Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Bảo hiểm hoả hoạn và rủi ro đặc biệt tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


5
CHƯƠNG I
 Tổn thất toàn bộ:
 Tổn thất toàn bộ thực tế: Tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoàn toàn
hoặc hư hỏng nghiêm trọng đến mức không thể phục hồi lại trạng thái
ban đầu.
 Tổn thất toàn bộ ước tính: Tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hư
hỏng đến mức nếu sửa chữa, phụ
c hồi thì chi phí sửa chữa, phục hồi
bằng hoặc lớn hơn số tiền bảo hiểm.
 Mức miễn bồi thường: là số tiền tổn thất mà người được bảo hiểm tự
gánh chịu cho mỗi vụ hoặc mọi tổn thất. Nếu thiệt hại do tổn thất gây ra
nhỏ hơn mức miễn bồi thường này thì công ty bảo hiểm sẽ không ph
ải
chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm.
Mức miễn thường tối thiểu nói chung không dưới 1000 USD hoặc tương
đương bằng các loại tiền khác đối với mỗi vụ tổn thất. Trong giấy chứng
nhận bảo hiểm, mức miễn thường được ghi bằng số tiền tuyệt đối tính toán
trên cơ sở tỷ lệ miễn thường, mà tỷ lệ
này được xác định trên cơ sở số tiền
bảo hiểm như sau:
Bảng tỷ lệ miễn thường trên số tiền bảo hiểm
SỐ TIỀN BẢO HIỂM TỶ LỆ MIỄN THƯỜNG
500.000 USD
2,00%
2.500.000 USD
1,00%
10.000.000 USD
0,75%
20.000.000 USD
0,50%
Trên 20.000.000 USD
0,30%
Nguồn: Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


6
CHƯƠNG I
1.2. Đặc điểm của bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
- Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là một loại hình bảo hiểm tài sản
áp dụng đối với các nhà máy, xí nghiệp, khách sạn, dịch vụ… thuộc mọi
thành phần kinh tế trong xã hội.
- Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là một loại hình bảo hiểm b
ắt buộc
đối với các cơ quan, nhà máy…
- Giá trị được bảo hiểm hoả hoạn rất lớn, khi xảy ra rủi ro thì tổn thất không
chỉ là một đơn vị nhỏ mà có khi là đối với toàn bộ tài sản.
- Trong hoạt động của nghiệp vụ có mang tính kỹ thuật rất phức tạp. Đặc
điểm này sẽ được thể hiện rõ hơn qua cách xác định, phân chia các đơn vị
rủi ro, cách tính phí, công tác giám định, đề phòng hạn chế tổn thất…
- Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt chính là sự bảo trợ cho những tổn
thất trực tiếp do hoả hoạn gây nên.
2. ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO
ĐẶC BIỆT
Đối tượng bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt nói chung là các đối
tượng mà vì sự an toàn hay bảo toàn của đối tượng đó đã dẫn đến việc ký kết hợp
đồng bảo hiểm giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm - đối tượng bảo
hiểm là những mục tiêu mà các rủi ro có thể làm cho đối tượng đó bị tai nạn, tổn
thất.
Trong bả
o hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt, đối tượng bảo hiểm là các
tài sản như:
- Bất động sản: Bất động sản ở đây là nhà cửa, công trình xây dựng, nhà
máy, xí nghiệp, kho tàng,… thuộc loại hình sản xuất kinh doanh hoặc các
công trình dân dụng.
Bảo hiểm hoả hoạn về bất động sản gồm: bảo hiểm nhà cửa và bảo hiểm
rừng
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


7
CHƯƠNG I
Các công trình ngầm dưới đất có thể bị loại trừ bảo hiểm. Do vậy, muốn
các công trình đó được bảo hiểm thì cần phải có một điều khoản đặc biệt và
mức phí bảo hiểm cũng sẽ cao hơn mức thông thường.
- Các động sản: Động sản cá nhân là những tài sản liên quan đến người được
bảo hiểm như đồ đạc, đồ mỹ ngh
ệ, thú vật nuôi, các phương tiện giao
thông…
Bảo hiểm hoả hoạn về động sản gồm: bảo hiểm hoả hoạn về tài sản gia
đình, hàng hoá, vật tư…
Phương tiện giao thông đường bộ có động cơ, tín phiếu, cổ phiếu và tiền
mặt bị loại trừ khỏi động sản cá nhân
- Tài sản đa dạng cần thiết cho sự hoạt động của m
ột doanh nghiệp công
nghiệp, nông nghiệp hoặc thương mại như đồ vật, phương tiện, máy móc,
thiết bị…
Việc đảm bảo có hiệu lực bên trong công trình được bảo hiểm cũng như
trong sân và khu nhà phụ.
- Hàng hoá, có thể là nguyên liệu, nhiên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm
Việc đảm bảo có hiệu lực bên trong công trình được bảo hiểm cũng như
trong sân và khu nhà phụ.
Với đối tượng bảo hiể
m rộng như thế thì khi có tổn thất xảy ra, không phải
tất cả mọi tổn thất thiệt hại đều được bảo hiểm mà chỉ có những tổn thất, thiệt
hại xảy ra do những rủi ro được bảo hiểm mới được người bảo hiểm bồi
thường. Người bảo hiểm phải xác định rõ điều đó trong phạm vi bảo hiểm.
3. QUY TẮC BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là quy tắc được ban hành
theo Quyết định số 142 - TCQĐ do Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành vào ngày
2/5/1991 theo đề nghị của Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Việt Nam, căn cứ
vào Quyết định số 155 - HĐBT ngày 15/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về
việc quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ tài chính và
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


8
CHƯƠNG I
Quyết định số 179 - CP ngày 17/12/1964 của Hội đồng Chính phủ về việc
thành lập Công ty Bảo hiểm Việt Nam. Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi
ro đặc biệt được ban hành thay cho Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro
đặc biệt ban hành theo Quyết định số 06/TCQĐ ngày 17/1/1989 của Bộ Tài
chính.
Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt bao gồm 11 chương và
phần phụ
lục. Mười một chương lần lượt là các chương:
Chương I. Những Quy định chung
Chương II. Phạm vi bảo hiểm
Chương III. Những loại trừ chung áp dụng chung cho tất cả các rủi ro
Chương IV. Phí bảo hiểm
Chương V. Thời hạn bảo hiểm và hiệu lực bảo hiểm
Chương VI. Thủ tục bảo hiểm
Chương VII. Số tiền bảo hiểm
Chương VIII. Huỷ b
ỏ bảo hiểm
Chương IX. Trách nhiệm của người được bảo hiểm
Chương X. Giám định và bồi thường thiệt hại
Chương XI.Xử lý tranh chấp
Trong phần phụ lục có phần:
 Các rủi ro có thể lựa chọn để bảo hiểm
 Biểu phí bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
 Quy tắc bảo hiểm trộm cướp

Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ 3
 Đơn bảo hiểm bồi thường cho người lao động, bảng tỷ lệ thương tật
và mức bồi thường
 Đơn bảo hiểm rủi ro cho chủ thầu…
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


9
CHƯƠNG I
Tuy nhiên, để phục vụ nội dung nghiên cứu, khoá luận chỉ đề cập đến một số
điểm chính trong Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt như: Phạm vi
bảo hiểm, phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, giám định và bồi thường tổn thất.
3.1. Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là việc xác định đâu là những rủi ro
được bảo hiểm, đâu
là những rủi ro bị loại trừ. Phạm vi bảo hiểm có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng vì nhờ đó ta có thể tránh được các tranh chấp phát sinh không cần thiết
khi tổn thất xảy ra, giúp xác định phí bảo hiểm một cách hợp lý và xem xét giải
quyết bồi thường khi tổn thất xảy ra.
3.1.1. Các rủi ro được bảo hiểm
Theo Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt, rủi ro được bảo
hiểm gồm có: (thường được liệt kê theo chữ cái)
A. Hoả hoạn (do nổ hay do nguyên nhân khác)
 Cháy: Mọi thiệt hại gây ra do cháy đều được bồi thường, trừ những thiệt hại
do:
- Nổ do ảnh hưởng của cháy
- Động đất hoặc lửa ngầm dưới đất
- B
ản thân tài sản bị phá huỷ hay hư hỏng do tự lên men, toả nhiệt hay do
quá trình xử lý bằng nhiệt.
Lấy ví dụ: Vào một ngày rất nóng, trong một nhà kho chứa đầy các thùng
nho, một thùng nho đã bị lên men và toả nhiệt làm hỏng các thùng nho khác
bên cạnh. Điểm loại trừ trên rõ ràng được áp dụng cho thùng nho đầu tiên bởi
vì nó tự động lên men, tuy nhiên sẽ không được áp dụng cho các thùng nho bên
cạnh.
 Sét: Là tác động trực tiếp của tia chớp vào tài sản
được bảo hiểm. Chỉ có
thiệt hại trực tiếp do sét gây ra mới được bảo hiểm bồi thường.
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


10
CHƯƠNG I
Ví dụ: sét đánh vào một trạm biến thế, làm cho dòng điện tăng, giảm đột
ngột dẫn đến hỏng các thiết bị điện. Trong trường hợp này, biến thế bị tổn thất
do tác động trực tiếp của sét gây ra nên được bồi thường. Còn các thiết bị điện
bị hỏng không phải do tác động trực tiếp của sét nên không được bồi thường.
 N
ổ: Là hiện tượng cháy cực nhanh tạo ra và giải phóng một áp lực lớn kèm
theo một tiếng động mạnh phát sinh từ sự giãn nở nhanh, mạnh của các chất
lỏng, chất rắn hay chất khí. Trong rủi ro này, chỉ bảo hiểm các trường hợp:
- Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt
- Hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sáng hay sưởi ấm trong nhà
- Những thiệt h
ại do phương tiện hoặc biện pháp cứu chữa gây ra
- Những thiệt hại về mặt tài sản do mất cắp trong khi hoả hoạn mà người
bảo hiểm không chứng minh được là mất cắp.
B. Nổ: Người bảo hiểm sẽ bồi thường mọi thiệt hại từ nổ trừ việc nổ nồi hơi
phục vụ sinh hoạt.
C. Máy bay hay phương ti
ện hàng không hoặc các thiết bị trên các phương tiện
đó rơi vào làm cho tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại.
D. Bãi công, đình công, bế xưởng, bạo động, nổi loạn hoặc hành động của
những người tham gia các cuộc gây rối lao động hay những người có ác ý
không mang tính chất chính trị. (Dù có hoả hoạn hay không có hoả hoạn
cũng đều được bồi thường). Loại trừ tài sản bị:
-
Mất mát hay hư hại do tịch thu, phá huỷ, hoặc trưng dụng theo lệnh của
Chính phủ hoặc nhà cầm quyền.
- Mất mát hay hư hại do ngừng công việc.
E. Động đất: mọi thiệt hại do động đất gây ra đều được bồi thường, cho dù
động đất có gây hoả hoạn hay không.
F. Lửa ngầm dưới đất: mọi thiệt hại do lửa ngầm dưới đất gây ra (dù có ho

hoạn hay không) đều được bảo hiểm bồi thường.
G. Cháy mà nguyên nhân duy nhất là do tài sản tự lên men, toả nhiệt hay bốc cháy.
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


11
CHƯƠNG I
H. Giông tố, bão lụt: mọi thiệt hại tài sản được bảo hiểm do giông tố, bão lụt
gây ra đều được bồi thường dù có hoả hoạn hay không, nhưng loại trừ:
- Tài sản bị phá huỷ hay hư hại do sương muối, sụt lở đất.
- Hàng rào, cổng ngõ và các động sản ngoài trời bị phá huỷ hay hư hại.
I. Vỡ hay tràn nước từ các bể chứa hay ống d
ẫn nhưng loại trừ việc tràn nước
ttừ những hệ thống ống dẫn tự động phục vụ cho công tác chữa cháy.
J. Xe cộ hay súc vật sống không thuộc quyền sở hữu hay quyền kiểm soát của
người được bảo hiểm hay của người làm thuê cho họ đâm vào tài sản được
bảo hiểm làm tài sản đó bị thiệt hại đều được bồi thườ
ng.
K. Nước rò rỉ từ các đường ống dẫn đặt sẵn phục vụ công tác cứu hoả.
Khi mua bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt thì rủi ro A là rủi ro bắt
buộc, còn các rủi ro từ B đến K là các rủi ro phụ kèm theo rủi ro A. Tuỳ từng đối
tượng bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm lựa chọn thêm một hoặc một số rủi
ro phụ nằ
m trong phạm vi từ B đến K để tham gia kèm với rủi ro hoả hoạn.
3.1.2. Những loại trừ chung áp dụng cho tất cả các rủi ro
Những điểm loại trừ nêu dưới đây được áp dụng chung cho mọi rủi ro
trong nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt:
a. Những tài sản bị thiệt hại do:
- Nổi loạn, bạo động dân sự, trừ khi những rủi ro này được xác nhận
trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm.
- Chiến tranh, xâm lược, hành độ
ng thù địch của nước ngoài, chiến sự (dù
có tuyên chiến hay không tuyên chiến), nổi loạn, nội chiến, khởi nghĩa,
cách mạng, binh biến, bạo động, đảo chính,
- Khủng bố (nghĩa là sử dụng bạo lực nhằm các mục đích chính trị, bao
gồm cả việc sử dụng bạo lực nhằm gây hoang mang trong xã hội hay
một bộ phận xã hội).
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


12
CHƯƠNG I
b. Bất kỳ tổn thất nào (dù là tổn thất tài sản trực tiếp hay chi phí có liên quan
hay tổn thất có tính chất hậu quả) trực tiếp hay gián tiếp mà nguyên nhân gây ra
có liên quan đến:
- Phóng xạ ion hoá hay nhiễm phóng xạ từ nhiên liệu hạt nhân hay từ
chất thải hạt nhân do đốt cháy nhiên liệu hạt nhân.
- Các thuộc tính phóng xạ, độc, nổ hoặc các thuộc tính nguy hiểm khác
của thiết bị nổ hạt nhân hay các bộ phận c
ủa thiết bị đó.
c. Những tổn thất do hành động cố ý hoặc đồng loã của Người được bảo hiểm gây ra.
d. Những tổn thất về:
- Hàng hoá nhận uỷ thác hay ký gửi trừ khi những hàng hoá đó được xác
nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và Người được
bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí quy định.
-
Tiền bạc, kim loại quý, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tem phiếu, tài
liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử,
bản mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế, trừ khi những hạng
mục này được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm.
- Chất nổ.
- Người, độ
ng vật và thực vật sống.
- Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theo đơn
bảo hiểm hàng hải hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng
hải, trừ phần thiệt hại vượt quá số tiền bồi thường theo đơn bảo hiểm
hàng hải hoặc lẽ ra được bồi thường theo đơn b
ảo hiểm hàng hải và dù
có hay không có bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt.
- Tài sản bị cướp hay bị mất cắp trong khi xảy ra hoả hoạn cũng không
được bồi thường, trừ khi người bảo hiểm không chứng minh được là bị
cướp hoặc bị mất cắp.
e. Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào (ví dụ:
gián đo
ạn kinh doanh, mất thu nhập, ô nhiễm môi trường…) đều không được
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


13
CHƯƠNG I
bồi thường, trừ những thiệt hại về tiền thuê nhà nếu tiền thuê nhà được xác
nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm.
Ví dụ: Đối tượng được bảo hiểm bị cháy, trong quá trình cháy lan sang các
tài sản khác không phải của người được bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ không
bồi thường cho phần thiệt hại của tài sản này.
f. Những thiệt hạ
i gây ra cho bên thứ ba.
g. Những thiệt hại trong phạm vi mức miễn bồi thường.
3.2.Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
3.2.1. Giá trị bảo hiểm (insured value)
Cơ sở để xác định số tiền bảo hiểm chính là giá trị bảo hiểm. Đó chính là giá
trị của tài sản cần bảo hiểm. Giá trị này có thể là giá trị thực tế hoặc là giá trị mua
mới.
Giá trị của tài sản được bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt thường là
rất lớn, đó là giá trị của các tài sản như: nhà cửa, công trình, máy móc thiết bị,
hàng hoá, vật tư trong kho…
Cách xác định giá trị bảo hiểm như sau:
- Giá trị bảo hiểm của các ngôi nhà (nhà xưởng, nhà làm việc, nhà văn phòng,
nhà ở ) được xác định theo giá trị mới hoặc giá trị còn lại.
 Giá trị mới là giá trị mới xây của ngôi nhà bao gồm cả chi phí khảo sát thiết kế.
 Giá trị còn lại là giá trị mới trừ đi hao mòn do sử dụng theo thời gian.
Trong bảo hiểm thường ch
ỉ bảo hiểm theo giá trị còn lại.
- Giá trị bảo hiểm của máy móc, thiết bị và các loại tài sản cố định khác được
xác định trên cơ sở giá thay thế, tức giá mua cộng với chi phí vận chuyển,
lắp đặt (nếu có), hoặc giá trị còn lại (giá trị mua mới trừ đi khấu hao).
- Giá trị của thành phẩm và bán thành phẩm được xác định trên cơ sở giá
thành sản xuất, bao g
ồm chi phí nguyên vật liệu, tiền công lao động, khấu
hao tài sản cố định và chi phí quản lý… Trường hợp giá thành sản xuất cao
hơn giá có thể bán được thì lấy giá bán.
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHƯƠNG THỊ THU THUỶ - LỚP A9 - K38C


14
CHƯƠNG I
- Giá trị của hàng hoá mua về để trong kho, trong cửa hàng được xác định
theo giá mua (theo hoá đơn mua hàng) cộng với chi phí vận chuyển.
Xác định giá trị bảo hiểm hay giá trị tài sản phải dựa trên đặc trưng tài sản, đó
là:
 Tài sản có giá trị lớn và luôn luôn có sự thay đổi về giá trị do bị ảnh hưởng
của nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội, bất kỳ tài sản nào cũng có giá trị và có
th
ể xác định được.
 Tài sản có liên quan đến con người và tự nhiên, chịu sự tác động của con
người và tự nhiên.
3.2.2. Số tiền bảo hiểm (insured sum)
Trong bảo hiểm người ta thường bồi thường bằng tiền mà không bồi
thường bằng hiện vật. Vì vậy, đối với mỗi đơn vị bảo hiểm đều có ghi số tiền
bảo hiểm làm cơ sở cho việc bồi thường của người bảo hiểm khi xảy ra tổn
thất. Hay nói cách khác, số tiền bảo hiểm là mức bồi thường tối đa trong trường
h
ợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ.
Nói chung số tiền bảo hiểm do công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm
thoả thuận. Nó có thể bằng hoặc thấp hơn giá trị bảo hiểm nhưng số tiền bảo
hiểm phải căn cứ vào giá trị bảo hiểm.
Người được bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm tài sản củ
a mình với số
tiền lớn hơn giá trị bảo hiểm nhưng không vượt quá 10% giá trị bảo hiểm. Còn
nếu các bên thoả thuận ghi rõ trong giấy chứng nhận bảo hiểm số tiền bảo hiểm
bằng bao nhiêu phần trăm giá trị bảo hiểm của tài sản thì khi bồi thường tổn
thất bộ phận, áp dụng nguyên tắc bồi thường theo tỷ lệ.
Trong mọi trường hợ
p, số tiền mà công tybảo hiểm bồi thường cho người
được bảo hiểm cũng không vượt quá giá trị bảo hiểm. Nếu bồi thường làm
nhiều lần (nhiều vụ tổn thất khác nhau) thì tổng số tiền bồi thường trong tất cả
các vụ bồi thường tổn thất cũng không vượt quá số tiền bảo hiểm. Mỗi lần bồi
thường, số tiền bồ
i thường lại giảm đi một phần ngang bằng với số tiền bồi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét