Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Tiền gửi và quản lý tiền gửi tại các NHTM

Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
ngày đáo hạn ( đối với tiền gửi có kỳ hạn). Ngày nay, có rất nhiều hình thức
tiền gửi được ngân hàng tạo ra nhằm thu hút số lượng tiền nhiều nhất có thể
từ trong dân chúng hay các tổ chứ, doanh nghiệp. Tuy nhiên, dù với hình thức
nào thì các loại tiền gửi đều có những đặc điểm như sau :
I.1.2. Đặc điểm của tiền gửi
Tiền gửi phải được thanh toán khi có yêu cầu của khách hàng, ngay cả
khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn phải trả.Nhận tiền gửi là một trong
những nghiệp vụ chính của ngân hàng, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi
của khách hàng thông qua việc mở cho khách hàng một tài khỏan như tài
khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khỏan tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền
gửi tiết kiệm.Giao dịch nhận tiền gửi của ngân hàng được hiểu là cam kết
song phương giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết
hợp đồng tài khoản tiền gửi. Giai đoạn đầu, nó chỉ đơn thuần là một hợp đồng
dịch vụ gửi,giữ tài sản, theo đó,ngân hàng đóng vai trò là bên nhận gửi, giữ để
được nhận thù lao.Về sau, do nhu cầu khách quan của hoạt động kinh tế, giữa
ngân hàng và khách hàng có thêm thỏa thuận là ngân hàng có thể sử dụng
chính số tiền này để đầu tư nhằm mục đích sinh lời., với điều kiện là phải
hoàn trả cho người sở hữu toàn bộ số tiền vốn đã sử dụng kèm theo một
khoản lãi nhất định, tùy thuộc vào thời gian mà ngân hàng giữ khoản tiền đó.
Giao dịch nhận tiền được nhìn nhận là hành vi vay tiền từ công chúng với
cma kết đảm bảo an toàn cho số tiền gửi đó cùng với nghĩa vụ trả gốc và lãi.
Việc ngân hàng giữ các khoản tiền này không đơn thuần là một nghiệp vụ giữ
hộ tài sản hay quản lý tài sản cho khách hàng để nhận thù lao mà quan trọng
hơn, nó là nghiệp vụ huy động vốn – nghiệp vụ đi vay của NHTM từ nền kinh
tế. Do đó, khi người gửi tiền yêu cầu thanh toàn thì ngân hàng buộc phải thực
hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng.
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
5
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Tiền gửi có quy mô rất lớn so với các nguồn vốn khác trong ngân hàng, là
cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó là nguộc gốc của lợi nhuận trong
ngân hàng. Thông thường,tiền gửi chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn, và là mục
tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng thương mại. « Tiền gửi là nền
tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng, đây cũng là khỏan mục
duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình
doanh nghiệp khác »
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc nên chi phí tiền gửi cao hơn
khoản trả lãi cho nó. Để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng khi
đến hạn và hạn chế việc lạm dụng khoản tiền gửi của khách hàng trong việc
cho vay nhằm mục đích sinh lời của ngân hàng, ngân hàng nhà nước quy định
các khoản tiền gửi đều phải trích dự trữ bắt buộc. Tùy vào hình thức gửi tiền
và quy định của mỗi ngân hàng mà tỷ lệ dự trữ này là khác nhau. Sau khi huy
động được tiền gửi, trừ đí khoản dự trữ bắt buộc này, ngân hàng có thể cho
vay phần tền gửi còn lại. Như vậy, ngoài chi phí trả lãi tiền gửi cho khách
hàng, ngân hàng còn phải trích một khỏan dự trữ nữa nên nếu tính tổng lại thì
chí phí tiền gửi sẽ lớn hơn lãi phải trả cho khách hàng, khoản chênh lệnh này
chính là số tiền dự trữ bắt buộc.
Ở nhiều nước, ngân hàng phải mua bảo hiểm tiền gửi. Ngân hàng là một
tổ chức có quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực, ngành kinh tế khác. Hơn nữa,
các NHTM cũng có mối quan hệ với nhau rất mật thiết. Do phải thanh toán
tiền gửi cho khách hàng khi có yêu cầu nên NHTM luôn luôn phải đảm bảo
khả năng thanh tóan của mình. Vì vậy, ở một số nước, yêu cầu NHTM phải
mua bảo hiểm tiền gửi là để tránh rủi ro cho khách hàng gửi tiền, tạo tâm lý
an tòan hơn cho khách hàng. Như vậy, sẽ đảm bảo an tòan cho NHTM nói
riêng và cho cả hệ thống ngân hàng của quốc gia đó.
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
6
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
I.2. Vai trò của tiền gửi trong NHTM
Tiền gửi trong NHTM có vai trò quan trọng không chỉ đối với hoạt động
của ngân hàng mà còn đối với các chủ thể khác trong nền kinh tế như khách
hàng là cá nhân hoặc khách hàng là doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
Đối với khách hàng là doanh nghiệp: chủ doanh nghiệp thông qua việc
mở tài khoản để được hưởng các dịch vụ về ngân quỹ, thu chi tài vụ và các
dịch vụ khác của ngân hàng một cách nhanh chóng và an toàn. Dịch vụ chủ
yếu mà các doanh nghiệp sử dụng là nhờ ngân hàng thanh toán tiền hàng lẫn
nhau. Nếu không thông qua ngân hàng, doanh nghiệp sau khi mua hàng xong
sẽ phải trực tiếp mang tiền đến trả cho nhà cung cấp. Như thế sẽ mất thời
gian, tốn chi phí đi lại , bảo quản, cất giữ và nguy hiểm do nguy cơ bị cướp
hoặc gian lận của người mang tiền đi trả. Về phía ngân hàng, qua nghiệp vụ
này cũng thu hút được một số lượng tiền gửi của khách hàng trên tài khỏan và
một khỏan lệ phí nhất định. Một điều quan trong nữa cần nhắc tới ở đây là
doanh nghiệp có thể sử dụng việc gửi tiền vào ngân hàng để kiếm thêm tiền
lãi khi ngân quỹ tạm thời dư thừa.
Đối với khách hàng thuộc tầng lớp dân cư: Khách hàng mở tài khỏan và
ký gửi tiền tại ngân hàng ngoài việc được hưởng dịch vụ thanh toán bằng sec,
còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh
lời. Trong nền kinh tế thị trường, một người dân muốn giữ tiền hay tích lũy
vốn trước hết có hai hình thức lựa chọn: hoặc giữ tiền trong két sắt hoặc mua
cổ phiếu ( của các công ty cổ phần) hay trái phiếu ( Chính phủ hay công ty).
Cả hai cách này đều chứa đựng rất nhiều rủi ro như trộm cướp hay tiền trong
tương lai không có giá trị thấp hơn hiện tại do quy luật giá trị theo thời gian
của tiền…. ( đối với cách thứ nhất); giá cổ phiếu giảm, trái phiếu không được
thanh toán ( đối với cách thứ hai)…Do đó, họ có thể lựa chọn cách thứ ba: gửi
tiền vào ngân hàng vừa để giữ được vốn tích lũy của mình tương đối an toàn,
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
7
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
vừa thu được một khoản lợi tức nhất định.
Đối với nền kinh tế: Tiền gửi của NHTM sẽ được tài trợ cho các dự án
của doanh nghiệp sẽ làm tăng đầu tư của nền kinh tế và do đó cũng làm tăng
thu nhập quốc dân GDP.
Đối với NHTM: tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của
Ngân hàng, là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt
Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là cơ sở chính cho
các khoản vay của NHTM, là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển
của Ngân hàng. Khi huy động tiền gửi, Ngân hàng phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt
buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân
hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Ngân hàng cũng có thể thu được
những khoản phí khi cung cấp các dịch vụ cho khách hàng gửi tiền. Khả năng
huy động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan trọng đáng
giá tính hiệu quả trong quản lý ngân hàng.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền gửi
Lãi suất: lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh nghiệp, dân cư
gửi và cho vay. Trong điều jiện có lạm phát, người có tiền tiết kiệm thường
quan tâm đến lãi suất thực, điều đó có nghĩa là lãi suất thực dương mới thực
sự hấp dẫn các nguộc tiền tiết kiệm.
Thời vụ chi tiêu: ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của nguồn tiền.
Vào dịp Tết, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu
hướng giảm sút đặc biệt trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ
biến do nhu cầu mua sắm cho dịp tết của các gia đình tăng nhiều.
Thu nhập: thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi
kỳ hạn của nguồn tiền. Tại các thành phố lớn, nơi tập trung tầng lớp dân cư có
thu nhập cao, hin thành những người gửi tiền lớn. Khi ngân hàng mở rộng cho
vay, tiền gửi của các doanh nghiepẹ và các cá nhân cũng gia tăng. Các nguồn
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
8
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
tiền gửi thanh toán thường biến động mạnh ( kém ổn đinh) hơn tiền gửi tiết
kiệm.
Địa điểm ngân hàng: mạng lứoi chi nhánh và quầy tiết kiệm, các loại
hình huy động đa dạng, các dịch vụ đa dạng…
II. Phân loại tiền gửi trong các NHTM
Tiền gửi là có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của NHTM
như đã nói ở trên. Việc phân loại tiền gửi sẽ giúp chúng ta quản lý được nó dễ
dàng hơn và có những biện pháp để huy động tiền gửi nhiều hơn tùy theo mục
đích hoạt động của ngân hàng. Có nhiều cách để phân loại tiền gửi trong các
NHTM, dưới đây là cách phân loại phổ biến nhất. Theo cách phân loại này,
tiền gửi có thể chia thành 3 loại chính sau: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
II.1. Tiền gửi không kỳ hạn
II.1.1. Định nghĩa
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi hoàn toàn theo quy tắc bất dụng,
nghĩa là người gửi tiền có quyền rút tiền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Ngân
hàng sắp xếp loại tiền này vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các
khỏan tiền gửi với thời gian không xác định. Người vừa mới gửi tiền vào sáng
nay, nếu cần anh ta có thể rút ra ngay vào buổi chiều. Tính bất định về thời
gian gửi, cùng với đặc điểm có thể có thể rút ra bất cứ lúc nào cần đã làm cho
loại tiền gửi này còn có tên gọi theo tiếng anh là tiền gửi theo nhu cầu
( Demand deposits).
Ngày nay, khi chúng ta gửi tiền vào tài khoản không kỳ hạn, ngân hàng
sẽ cấp cho chúng ta một cuốn sổ Séc để chúng ta có thể viết Séc chi tiêu khi
có nhu cầu ở bất cứ nơi nào. Vì vậy, tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là
tiền trong tài khoản Séc ( Checking Account). Khách hàng sử dụng Séc không
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
9
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
phải vì mục đích để dành và cũng không chú trọng ở tiền lãi. Khách hàng chỉ
muốn đổi hình thức tiền tệ này thành hình thức tiền tệ khác và do sự thuận
tiện trong thanh toán mà họ đã chọn Sec. Sụ tiện lợi trong thanh tóan của tiền
gửi không kỳ hạn này phụ thuộc vào tổ chức và hoạt động của NHTM đã phát
hàng ra nó. Nếu gửi tiền vào tài khỏan này ở một NHTM có chi nhánh ở khắp
nơi trên lãnh thổ kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thì Séc do chủ tài
khoản ký phát có hiệu lực thanh tóan và được chấ nhận nhanh chẳng kém gì
tiền mặt. Đó là lý do để tiền gửi không kỳ hạn được xem là laọi hình gần tiền
mặt nhất trong tất cả các loại hình tiền của NHTM. Tuy nhiên, ở các nước
đang phát triển thì thanh toán bằng Séc chưa phổ biến do chi nhánh của các
NHTM ở những nước này còn ít và không phủ rộng khắp nơi để cả những
vùng sâu vùng xa hoặc có quan hệ không tốt với các ngân hàng khác, hơn
nữa, tâm lý của người dân còn ưa thích dùng tiền mặt hơn.
Tiền gửi laọi này có thể phát hành từ khách hàng là doanh nghiệp và chủ
doanh nghiệp đứng tên tài khoản hay người dân bình thường. Việc phân biệt
giữa tài khỏan vãng lãi mở cho doanh nghiệp và các tài khỏan Séc mở cho
người dân rất cần thiết cho ngân hàng không những về mặt pháp lý mà còn cả
về mặt kỹ thuật. Khoản tiền khách hàng gửi vào thực chất là khoản tiền khách
hàng cho ngân hàng vay. NGân hàng sẽ trả lãi cho khách hàng hàng tháng
mặc dù rất thấp. Do đó, đối với ngân hàng, nó là một khỏan nợ, khoản nợ này
sẽ được trả theo nhu cầu của người gửi.
II.1.2. Phân loại
Sự đa dạng của loại hình tiền gửi không kỳ hạn này để đáp ứng cho sự
phát triển của xã hội và nhu cầu thanh toán của người dân. Ở các nước phát
triển, tiền gửi không kỳ hạn có thể phấn ra thành các loại như sau:
a) Tiền gửi dùng Sec ( checking deposits)
b) Tiền gửi rút tiền tự động hay tiền gửi thông dụng ( Ordinary deposits)
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
10
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
thực hiện qua máy rút tiền ( cash dispensers) máy nhận rút và chuyển
tiền tự động ( Automated teller machine hay còn gọi là ATM)
c) Tài khỏan ATS ( automatic transfer service account) tài khoản phối
hợp tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tài khoản Séc ở Mỹ
d) Tiền gửi có thông tri ( deposit at notice), tiền gửi hẹn rút ( deposit at
call) hay tiền gửi có báo trước (dépots à prévis) : là loại tiền gửi
không có quy định một kỳ hạn nào, nhưng các bên có thỏa thuậ việc
thông báo trước từ 5 đến 8 ngày. Vậy việc thông báo trước có làm
mất tính khả dụng, nghĩa là làm cho khỏan tiền gửi mất tính pháp lý
cơ bản của nó?
+ Xét về khía cạnh kinh tế, thông tri báo trước một vài ngày nhằm mục
đích giúp ngân hàng có thời gian để gom đủ số tiền cần thiết cho việc
thanhtoán, thì số tiền gửi có báo trước đúng là một loại tiền gửi.
+ Xét về phương diện pháp lý, tiền gửi có báo trước không cho phép
khách hàng sử dụng sec để rút tiền trong các tài khoản có báo trước. Do đó,
tiền gửi có báo trước phụ thuộc quy tắc cho vay. Những loại tiền gửi có
báo trước thường cũng được trả lãi, nhưng thấp hơn so với các loại tiền gửi
có ký hạn.
Có nhiều ngân hàng đã dung hợp hai lối tiền gửi có kỳ hạn và báo trước.
Khách hàng lúc gửi tiền được ấn định một kỳ hạn, nhưng khi cần tiền gấp, có
thể rút tiền trước thời hạn, miễn là báo trước vài ngày hoặc một tuần tùy theo
số tiền lớn hay nhỏ.
e) Tài khoản NOW: Ra đời ở Anh trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, sự
kếp hợp giữa tiền gửi giao dịch không hưởng lãi và tiền gửi tiết kiệm
đã xuất hiện dưới hình thức tài khỏan NOW – negotiable order of
withdrawal – tài khoản lệnh rút tiền có thể thương lượng. NOW là tài
khoản giao dịch được hưởng lãi, do đó nó cho phép Ngân hàng đòi
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
11
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
hỏi khách hàng phải thông báo trước về việc rút tiền. Do đòi hỏi này
ít khi được thực hiện nên NOW được sử dụng như là một tài khoản
phát séc để chi trả cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Từ năm 1981,
NOW đựoc chấp nhận rộng rãi trên toàn nước Mỹ. Tuy nhiên, loại tài
khoản này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi
nhuận (nonprofit institutions). Khi NOW được chấp nhận trên tòan
nước Mỹ, Chính phủ Mỹ đã cho phép ngân hàng thực hiện nghiệp vụ
chuyển vốn tự động, trong đó khách hàng ủy quyền trước
(preauthorize) cho ngân hàng trong việc chuyển vốn từ tài khỏan tiết
kiệm sang tài khoản séc để bù đắp thấu chi (overdraft). Kết quả cuối
cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch tương đương
với lãi thu được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
f) Tài khoản MMDA: “Với việc thông qua đạo luật về các tổ chức nhận
tiền gửi Garn-st Germain năm 1982, hai loại hình tài khoản giao dịch
hưởng lãi quan trọng được hình thành. Ngân hàng và các tổ chức tiết
kiệm phi Ngân hàng có thể đưa ra một loại hình tiền gửi mới để cạnh
tranh với tài khoản đầu tư chứngkhóancó lãi suatá cao hơn, được
cung cấp bởi các quỹ trên thị trường tiền tệ và được đảm bảo bằng
danh mục đầu tư chứng khóan có chất lượng cao. Kết quả là đưa tới
sự ra đời của tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài
khoản Super NOW”. Hai loại tài khoản này trả lãi theo lãi suất thị
trường tiền tệ và khách hàng có thể thực hiện thanh tóan cho các giao
dịch mua hàng hóa và dịch vụ thông qua việc phát séc hay hối phiếu
ủy quyền trước (preauthorised draft).
MMDA là tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần
hay vài tháng và NGân hàng có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thù hút và
nắm giữ tiền gửi của khách hàng. Có tới sáu hối phiếu ủy quyền trước được
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
12
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
phép thực hiện trong một tháng nhưng số lượng séc phát hàng chỉ được giới
hạn là 3 lần. Đối với lệnh rút tìen cá nhân thì không có hạn chế (mặc dù ngân
hàng có quyền đặt mức tối đa cho quy mô tiền rút và cho số lượng lệnh rút
tiền cá nhân ). Không như NOW, MMDA có thể được nắm giữ bởi cả doanh
nghiệp và cá nhân.
g) Tài khoản Super NOW (SNOW) ra đời gần như cùng thời gian với
MMDA, nhưng tài khoản này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và
các tổ chức phi lợi nhuận. Không có quy định nào hạn chế số lượng
séc người gửi tiền có thể phát hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng áp dụng
một mức lãi đối với SNOW thấp hơn cả với MMDA bởi vì SNOW có
thể được phát séc thường xuyên hơn. Do đó, các nhà quản lý trung
ương xếp MMDA vào nhóm tiền gửi tiết kiệm. Tuy vậy, chúng ta
xếp tài khoản loại này vào phần tài khoản giao dịch vì chúng có đặc
quyền phát séc.
h) Tiền gửi đặc biệt: Nhằm phát triển tiền gửi, một số ngân hàng áp
dụng loại tiền gửi đặc biệt với các nội dung sau:
+ Các bên có thể thỏa thuận về số tiền gửi sẽ được phong tỏa. Thông
thường thì các vụ rút tiền được quy định trong phạm vu một phần số tiền gửi,
người gửi cam kết không sử dụng vào phần tối thiểu quy định. Đối với các số
tiền phong tỏa, người ta sẽ áp dụng lãi suất cao hơn. Nếu khách hàng rút tiền
ra trước ngày đã dự tính thì hoặc không được hưởng lãi suất như thỏa thuận
hoặc được hưởng một lãi suất thấp.
+ Có khi khách hàng ký gửi một số tiềnvào ngân hàng để chuẩn bị cho
một doanh vụ đã có dự định trước. Cũng có khi dùng loại tiền gửi này để tạo
một đảm bảo cho chính ngân hàng hay một bên thứ ba, hoặc tiền gửi được
dùng đeer tạo một khoản dự phòng để trả lãi công trái, hoặc là các khoản tiền
đã được gửi nhằm để mua các chứng khoán, để dự tính vào vốn của một công
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
13
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
ty đang thành lập hoặc tăng vốn hay là để thanh toán cho một hối phiếu.
Trên đây là những loại tiền gửi không kỳ hạn phổ biến nhất. Tùy theo
nhu cầu đa dạng của khách hàng và sự phát triển của hệ thống ngân hàng ở
mỗi nước mà các quốc gia lại có thêm những khoản tiền gửi không kỳ hạn
khác nhau.
II.2. Tiền gửi có kỳ hạn
II.2.1. Định nghĩa
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng mà
có sụ thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng. Như
vậy, về nguyên tắc, khách hàng gửi tiền chỉ đựoc rút tiền ra khi đến hạn
đã thỏa thuận.
Thực ra, các loại tiền gửi định kỳ này không phải là những loại tiền gửi
theo nghĩa của pháp lý, mà nó có dạng như một khỏan tiền vau của ngân hàng
nhưng không thể hiện bằng một phiếu khoán. Nó là một ngoại lệ của quy tắc
bất khả dụng, bởi vì khách hàng chỉ phải hoàn lại số tiền gửi vào ngày đáo
hạn ghi trên hợp đồng.
Tiền gửi có kỳ hạn có những đặc điểm sau đây:
+ Tên gọi “ có kỳ hạn” có nghĩa là khỏan tiền được gửi sẽ có thời hạn
gửi tối thiếu theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng và không được rút
ta trước thời hạn đã cam kết. Nếu vì một lý do nào đó mà người gửi tiền phải
rút tiền trước hạn thì ngân hàng có một trong ba cách xử lý như sau: thứ nhất,
từ chối. Bởi vì theo như cam kết của hợp đồng, người gửi tiền sẽ cho ngân
hàng vay với thời hạn đã thống nhất, nếu khách hàng rút tiền trước thời hạn sẽ
làm ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, thông
thường ngân hàng làm hai cách mềm dẻo hơn sau: Thứ hai, ngân hàng yêu
cầu khách hàng phải báo trứoc, ít nhất một khoảng thời gian nào đó về ý định
rút tiền. Thứ ba, với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi suất
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét