DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ
Các bảng,
sơ đồ
Mục
lục
Nội dung Trang
Sơ đồ 1.1 1.1.1 Quy trình tín dụng trung của NHTM 9
Sơ đồ 1.2 1.3.1 Bộ máy quản lý tín dụng 25
Sơ đồ 2.1 2.1.2
Cơ cấu tổ chức bộ máy hiện nay của MHB Hà
Nội
35
Sơ đồ 2.2 2.2.2 Cơ cấu tổ chức tín dụng tại MHB Hà Nội 44
Sơ đồ 3.1 3.2.2 Quy trình thẩm định rủi ro 70
Sơ đồ 3.2 3.2.2 Quy trình quản lý nợ có vấn đề 74
Bảng 2.1 2.1.3
Kết quả hoạt động kinh doanh của MHB Hà
Nội 2005 - 2009
38
Bảng 2.2 2.2.1
Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn của MHB
Hà Nội 2006 - 2009
39
Bảng 2.3 2.2.1
Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề kinh doanh
2006 - 2009
41
Bảng 2.4 2.2.2 Phân loại nợ theo nhóm 2006 - 2009 47
Bảng 2.5 2.2.2 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn 2006 - 2009 49
Bảng 2.6 2.2.2
Nợ quá hạn phân theo từng loại hình cho vay
2006 - 2009
51
Bảng 2.7 2.3.1
Doanh số cho vay theo từng loại hình cho vay
2006 - 2009
55
Bảng 2.8 2.3.1
Doanh số cho vay theo loại hình doanh nghiệp
2006 - 2009
55
Bảng 2.9 2.3.1 Thu nhập từ hoạt động tín dụng 2005 - 2009 56
Biểu đồ 2.1 2.1.3 Tổng nguồn vốn MHB Hà Nội từ 2005 - 2009 36
Biểu đồ 2.2 2.1.3 Tổng dư nợ tại MHB Hà Nội 2006 - 2009 37
Biểu đồ 2.3 2.2.1
Cơ cấu cho vay theo loại hình kinh tế 2006 -
2009
40
Đồ thị 2.1 2.2.2 Tốc độ phát triển các nhóm nợ 2006 - 2009 48
Đồ thị 2.2 2.2.2 Diễn biến tổng dư nợ 2006 - 2009 49
Đồ thị 2.3 2.2.2 Diễn biến tỷ lệ NQH 2006 - 2009 50
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Tăng cường khả năng cạnh tranh để mở rộng quy mô tín dụng của các
ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn đi liền với
khả năng tăng lên của rủi ro tín dụng. Với cơ cấu tín dụng đa dạng như hiện
nay, với tiềm ẩn rủi ro tín dụng thường trực thì rủi ro tín dụng có thể dẫn đến
mất an toàn của cả hệ thống ngân hàng thương mại. Thực tế cho thấy trong nền
kinh tế thị trường, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) lâu năm, có kinh
nghiệm nhưng cũng đã từng bị những hậu quả lớn do rủi ro tín dụng (RRTD)
gây nên, do đó việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đang là mối quan
tâm hàng đầu của các NHTM. Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu
Long chi nhánh Hà nội (MHB Hà Nội) là ngân hàng mới còn non trẻ so với
nhiều NHTM khác, kinh nghiệm thực tế còn ít ỏi, dự nợ không lớn nhưng tốc
độ phát triển nhanh, đồng thời tốc độ nợ quá hạn qua các năm gần đây có chiều
hướng tăng cao, nên việc cần phải học các bài học kinh nghiệm của các ngân
hàng bạn, tránh những hậu quả lớn đã xảy ra tương tự như các ngân hàng bạn
là rất cần thiết. Vì vậy, tìm kiếm các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại
chi nhánh Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông cửu Long chi nhánh Hà
Nội là một vấn đề cấp thiết đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về RRTD và hạn chế RRTD của
NHTM.
Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại MHB Hà Nội.
Đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại MHB Hà Nội.
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: nghiên cứu về rủi ro tín dụng và
hạn chế rủi ro tín dụng nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra trong hoạt
động tín dụng tại MHB Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu về RRTD tại MHB Hà
Nội trong thời gian từ 2007-2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như phương pháp thống kê, diễn giải, phân tích.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày theo các nội dung sau:
Chương 1: Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng phát triển
nhà Đồng bằng Sông Cửu Long - chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng phát triển
nhà Đồng bằng Sông Cửu Long - chi nhánh Hà Nội Hà Nội
2
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng của NHTM
1.1.1 Hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1.1 Các hoạt động chính của NHTM
* Khái niệm NHTM: Theo luật các TCTD năm 2004 định nghĩa:
”NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.
Theo dự thảo luật các TCTD định nghĩa: ”Ngân hàng là loại hình tổ chức
tín dụng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác”.
Theo quan điểm của Giáo sư Peter Rose, một nhà kinh tế Mỹ: “Ngân hàng
thương mại là một tổ chức tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm
và thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Định nghĩa này thể hiện rõ phạm vi,
quy mô cũng như vai trò của NHTM trên thị trường tài chính - tiền tệ, đồng thời
phản ánh được ảnh hưởng của NHTM tới nền kinh tế của một nước.
* Các hoạt động chính của NHTM:
- Huy động vốn: NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
+ Nhận tiền gửi của các tổ chức cá nhân và các TCTD khác dưới các
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác;
3
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận;
+ Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
tổ chức tín dụng nước ngoài;
+ Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo qui định tại khoản 1 Điều 30 Luật
ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Các hình thức huy động vốn khác theo qui định của NHNN.
- Hoạt động tín dụng: NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân
dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của
NHNN.
+ Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình
thức: Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, đời sống; cho vay trung hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
+ Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng
khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo
lãnh theo qui định của NHNN.
+ Chiết khấu: NHTM được:
Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với
các tổ chức, cá nhân;
Tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối
với các tổ chức tín dụng khác.
+ Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng
phải thành lập công ty cho thuê tài chính. Việc thành lập, tổ chức và hoạt
4
động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của chính phủ về
tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
- Dịch vụ thanh toán và ngân quĩ.
+ Mở tài khoản:
NHTM phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN (Sở giao dịch hoặc chi
nhánh NHNN tỉnh, thành phố) nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số
dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo qui định; được mở tài khoản tiền gửi tại ngân
hàng khác trong nước theo qui định của NHNN;
Chi nhánh của NHTM được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh
NHNN tỉnh, thành phố, nơi đặt trụ sở của chi nhánh;
NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong nước và ngoài nước.
+ Dịch vụ thanh toán và ngân quĩ: NHTM được:
Cung ứng các phương tiện thanh toán;
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng;
Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ;
Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN;
Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép;
Thực hịện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng;
Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán
liên ngân hàng trong nước. Việc tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế
phải được ngân hàng nhà nước cho phép.
Ngoài những hoạt động chính trên NHTM còn có thể có những hoạt
động khác như: được dùng vốn điều lệ và quĩ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần
của doanh nghiệp và của các TCTD khác trong nước theo qui định của pháp
luật; Được tham gia trên thị trường tiền tệ theo qui định của NHNN; Được
trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân,
5
hạch toán độc lập bằng vốn tự có để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị
trường trong nước và thị trường quốc tế theo qui định của NHNN.
Trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng kể trên thì hoạt động tín
dụng chiếm phần chủ yếu và hoạt động tín dụng được tổ chức dưới nhiều hình
thức tín dụng khác nhau và tuỳ vào đặc điểm của mỗi NHTM mà phát triển
loại hình nào cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
* Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người
cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả và có lãi suất. Bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán.
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín
dụng đối với khách hàng (QĐ 1627 của NHNN) “Cho vay là một hình thức
cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Căn cứ theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng thì “Hoạt động tín dụng là
việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”
Căn cứ theo Điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì TCTD được cấp
tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức
khác theo quy định của NHNN.
* Các hình thức tín dụng ngân hàng:
Việc nghiên cứu các hình thức tín dụng có thể theo các tiêu thức phân
loại khác nhau. Thực tế các nhà kinh tế học thường phân loại TD theo các tiêu
thức sau:
6
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Tùy theo mỗi quốc gia khác nhau mà
quy định thời hạn tín dụng có thể khác nhau. Theo cách phân loại này, ở Việt
nam có thể chia tín dụng thành 3 loại:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, nhằm đáp
ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh
toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
cá nhân.
Đặc điểm: đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn
nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn của môi
trường kinh tế vĩ mô. Vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác.
+ Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại
TD này thường được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới
kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu
hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín
dụng này thường được sử dụng để phát triển quá trình tái sản xuất theo chiều
rộng hoặc theo chiều sâu và kết quả là tăng mức sản xuất và của cải xã hội.
Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn: Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu
tư thường là dự tính nên loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi
ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Mức rủi ro tăng và do đó lãi suất tăng lên cùng
thời hạn vay.
- Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay.
+ Tín dụng đầu tư: Là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp
để tiến hành sản xuất và kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cấp phát cho các cá nhân để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
7
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
+ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành
vốn lưu động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho
vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các
khoản nợ dưới hình thức chiết khấu.
+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài
sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí
nghiệp và công trình mới.
- Căn cứ mức độ đảm bảo.
Tín dụng đảm bảo: Là hình thức tín dụng có tài sản đảm bảo hoặc người
bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không cần có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà hoàn toàn dựa trên uy tín của khách hàng.
- Căn cứ vào mức độ rủi ro.
Cách phân loại này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị
ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn
thất kịp thời. Theo cách phân loại này, tín dụng được phân thành:
+ TD lành mạnh: Là các khoản TD an toàn, có khả năng thu hồi vốn cao.
+ Tín dụng có vấn đề: Là những khoản tín dụng đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn.
+ Tín dụng quá hạn khó thu hồi: Là những khoản tín dụng quá hạn quá
lâu, khả năng trả nợ kém, tài sản thế chấp bị giảm giá hoặc mất giá…
Ngoài ra trong quá trình phân loại người ta còn phân chia tín dụng căn cứ
vào xuất xứ tín dụng, phương pháp hoàn trả và một số các căn cứ khác tuỳ
theo mục tiêu nghiên cứu.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy
trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng nhằm
mục đích giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét