Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp phát triển gia công xuất khẩu hàng may mặc sang Thị trường Mỹ ở Công ty Cổ phần May 2 Hưng Yên

Lời mở đầu
Dệt may là một trong những ngành được coi là trọng điểm, có tiềm lực phát
triển cao trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Với những lợi thế
của đất nước như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút
nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngành dệt may
đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như phải cạnh tranh ngang bằng với
các cường quốc xuất khẩu lớn như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan, Hàn
Quốc Đặc biệt, từ 1/1/2006 thuế xuất nhập khẩu hàng dệt may từ các nước
Asean vào Việt Nam sẽ giảm từ 40-50%, hiện nay xuống tối đa còn 5% nên hàng
dệt may Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập từ các nước trong
khu vực. Ngành dệt may Nam chủ yếu là gia công xuất khẩu với những ưu thế về
nhân lực thì hiện nay không còn là ưu thế nữa bởi hiện nay thị trường các nước
Châu phi, Malaixia… cũng có nguồn lao động lớn mà giá thuê lao động rẻ hơn ở
Việt Nam đồng thời trình độ lao động có thể bằng và cao hơn ở nước ta. Mặt
khác, hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam đang còn gặp nhiểu rào
cản thương mại ở các nước nhập khẩu đặc biệt là ở thị trường Mỹ. Hiện nay, Hoa
Kỳ đang áp đặt biện pháp tự vệ với hàng may mặc nhập khẩu Việt Nam gây trở
ngại cho hàng mặc của các doanh nghiệp nước ta đặc biệt là khi mà doanh
nghiệp chưa hiểu biết rõ về luật pháp của Mỹ.
Trước tình hình này, nhận thức được tầm quan trọng của gia công Việt Nam
với sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam cùng với sự giúp đỡ của cô giáo
hướng dẫn và công ty cổ phần may 2 Hưng Yên, tôi chọn đề tài “Giải pháp phát
5
triển gia công xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ ở công ty cổ phần
may 2 Hưng Yên” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề được chia làm ba chương:
CHƯƠNG 1. Khái quát về gia công xuất khẩu
CHƯƠNG 2.Thực trạng quy trình gia công xuất khẩu hàng may mặc sang thị
trường Mỹ của công ty cổ phần may 2 Hưng Yên
CHƯƠNG 3. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động gia công xuất
khẩu hàng may mặc của công ty cổ phần may 2 Hưng Yên sang thị trường Mỹ.
6
CHƯƠNG 1. Khái quát về gia công xuất khẩu
“Gia công hàng xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu. Trong đó,
người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu
hay bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công
trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.
Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia
công để nhận tiền công”(kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu, NXB thống kê,
11/2002,T99)
Gia công xuất khẩu hàng may mặc thực ra là hoạt động gia công trong đó
hàng hóa , sản phẩm được gia công hoàn thành là hàng may mặc, cụ thể hơn là
quần áo may gia công xuất khẩu, bao gồm có 2 bên chủ yếu là bên gia công và
bên nhận gia công. Bên nhận gia công có thể tự gia công hoặc ký hợp đồng
chuyển giao gia công với một doanh nghiệp may khác để trực tiếp gia công sản
phẩm.
1.1 Quy trình gia công xuất khẩu hàng may mặc
1.1.1 Nghiên cứu và tìm đối tác kinh doanh
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của một quốc gia luôn chịu ảnh hưởng
của các yếu tố môi trường khách quan và chủ quan. Những yếu tố này bao gồm
các yếu tố chính trị, văn hóa – xã hội, sự biến động của chính sách kinh tế, các
quan hệ quốc tế, …. Nghiên cứu giúp cho giảm bớt rủi ro, tránh những sai lầm,
làm cho khả năng của doanh nghiệp phù hợp với cơ hội quốc tế;cần thiết cho
quyết định thị trường thâm nhập của doanh nghiệp hay đối tác kinh doanh nào có
lợi và có biện pháp nào tốt nhất cho việc tiếp cận đối tác kinh doanh đó để dễ
dàng đàm phán đi đến ký hợp đồng xuất khẩu.
7
Đối tác kinh doanh của doanh nghiệp có thể là nhà đầu tư, đối tác sản xuất
hay là nhà tài trợ cho doanh nghiệp. Hoạt động này bao gồm có hai hình thức là
thu thập và xử lý thông tin nghiên cứu, trong quá trình tìm hiểu sẽ có rất nhiều
thông tin gây “nhiễu” thông tin mà doanh nghiệp cần tìm hiểu do đó cần phải xử
lý thông tin sao cho hợp lý, chọn lọc. Sau khi đã tìm thấy thông tin cần thiết thì
tiếp đó là đánh giá thông tin đó xem thông tin đó tốt hay xấu với doanh nghiệp,
nếu tốt thì doanh nghiệp có thể tiến hành bước tiếp theo còn xấu thì doanh
nghiệp tiến hành hoạt động khắc phục đó hoặc bỏ qua nó không cần tập trung
vào tìm hiểu nhiều tránh mất thời gian và kinh phí của doanh nghiệp.
1.1.2 Đàm phán và ký kết hợp đồng gia công xuất khẩu
Sau khi doanh nghiệp đã nghiên cứu thị trường mục tiêu của doanh nghiệp và
đã xác định được đối tác kinh doanh thì công việc tiếp theo là giao dịch, đàm
phán và ký hợp đồng thương mại.
Giao dịch kinh doanh nhằm mục đích trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp và
đối tác đồng thời nhằm mục đích cao hơn là đi tới đàm phán ký hợp đồng thương
mại
“Đàm phán kinh doanh là sự bàn bạc, thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên để
cùng nhau nhất trí hay thỏa hiệp giải quyết những vấn đề về lợi ích có liên quan
đến các bên kinh doanh”( Giáo trình giao dịch và đàm phán kinh doanh, NXB
thống kê, T181). Sau khi tạo được mối quan hệ thì doanh nghiệp tiến hành đàm
phán giải quyết các vấn đề liên quan. Bước cuối cùng là đi đến ký hợp đồng.
Trong quá trình ký hợp đồng doanh nghiệp cần chú ý tới các vấn đề sau:
Thứ nhất là phương thức ký: doanh nghiệp có thể ký trực tiếp với đối tác và
thực hiện toàn bộ công việc hay một phần công việc rồi chuyển giao cho bên thứ
3 hay công ty chỉ đại diện ký và thu phí hoa hồng từ nhà máy sản xuất trực tiếp
8
Thứ hai là nội dung của hợp đồng gồm có mục đích ký hợp đồng và các điều
khoản đi kèm về thành phẩm, nguyên nhiên vật liệu, giá gia công, thanh toán,
giao hàng, kiểm tra, vận chuyển, bảo hiểm,khiếu nại và thanh khoản hợp đồng
(nếu có)…
1.1.3 Thực hiện hợp đồng gia công xuất khẩu
Sau khi đã ký xong hợp đồng thì doanh nghiệp bắt đầu đi vào thực hiện hợp
đồng từ khâu nhận nguyên vật liệu, mẫu hàng từ đối tác để tiến hành gia công
sản xuất.
Công việc đầu tiên là làm thủ tục hải quan nhận nguyên vật liệu: khi doanh
nghiệp đã tiếp nhận hợp đồng gia công thì làm thủ tục khai báo hải quan( có thể
khai báo theo phương pháp truyền thống nghĩa là đến trực tiếp trụ sở hải quan để
đăng ký hoặc khai báo hải quan điện tử), tiếp đó là xuất trình nguyên vật liệu để
hải quan kiểm tra cho thông quan.
Tiếp đó, doanh nghiệp tiến hành nhận và kiểm tra nguyên vật liệu từ tàu biển
hoặc theo đường hàng không.
Sau đó, vận chuyển về kho chứa của doanh nghiệp để tiến hành gia công sản
phẩm và giao hàng. Tùy vào điều kiện trong hợp đồng doanh nghiệp phải thuê
phương tiện vận tải và mua bảo hiểm hay không mà tiến hành thuê phương tiện
vận tải và mua bảo hiểm cho hàng hóa.
Khi đến ngày giao hàng, doanh nghiệp và đối tác sẽ tiến hành kiểm tra sản
phẩm và làm thủ tục xuất sản phẩm, đóng sản phẩm vào container và giao tới địa
điểm đích.
Doanh nghiệp có thể làm thủ tục thanh toán trước, trong hoặc sau quá trình
giao hàng. Để đảm bảo an toàn thì doanh nghiệp thường yêu cầu thanh toán hợp
đồng trước khi giao hàng, tuy nhiên với đối tác quen thuộc thì thường thanh toán
sau khi giao hàng.
9
Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Bước cuối cùng là thanh khoản hợp đồng gia công
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc
1.2.1 Tỷ giá hối đoái
Trong xuất nhập khẩu, vấn đề thanh toán bằng ngoại tệ hay nội tệ luôn được
các doanh nghiệp quan tâm, thông thường các doanh nghiệp sẽ chọn đồng ngoại
tệ nào ổn định, ít bị biến động để đảm bảo cho giá trị của hợp đồng và ít bị thiệt
hại nhất khi mà thị trường tiền tệ thay đổi.
Do yêu cầu thanh toán của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nên thường xuyên
phải trao đổi ngoại tệ sao cho việc thanh toán là thuận tiện và an toàn nhất với cả
hai bên. Sự chuyển đổi giữa hai đồng tiền với nhau phải dựa trên một tỷ giá gọi
là tỷ giá hối đoái. “ tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền chính là giá cả của đồng
tiền này tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia”( Thanh toán quốc tế, NXB thống
kê, năm 2006, T49). Tỷ giá này sẽ bị ảnh hưởng của cung và cầu tiền tệ trên thị
trường do vậy doanh nghiệp cần phải chọn tỷ giá sao cho đảm bảo an toàn, tránh
rủi ro gây thiệt hại cho hợp đồng.
1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp
Khi nghiên cứu thì điều đầu tiên là cần tìm hiểu để nhận biết xem doanh nghiệp
đang có những lợi thế gì để phát huy, và những bất lợi gì để có thể khắc phục
chúng.
Tùy vào điều kiện về vốn kinh doanh, trình độ lao động, giá nhân công, công
nghệ sản xuất,…mà doanh nghiệp chọn cho mình thị trường nghiên cứu, quy mô
sản xuất phù hợp. Với doanh nghiệp có vốn lớn, trình độ tay nghề cao, công
nghệ sản xuất tiên tiên tiến…thì sẽ lựa chọn phân đoạn thị trường có thu nhập
cao; còn những doanh nghiệp ít vốn thì lựa chọn đoạn thị trường ngắn hơn. Ở
Việt Nam hiện nay, các công ty vừa và nhỏ vẫn chiếm đại đa số do vốn ít, trình
10
độ chuyên môn còn yếu kém; còn các tập đoàn thì quy mô vốn cũng chỉ tương
đương với doanh nghiệp vừa của nước ngoài.
Giá thuê nhân công của nước ta vẫn còn thấp do vậy đây là một lợi thế cho các
doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam, tuy nhiên lợi thế này cũng đang bị mất đi
bởi thị trường lao động của các nước kém phát triển.
1.2.3 Đặc điểm thị trường Mỹ đối với hàng may mặc
1.2.3.1 Kênh phân phối đối với hàng may mặc của Mỹ
Hiện nay thị trường thị trường bán lẻ của Mỹ phát triển mạnh mẽ. Tại Hoa
Kỳ, các công ty lớn thường có hệ thống phân phối riêng và tự làm tất cả các khâu
từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối và nhập khẩu. Các tập đoàn và công
ty lớn có tác động mạnh đến chính sách của Chính phủ. Các công ty vừa và nhỏ
vận động xung quanh hệ thống thị trường và được Chính
phủ hỗ trợ.
Các công ty vừa và nhỏ thường nhập khẩu hàng hoá và bán theo một số cách
thức sau:
Thứ nhất là bán xỉ cho các cửa hàng bán lẻ, cách bán hàng này rất có hiệu quả
khi hàng hoá có nhu cầu mạnh và có lợi nhuận cao.
Thứ hai là bán hàng cho nhà phân phối. Các nhà phân phối thường có hệ thống
phân phối rộng khắp một khu vực hoặc nằm trong nhóm ngành công nghiệp nào
đó. Họ có khả năng bán hàng nhanh chóng trong thời điểm ngắn. Nhưng qua
cách này người bán phải chia sẻ bớt lợi nhuận của mình cho các nhà phân phối.
Thứ ba là bán trực tiếp cho các nhà công nghiệp. Cách này có thể làm được khi
các nhà máy trực tiếp mua hàng của một số thương nhân nhỏ trong nước khi họ
không có điều kiện để mua trực tiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc mua
qua các nhà nhập khẩu.
11
Thứ tư là bán xỉ qua đường bưu điện. Với những sản phẩm nhỏ và giá trị không
lớn có thể bán theo cách này qua một số trung gian bán buôn. Cách này có lợi là
bán hàng theo diện rất rộng và không phải qua khâu trung gian phân phối hay
bán buôn.
Thứ năm là bán lẻ qua đường bưu điện. Một số nhà nhập khẩu không cần qua
trung gian mà trực tiếp gửi bưu kiện đến cho người mua. Để làm được cách này
phải có hệ thống nghiên cứu thị trường chuẩn xác và có hiệu quả cao.
Thứ sáu là có một số nhà nhập khẩu bán hàng theo catalogue qua các nhà buôn
theo kiểu này hay trực tiếp thành lập công ty để bán hàng theo catalog. Phương
thức này đòi hỏi phải biết được địa chỉ của khách hàng có nhu cầu thường xuyên.
Thứ bảy là bán lẻ, nhà nhập khẩu tự tổ chức việc nhập khẩu và bán lẻ hàng hoá
theo khả năng về thị trường của mình và tự gánh chịu mọi rủi ro.
Thứ tám là bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền
hình là hình thức mới và phải có hàng tức thời
Ở Hoa kỳ có những người chuyên làm trung gian đi đặt hàng nhập khẩu cho các
tập đoàn hay các công ty lớn. Họ nghiên cứu và hiểu rõ thị trường cùng các thủ
tục về nhập khẩu và có thể mang hàng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhanh
chóng. Do vậy các công ty xuất khẩu lúc đầu đỡ mất công cũng như chi phí cho
nghiên cứu thị trường.
Nhưng cách này có một số nhược điểm:
- Phải nắm được cơ cấu thị trường tốt thì mới có vị thế trong đàm phán.
- Có khi giá bán lẻ và giá nhập khẩu chênh nhau hàng nhiều lần có khi lại cũng
rất sát nhau tuỳ thuộc vào cơ cấu giá thành, thuế nhập khẩu đối với từng mặt
hàng.
12
- Khách hàng hay đòi làm đại lý độc quyền vì sợ người xuất khẩu cung cấp cho
nhiều khách khác. Trước khi quyết định cần đi khảo sát thị trường để nắm vững
cơ cấu giá cả và đàm phán để chia sẻ lợi ích trên thị trường.
Một trong những khó khăn nhất của người xuất khẩu là tìm ra người mua hàng vì
tên công ty và việc kinh doanh của công ty là thông tin bí mật không được tiết lộ
ở Hoa kỳ. Tuy nhiên có nhiều cách để tìm ra nhưng đều phải mua thông tin. Thí
dụ: Hiệp hội thường bán danh sách hội viên với giá cao cho những người ngoài
hội, hoặc đặt mua thông tin của các công ty tư nhân hay một số cơ quan của
Chính phủ có cơ sở dữ liệu do họ tự xây dựng.
1.2.3.2 Chính sách đối với hàng may mặc của Hoa Kỳ
Tất cả các luật thương mại ở Hoa Kỳ đều do Quốc hội ban hành và giám sát,
chính sách thương mại là nhân tố cơ bản của chính sách kinh tế và ngoại giao.
Quốc hội có thể điều tiết và kiểm soát việc thực hiện các luật và chương trình
thương mại thông qua quyền phân bổ ngân sách của mình cho các cơ quan chính
quyền về thương mại. Do các quyết định về chính sách thương mại có ảnh hưởng
sâu rộng đến cả lợi ích trong và nước ngoài nên có nhiều cơ quan chính phủ Hoa
Kỳ có vai trò trong hoạch định các chính sách thương mại. Nhiều cơ chế phối
hợp liên ngành đã được sử dụng để phối hợp các quan điểm và lợi ích khác nhau
nhằm đảm bảo cho chính sách thương mại quốc gia được nhất quán và cân bằng.
Uỷ ban chính sách thương mại (TPC) chịu trách nhiệm chính trong phối hợp
chính sách thương mại. Năm 1974, Quốc hội Hoa Kỳ đã thành lập hệ thống uỷ
ban cố vấn khu vực tư nhân để đảm bảo rằng các chính sách thương mại và các
mục tiêu đàm phán thương mại của Hoa Kỳ phản ánh thoả đáng các lợi ích
thương mại và kinh tế của Hoa Kỳ.
Các chính sách xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ ngoài thuế quan, hạn ngạch nhập
khẩu và visa còn có các chính sách về xuất xứ hàng hóa, nhãn hiệu thương mại,
13
…các chính sách trong nước ảnh hưởng tới doanh nghiệp như chế độ đối xử
quốc gia, biện pháp tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch và vệ sinh môi trường, mua
sắm chính phủ và các vấn đề khác ảnh hưởng tới thương mại;
1.2.3.3 Rào cản thương mại đối với hàng may mặc của công ty
Hoa Kỳ là một nước cộng hoà liên bang thực hiện chế độ chính trị tam quyền
phân lập. Hiến pháp Hoa Kỳ qui định quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền
hành pháp thuộc về Tổng thống và quyền tư pháp thuộc về Toà án tối cao. Mỗi
bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến
pháp của Liên bang. Hiện nay, công ty đang phải đối đầu với các rào cản thuế
quan và phi thuế quan của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ hiện tồn tại các luật sau mà công ty
cần quan tâm:
Thứ nhất là luật bảo vệ người tiêu dùng, các công ty kinh doanh tại Hoa Kỳ
cần phải biết rằng Hoa Kỳ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những
luật này được áp dụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán
trên thị trường này.Các doanh nghiệp cũng cần biết rằng sản phẩm của mình có
thể là đối tượng của rất nhiều luật và quy định của bang mà trong một số trường
hợp có thể còn khắt khe hơn các quy định tương ứng của luật liên bang. Trước
khi đưa một sản phẩm nào đó vào một bang cụ thể, việc xem xét cẩn thận các
luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng của bang đó là một việc làm rất cần
thiết.
Thứ hai là luật thuế chống bán phá giá, đây là bộ luật quan trọng bởi hàng may
mặc của Việt Nam đang trong cơ chế giám sat của Hoa Kỳ. Luật thuế chống phá
giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế chống trợ giá. Thuế chống phá giá được
áp dụng đối với hàng nhập khẩu khi nó được xác định là hàng nước ngoài được
bán “phá giá” vào Hoa Kỳ, hoặc sẽ bán phá giá ở Hoa Kỳ với giá “thấp hơn giá
trị thông thường”. Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa là giá xuất khẩu vào
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét