiện, dự tính, dự báo sâu bệnh, khảo sát thực nghiệm, theo dõi sâu bệnh trên giống mới
nhập nội và lai tạo trong nước, khảo nghiệm các loại thuốc mới và giúp Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật
kiểm tra, đôn đốc về công tác bảo vệ thực vật trên địa bàn được phân công;
- Các Chi cục kiểm dịch thực vật vùng đóng tại Lào Cai, Lạng Sơn, Hải Phòng, thành phố Hà Nội, Nghệ
An, Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Định, thành phố Hồ chí Minh, Cần Thơ và một số Chi cục kiểm dịch thực
vật vùng khác khi có nhu cầu, thực hiện nhiệm vụ kiểm dịch thực vật các vật thể thuộc diện kiểm dịch thực
vật ở các cửa khẩu quốc tế, quốc gia, các đầu mối giao thông và giúp Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật kiểm
tra, đôn đốc công tác kiểm dịch thực vật nội địa trên địa bàn được phân công;
- Các Trung tâm kiểm định thuốc bảo vệ thực vật đóng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện
nhiệm vụ kiểm định chất lượng thuốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông, lâm sản và giúp cục
trưởng Cục Bảo vệ thực vật thực hiện việc khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật mới;
- Trung tâm phân tích giám định và thí nghiệm kiểm dịch thực vật đóng tại Hà Nội, thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu, giám định, phân loại các sinh vật gây hại tài nguyên thực vật thuộc diện kiểm dịch thực vật;
- Các Trung tâm kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu đóng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện
nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra các sinh vật gây hại thuộc diện kiểm dịch thực vật tiềm ẩn trong các giống cây
nhập nội.
Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Bảo vệ thực vật do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công
nghiệp thực phẩm quy định.
2. Ở địa phương: Chi cục bảo vệ thực vật thuộc Sở Nông nghiệp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là cấp tỉnh) quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, kiểm
dịch thực vật, thuốc bảo vệ thực vật và khử trùng tại địa phương đồng thời thực hiện các hoạt động chuyên
môn, nghiệp vụ theo phân cấp và hướng dẫn của Cục Bảo vệ thực vật. Chi Cục Bảo vệ thực vật cấp tỉnh có
các đơn vị trực thuộc là Trạm kiểm dịch thực vật và các trạm bảo vệ thực vật huyện hoặc liên huyện.
Trạm bảo vệ thực vật huyện hoặc liên huyện ngoài việc thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác bảo vệ thực
vật theo phân công của Chi Cục bảo vệ thực vật còn có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện về
công tác bảo vệ thực vật trong phạm vi quản lý của mình.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của chi cục bảo vệ thực vật cấp tỉnh do Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
Điều 2. - Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của mạng lưới bảo vệ thực vật ở xã,
phường, thị trấn và trong các doanh nghiệp Nông, Lâm nghiệp do uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo
quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT
Điều 3. - Thanh tra chuyên ngành về công tác bảo vệ và kiểm dịch thực vật (gọi chung là thanh tra bảo vệ
thực vật) là thanh tra việc chấp hành Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật, đề ra các biện pháp phòng
ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Hệ thống tổ chức thanh tra chuyên ngành bảo vệ thực vật được thành lập ở trung ương và địa phương.
Điều 4. - Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của hệ thống thanh tra chuyên ngành bảo vệ
thực vật ở Trung ương và địa phương do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quy định.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm bổ nhiệm Chánh thanh tra chuyên ngành về bảo vệ
thực phẩm ở Trung ương theo đề nghị của Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật.
Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm Chánh Thanh tra chuyên ngành về bảo vệ thực vật cấp tỉnh
theo đề nghị của giám đốc Sở Nông nghiệp.
Điều 5. - Viên chức thanh tra chuyên ngành về bảo vệ thực vật, khi làm nhiệm vụ thanh tra phải mang sắc
phục, phù hiệu, cấp hiệu và thẻ thanh tra theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp
thực phẩm.
Điều 6. - Cục trưởng, Chi cục trưởng bảo vệ thực vật chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện nhiệm vụ thanh
tra bảo vệ thực vật theo nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
quy định.
Điều 7. - Việc thanh tra bảo vệ thực vật do đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên bảo vệ thực vật thực hiện.
Nội dung thanh tra bảo vệ thực vật bao gồm:
1. Thanh tra việc thực hiện công tác phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật của các tổ chức, cá nhân
có hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ thực vật;
2. Thanh tra việc thực hiện công tác kiểm dịch thực vật và khử trùng;
3. Thanh tra việc tranh chấp các quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật;
4. Thanh tra hoạt động của các tổ chức, cá nhân có hoạt động về bảo vệ thực vật; kiểm dịch thực vật, khử
trùng và thuốc bảo vệ thực vật;
5. Thanh tra các hoạt động khác liên quan đến việc thi hành pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
6. Xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quy định nội dung cụ thể của công tác thanh tra bảo
vệ thực vật, kiểm dịch thực vật, khử trùng và thuốc bảo vệ thực vật đối với các đối tượng khác.
Điều 8. - Chế độ thanh tra bảo vệ thực vật bao gồm:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét