Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

488 Những giải pháp đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế


5
 Lợi nhuận của chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả
hoạt động kinh doanh của xí nghiệp. Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn pháp
đònh sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà.

1.1.3 Lợi ích của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.3.1 Đối với chủ đầu tư nước ngoài
 Cho phép chủ đầu tư nước ngoài ở mức độ nhất đònh (phụ thuộc vào mức
độ góp vốn) tham dự vào điều hành quá trình kinh doanh của xí nghiệp, nên họ
trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và kòp thời đưa ra những quyết đònh có lợi nhất
cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra. Nếu môi trường đầu tư ổn đònh các chủ đầu tư
thường thích bỏ 100% vốn đầu tư.
 Giúp cho các chủ đầu tư nước ngoài dễ chiếm lónh thò trường tiêu thụ và
nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu của nước chủ nhà.
 Lợi dụng cơ chế quản lý thuế đối với hoạt động đầu tư ở các nước khác
nhau, mà các nhà đầu tư mở các công ty con ở các nước khác nhau để thực hiện
chuyển giá nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
 Giúp chủ đầu tư khai thác lợi thế của các quốc gia khác: thò trường, vò trí
đòa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, đất đai nhằm giảm chi phí kinh doanh để
tăng lợi nhuận.
 Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dòch vì thông qua đầu tư trực tiếp tạo
được các xí nghiệp nằm ngay tại các nước thi hành chính sách bảo hộ mậu dòch.

1.1.3.2 Đối với nước chủ nhà tiếp nhận đầu tư trực tiếp
 Giúp tăng cường khai thác vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài. Đa số
các nước đều không qui đònh mức đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí
đóng góp vốn càng nhiều thì càng được hưởng những chính sách thuế ưu đãi của

6
nước chủ nhà.
 Giúp tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh
doanh của các chủ đầu tư nước ngoài.
 Nhờ có vốn đầu tư nước ngoài cho phép chủ nhà có điều kiện khai thác
tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên, vò trí, mặt đất, mặt nước
 Đẩy nhanh tiến trình hội nhập của quốc gia với nền kinh tế thế giới vì
đầu tư trực tiếp là nhân tố tác động mạnh mẽ đến tiến trình hoàn thiện thể chế,
chính sách và môi trường đầu tư.
 Góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dòch vụ
làm cho tính hiệu quả của sự phát triển kinh tế được nâng lên.
 Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao mức sống của nước trực
tiếp nhận đầu tư thông qua giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, tạo đội
ngũ lao động có trình độ và tay nghề.

1.1.4 Hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài
 Chủ đầu tư nước ngoài dễ mất vốn nếu đầu tư vào môi trương bất ổn
đònh về kinh tế và chính trò.
 Nước chủ nhà không có một qui hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫn tới
sự đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bò bóc lột quá mức và
nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hiện nay ở các nước phát triển thực hiện
sự kiểm soát gắt gao những dự án gây ô nhiễm môi trường, nên xu thế nhiều nhà
đầu tư nước ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệ độc hại sang các
nước kém phát triển.
 Hoạt động FDI cũng tạo ra điều kiện để dẫn tới sự phân hoá sự giàu
nghèo, sự di dân ồ ạt ra các trung tâm đô thò lớn gây ra sự xáo trộn xã hội, bất
bình đẳng gia tăng, cụ thể bất bình đẳng giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh

7
tế và giữa các tầng lớp dân cư.
 Hoạt động FDI là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự pha trộn về
văn hoá, bản sắc dân tộc bò mai một.

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (sau đây gọi là đầu tư ra nước
ngoài) xảy ra khi công dân một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát các
hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước chủ nhà hay nước nhận đầu tư). Trong
khái niệm này thật sự không có sự gia tăng đầu tư về kinh tế hay một sự chuyển
giao ròng mà chỉ là sự dòch chuyển tư bản từ quốc gia này sang quốc gia khác.

1.2.1 Cơ sở cho đầu tư ra nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế
Đa số các nước đang phát triển - trong đó có Việt Nam - đang tiến hành
xây dựng nền kinh tế thò trường với mục tiêu hướng vào xuất khẩu. Trong quá
trình vận động kinh tế thò trường bản thân nó cũng đã bộc lộ khá nhiều những
nhân tố không hoàn hảo ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của nhiều
doanh nghiệp. Sự tồn tại của các yếu tố này có thể tác động lên toàn bộ hay
riêng lẻ từng ngành, từng lónh vực trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia.
Có thể thấy sự khác biệt về tính không hoàn hảo giữa các thò trường khác nhau
giữa các quốc gia khác nhau. Chính vì vậy, ngay trong nội tại các nước đang
phát triển, các doanh nghiệp gánh chòu sự tác động của tính không hoàn hảo của
thò trường sẽ tìm cách chuyển hướng đầu tư sang thò trường hoàn hảo hơn và ít bò
tác động hơn. Hiện nay hai nhân tố không hoàn hảo thường các doanh nghiệp
phải đối mặt đó là hàng rào thương mại và kiến thức chuyên môn.
y Hàng rào thương mại: Những qui đònh thương mại tự do được ký kết
song phương hay đa phương giữa các quốc gia đang phát triển với các thò trường

8
lớn đã tạo điều kiện cho các sản phẩm nước này có thể xâm nhập vào các thò
trường này. Tuy nhiên không phải bất cứ sản phẩm nào, dòch vụ nào cũng có thể
đi vào được. Với lợi thế nước lớn, các quốc gia châu Âu, Mỹ và các nước công
nghiệp phát triển thường xây dựng những hàng rào hữu hình lẫn vô hình nhằm
bảo vệ các doanh nghiệp trong nước họ, khu vực họ. Các hàng rào kỹ thuật đánh
vào chất lượng sản phẩm nhập khẩu, đánh thuế thật nặng vào các sản phẩm
nhập khẩu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước. Đồng thời đề ra những
qui đònh ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất trong nước, trong khu vực tự do mà
nước đó tham gia, tạo ra lợi thế rất lớn cho những doanh nghiệp này trong cạnh
tranh ngay trên thò trường đó cũng như trên thò trường thế giới. Và để vượt rào,
các nước phát triển đã và đang thực hiện nhiều phương án đầu tư tại các cửa ngõ
đi vào thò trường châu Âu (Đông Âu) và thò trường Mỹ (NAFTA).

y Kiến thức chuyên môn: Chủ trương của Đảng và Nhà nước là quyết tâm
xây dựng nước ta thành một quốc gia công nghiệp phát triển vào năm 2030. Mục
tiêu lớn của Chính phủ sẽ được thực thi dựa trên nền tảng công nghiệp hoá hiện
đại hoá, theo nguyên tắc đi tắt đón đầu công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế
giới. Vì vậy, Chính phủ đã có chính sách ưu đãi các nhà đầu tư chuyển giao công
nghệ cho Việt Nam, đồng thời xây dựng một chiến lược phát triển chất xám lâu
dài phục vụ cho đất nước. Tuy nhiên, tuy có một số dự án FDI vào Việt Nam có
chuyển giao công nghệ mới nhưng đa số chỉ là công nghệ hạng hai so với công
nghệ của thế giới, hầu hết các bí quyết công nghệ hiện đại đều không có chuyển
giao (các dự án đầu tư chỉ tập trung vào khai thác nguồn lao động rẻ, nguồn
nguyên liệu tại chỗ chứ không để phục vụ cho sự phát triển công nghệ). Chiến
lược phát triển con người có thể coi là vấn đề lâu dài mang tính vó mô, không thể
giải quyết trong thời gian ngắn. Trong khi đó, công nghệ khoa học kỹ thuật thế

9
giới ngày càng phát triển như vũ bão nếu không bắt kòp sẽ khiến cho chúng ta
ngày càng tụt hậu và mục tiêu của chúng ta ngày càng xa vời. Cho nên ngoài
việc thu hút đầu tư, xây dựng con người, hoạt động đầu tư ra nước ngoài giúp
chúng ta có thể chia sẻ những công nghệ cao tại quốc gia phát triển đem về góp
phần xây dựng đất nước. Thực tế của vấn đề này đã được thực tiễn chứng minh
sinh động thông qua hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc những thập niên 70, 80.
Đầu tư ra nước ngoài không chỉ là để tìm kiếm lợi nhuận mà còn là cơ hội để
học hỏi những cái mới, hiện đại tại các quốc gia đầu tư, nhằm chuyển chúng về
nước phục vụ cho quá trình tái thiết và phát triển kinh tế của quốc gia.

1.2.2 Các hình thức đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài thường tồn tại dưới các dạng:
y Thứ nhất, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Văn bản được ký kết
giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư)
để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên
cơ sở qui đònh về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành
lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào.
Hình thức đầu tư này có đặc điểm:
à Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký
kết giữa hai bên về sự phân đònh trách nhiệm quyền lợi và nghóa vụ.
à Không thành lập một pháp nhân mới.
à Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận phù
hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu
của hợp đồng.
Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong văn bản
hợp đồng hợp tác kinh doanh.

10
y Thứ hai, hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: Xí nghiệp hay công
ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu
tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia. Đặc điểm của hình thức
liên doanh này là:
à Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới với tư cách pháp nhân
mới và được thành lập với tư cách công ty trách nhiệm hữu hạn.
à Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp được
qui đònh tuỳ vào pháp luật mỗi nước.
à Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh
đồng thời phân chia rủi ro lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn.
y Thứ ba, hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn nước ngoài: Đây là
hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào quyền sở hữu cá
nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn
chòu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Đặc điểm của các công ty này là:
à Được hình thành dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một
pháp nhân mới ở nước đầu tư.
à Hoạt động chi phối bởi luật pháp nước nhận đầu tư.
y Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế
thực hiện những hợp đồng xây dựng-vận hành-chuyển giao. Những dự án B.O.T
thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện để thực hiện
nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.

1.2.3 Ảnh hưởng của đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài có những tác động to lớn đến sự phát triển của
thương mại quốc tế. Những tác động này ảnh hưởng không những tới các nước
nhận đầu tư mà ngay cả nước xuất khẩu tư bản (đầu tư).

11
1.2.3.1 Nước nhận đầu tư
y Thuận lợi: Lợi ích chuyển tài nguyên, FDI có thể đóng vai trò tích cực
cho nước sở tại bằng cách cung cấp vốn, công nghệ và nguồn lực mà quốc gia
không sẵn có. Nếu những yếu tố như vậy hiếm trong một quốc gia, FDI có thể
thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Nhiều công ty đa quốc gia bằng sức mạnh tài
chính và qui mô của họ đã thâm nhập vào nguồn tài chính không có sẵn của
nước chủ nhà. Những nguồn này có thể có sẵn từ trong nguồn công ty hoặc do uy
tín của họ. Những MNCs lớn có thể dễ dàng vay vốn từ thò trường vốn hơn là
công ty nước nhận đầu tư. Như ta biết công nghệ có thể kích thích tăng trưởng
kinh tế và công nghiệp hoá. Công nghệ có thể thực hiện theo hai hình thức và cả
hai đều có giá trò, nó có thể kết hợp với quy trình sản xuất hoặc có thể kết hợp
trong sản phẩm. Tuy nhiên nhiều quốc gia thiếu nguồn nghiên cứu phát triển và
kỹ năng để phát triển những sản phẩm bản xứ của chính họ và xử lý công nghệ.
Điều này là sự thật đối với các quốc gia đang phát triển. Những quốc gia như
vậy phụ thuộc vào quốc gia công nghiệp hiện đại đối với những công nghệ yêu
cầu kích thích tăng trưởng kinh tế, FDI có thể cung cấp nó.
Kỹ năng quản lý nước ngoài mang đến thông qua FDI có thể cung cấp các
lợi ích quan trọng cho nước nhận đầu tư. Tác động quay vòng lợi ích xuất hiện
khi nhân viên đòa phương được huấn luyện kỹ năng quản lý và duy trì kỹ thuật
trong công ty con của MNCs để lại công ty và giúp thành lập công ty bản xứ. Lợi
ích tương tự cũng có thể gia tăng nếu kỹ năng của ban quản lý cấp cao của
MNCs nước ngoài khuyến khích nhà cung cấp phân phối và đối thủ đòa phương
cạnh tranh để cải thiện năng lực quản lý của họ.
Những tác động có thể giảm nếu ban quản trò và công việc yêu cầu kỹ
thuật cao được giữ cho nước đầu tư. Tỷ lệ phần trăm quản lý và lao động cấp cao
cho công dân nước sở tại có thể được thương lượng giữa MNCs mong muốn thực

12
hiện FDI và nước sở tại. Trong những năm gần đây hầu hết các MNCs đã đáp
ứng áp lực của chính phủ nước sở tại bằng sự đồng ý giữ lại một tỷ lệ lớn quản
lý lao động kỹ thuật cao cho công dân của nước sở tại.
Ảnh hưởng có lợi của FDI còn là mang đến việc làm cho nước sở tại mà
các loại hình khác không làm được. Ảnh hưởng trực tiếp xuất hiện khi MNCs
nước ngoài trực tiếp thuê công dân của nước sở tại. Tác động gián tiếp tăng khi
việc làm được tạo ra cho các nhà cung cấp đòa phương là kết quả của đầu tư vì
có sự gia tăng trong chi tiêu ở kinh tế đòa phương từ nhân viên của MNCs.
Tác động đến tài khoản thanh toán của quốc gia là chính sách quan trọng
cho hầu hết các quốc gia nhận đầu tư. Cán cân tài khoản thanh toán của quốc gia
giữ cả khoản chi và thu từ các quốc gia khác. Chính phủ thường được quan tâm
khi quốc gia trong tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai… thông thường thì chính
phủ mong muốn tài khoản vãng lai thặng dư. Cách duy nhất mà tài khoản vãng
lai thâm hụt có thể được bù đắp dài hạn là bán tài sản cho người nước ngoài.
Điều này có vẻ không được chờ đợi lắm. FDI có thể giúp quốc gia đạt được điều
này, đầu tiên nếu FDI thay thế nhập khẩu và dòch vụ, nó cải thiện tình trạng tài
khoản vãng lai của một quốc gia sở tại, thứ hai MNCs sử dụng tài trợ nước ngoài
để xuất khẩu sản phẩm và dòch vụ đến nước khác.

y Bất lợi: Tác động ngược lên cạnh tranh đôi khi chính phủ nước sở tại lo
lắng vì sự hoạt động của các cơ sở nước ngoài của MNCs ở quốc gia của họ có
tiềm lực cạnh tranh hơn các công ty bản xứ, bởi họ là một phần của các tập đoàn
đa quốc gia. Như vậy công ty có thể rút quỹ từ nơi này đến nơi khác để tài trợ
chi phí cho thò trường nước sở tại, có thể sẽ làm triệt tiêu các doanh nghiệp bản
xứ và hình thành các công ty độc quyền nước ngoài. Điều này hoàn toàn có hại
cho kinh tế quốc gia.

13
Tác động bất lợi có thể của FDI lên cán cân thanh toán của nước chủ nhà
hai lần. Thứ nhất, so sánh với vốn thu hút FDI ban đầu phải là thu nhập chuyển
ra sau này khi cơ sở nước ngoài chuyển thu nhập về cho công ty mẹ. Những
khoản tiền chuyển như vậy được xem như là khoản nợ trên tài khoản vãng lai.
Thứ hai, là khi các công ty nước ngoài nhập khẩu một số nguyên liệu từ nước
ngoài cũng tạo ra khoản nợ trên tài khoản vãng lai.
Về chủ quyền quốc gia và tự trò, nhiều chính phủ sở tại lo ngại FDI dẫn
đến sự phụ thuộc kinh tế. Yếu tố quyết đònh có thể ảnh hưởng đến kinh tế nước
sở tại sẽ được tạo ra bởi các công ty mẹ nước ngoài mà không có sự cam kết
thực sự với nước sở tại và vượt quá sự kiểm soát của nước sở tại.

1.2.3.2 Nước đầu tư
y Thuận lợi: Những tác động tích cực của FDI đến từ 3 nguồn:
à Tài khoản vãng lai của nước nhận đầu tư sẽ có lợi từ các khoản thu nhập
đến từ nước ngoài.
à Lợi ích cho nước đầu tư vốn FDI ra nước ngoài tăng từ tác động việc
làm. Cũng như với cán cân thanh toán tác động tích cực của FDI tăng lên khi cơ
sở nước ngoài tạo nhu cầu cho xuất khẩu trang thiết bò sản phẩm trung gian và
sản phẩm thay thế.
à Lợi ích tăng lên khi MNCs của nước đầu tư học hỏi kỹ năng có giá trò từ
nước nhận đầu tư và chuyển ngược về nước.

y Bất lợi: Nhìn chung các nước đầu tư cũng có những thiệt hại của mình.
Vấn đề quan trọng nhất xoay quanh vấn đề cán cân thanh toán và việc làm do
đầu tư ra nước ngoài. Vò thế thương mại của quốc gia đầu tư có thể giảm sút nếu
mục đích của FDI là để phục vụ cho nước nhà từ thò trường sản xuất có chi phí

14
thấp. Tài khoản cán cân có thể bò lệch nếu đầu tư trực tiếp thay thế cho xuất
khẩu trực tiếp.
Thứ hai là những quan tâm đặc biệt về việc làm tăng khi FDI thay thế sản
xuất trong nước. Nếu thò trường lao động ở quốc gia đầu tư rất hẹp, điều này
không là vấn đề lớn. Tuy nhiên nếu quốc gia đầu tư bò thiệt hại từ thất nghiệp thì
quan tâm về xuất khẩu công việc có thể gia tăng trong tương lai.

1.2.4 Kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của các nước phát triển châu Á
1.2.4.1 Duy trì mức độ đòn bẩy giải phóng vốn đầu tư
Chính phủ các nước đang phát triển tại châu Á luôn có sự lưu tâm đến
việc giải phóng vốn cho đầu tư ra nước ngoài - điều kiện để FDI có thể xảy ra
tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Chiến lược này không phải dự trữ cho tương lai
gần, vì đầu tư ra nước ngoài đồng nghóa với sự gia tăng nhanh chóng quyền chọn
chiến lược nhằm thiết lập sự có mặt tại khắp thò trường hải ngoại, xâm nhập và
khai thác các nguồn lực nước ngoài phục vụ đắc lực cho việc nâng cao khả năng
cạnh tranh của các công ty trong nước.
Thông qua đầu tư ra nước ngoài các công ty nội đòa mang lại cho lợi ích
quốc gia rất lớn, biểu hiện qua thò phần thế giới mà công ty nắm giữ và những
kiến thức cũng như tài sản khoa học, kỹ thuật đem về phục vụ cho phát triển
quốc gia. Kinh nghiệm cho thấy - đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính 1997
của một số quốc gia châu Á - việc giải phóng vốn ra nước ngoài được thực hiện
hết sức cẩn thận theo từng bước, bởi mỗi bước đi đều tồn tại những rủi ro mà bất
cứ một chính phủ nào, dù khôn ngoan nhất, cũng không thể lường hết được.

y Những phương pháp kiểm tra để quyết đònh nên hay không nên cấp
phép đầu tư: Một quyền chọn cho tất cả các quốc gia vẫn chưa hoặc giải phóng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét