lý thuyết, số lợng các đoạn ADN đợc nhân bản phụ thuộc vào độ dài và vị trí gắn
của các đoạn mồi, kích thớc và mức độ phức tạp của cấu trúc genom. Kết quả là sau
khi điện di sản phẩm RAPD sẽ xuất hiện nhiều phân đoạn khác nhau. Sự khác nhau
đó gọi là tính đa hình.
Sự đa hình của sản phẩm RAPD là do mức độ tơng đồng của trình tự ADN
trong genom với trình tự mồi và kích thớc của bộ genom. Độ tơng đồng càng cao thì
phân đoạn càng nhiều.
Kỹ thuật RAPD cũng giống PCR gồm ba giai đoạn nhng điểm khác là trong
giai đoạn gắn mồi RAPD có nhiệt độ bắt mồi thấp hơn (từ 35
0
C - 45
0
C). Đây cũng là
một nguyên nhân dẫn đến có nhiều phân đoạn ADN đợc nhân bản ngẫu nhiên [2].
RAPD là một phơng pháp có hiệu quả trong việc xác định kiểu gen, phân tích
quần thể và nguồn gốc loài, nghiên cứu di truyền loài, lập bản đồ di truyền. Kỹ thuật
RAPD đợc sử dụng để nhận biết và phân loại các giống cây trồng khác nhau, sự đa
dạng di truyền trong các kiểu gen lúa nớc và lúa nơng, sự đa dạng di truyền giữa lúa
Indica và Japonica, xác định sự đa hình của các giống.
Yang và Quiros đã sử dụng 28 đoạn mồi có trình tự 10 nucleotit để nghiên
cứu sự khác biệt của 23 giống cần tây và đợc chia làm ba nhóm. Kết quả thu đợc
cũng trùng hợp khi sử dụng 6 chỉ thị protein để phân loại các giống cần tây trên
(Yang và Quiros, 1993) [38]. Tơng tự nh vậy nhiều tác giả đã sử dụng RAPD để lập
cây chủng loại phát sinh của các loài cây nh: ngô, lúa gạo, lúa mì, [24, 29, 32].
Orozco và CS, (1994) [31] đã ứng dụng kỹ thuật RAPD để khảo sát mối quan
hệ di truyền và tiến hoá của các giống cà phê đợc tai tạo từ các loài bố, mẹ ở các
vùng sinh thái khác nhau làm cơ sở cho việc ghép cặp lai với mục đích tạo con lai có
đặc điểm quý để lai tạo giống cà phê mới. Bùi Mạnh Cờng và CS, (2000) [6] cũng
cho biết khi sử dụng kỹ thuật RAPD đã phân biệt đợc hai giống đậu Vetch và lentil,
giống nhau về hình thái (trọng lợng1000 hạt, màu sắc, kích thớc ). Điều này có một
ý nghĩa lớn trong việc xác định độ thuần di truyền cũng nh mức độ lẫn tạp cơ giới
của các loại giống cây trồng.
Trong quá trình thiết lập mối quan hệ giữa các loài hay nhóm loài (Apostol
và CS, 1993) đã xây dựng kỹ thuật phân nhóm thông qua các biểu đồ RAPD. Thực
chất của kỹ thuật này gồm ba bớc:
Bớc 1: So sánh từng cặp đối tợng trong nghiên cứu bằng cách tính toán
khoảng cách quan hệ giữa chúng.
Bớc 2: Lập ma trận gồm tất cả những giá trị tính đợc trớc đó.
5
Bớc 3: Giải ma trận và biểu diễn thành một biểu đồ đặc trng. Các giá trị biểu
diễn khoảng cách giữa các cá thể đợc thiết lập theo hệ số tơng đồng của Nei và Li
(1985).
S =
Trong đó N
AB
là số băng có mặt ở cả hai loài A và B; N
A
là số băng chỉ có ở
loài A; N
B
là số băng chỉ có ở loài B.
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã thiết lập đợc phần mềm máy tính để tự
động vẽ nên biểu đồ mối quan hệ hay độ tơng đồng di truyền của các đối tợng
nghiên cứu sau khi nhập dữ liệu về các băng nhân bản của các cá thể. NTSYSpc
version 2.0 (Applied Biostatistics Inc., USA., 1998) là tên của một trơng trình thuộc
kiểu trên để tạo các biểu đồ hình cây. Biểu đồ thu đợc sẽ thể hiện mức độ gần nhau
của các cá thể cho phép đánh giá đợc mối quan hệ di truyền giữa các cá thể đợc
nghiên cứu. Chơng trình này cho phép giảm bớt thời gian nghiên cứu và có độ chính
xác cao nên nó là một phần mềm có hiệu quả trong việc phân tích kỹ thuật RAPD.
1.2. Đặc điểm của các giống lúa Đặc sản ở miền Bắc Việt Nam
ở nớc ta cây lúa giữ vị trí trọng yếu trong hệ thống cây lơng thực. Ngày nay
khi năng suất lúa gạo đã đáp ứng đủ nhu cầu trong nớc và có d để xuất khẩu thì ngời
ta quan tâm nhiều đến chất lợng gạo. Các giống lúa đang đợc sản xuất trên diện tích
lớn mặc dù cho năng suất cao nhng chất lợng cha đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng
đòi hỏi. Vì vậy vị trí các giống lúa đặc sản ngày càng quan trọng trong việc nâng
cao chất lợng gạo Việt Nam.
Các giống lúa đặc sản có chất gạo tốt và có mùi thơm ngon thuộc nhóm lúa
mùa chính vụ. Đa số các giống lúa này đợc trồng ở một số tỉnh thuộc khu vực miền
Bắc nớc ta (Thái Bình, Nam Định, Hà Tây, Hải Dơng, Hải Phòng ), nh Tám Xoan
Hải Hậu, Tám ấp Bẹ Xuân Đài, Tám Cổ Ngỗng Nam Định, Dự Thơm, Tẻ Di H-
ơng Là những giống lúa có tiềm năng xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu thiết thực
trong nớc [12].
Nhng các giống lúa này có diện tích gieo trồng ít, năng suất còn thấp và
không ổn định, do có nhiều đặc điểm yếu nh cây cao (từ 145 -170 cm), thân mềm
yếu, chống đổ kém, lá dài rủ, hạt tha, cổ bông dài, kém chịu phân, phản ứng chặt
chẽ với ánh sáng ngày ngắn và có thời gian sinh trởng khá dài (từ 155-170 ngày) cần
6
2N
AB
N
A
+ N
B
khắc phục những nhợc điểm nói trên cho phù hợp với điều kiện canh tác của từng
vùng [11, 12].
Vì vậy việc nghiên cứu tạo các đột biến thực nghiệm kết hợp với chọn dòng
tế bào nhằm chọn tạo các giống lúa chất lợng và năng suất cao từ các giống lúa địa
phơng có một ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với cây lúa mà còn đối với các giống
cây trồng khác.
1.3. nuôi cấy mô sẹo và cơ sở chọn dòng biến dị soma
Năm 1898, lần đầu tiên, nhà thực vật học ngời Đức tên là Haberlandt đã nhận
xét: "Mỗi một tế bào bất kỳ lấy từ cơ thể thực vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng
để phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Đó là tính toàn năng của tế bào" [1]. Bất
kỳ một bộ phận nào của cây (mầm, rễ, thân, lá, nhị ), đều có thể tạo nên cây hoàn
chỉnh thông qua kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật.
Mô sẹo (callus) là một khối tế bào mô mềm, có mức độ cấu trúc thấp, cha
phân hoá, có khả năng phân bào liên tục và thờng có tính biến động di truyền cao.
Trong nuôi cấy in vitro mô sẹo đợc tạo ra từ nuôi cấy các cơ quan của thực vật (thân,
lá, rễ, hạt, nhị ) ở các môi trờng nuôi cấy thích hợp có chứa các chất điều khiển
sinh trởng cần thiết nh (auxin, cytokinin) và điều kiện nuôi cấy (nhiệt độ, ánh sáng,
độ ẩm ) tối u. Mô sẹo có thể đợc duy trì trên môi trờng nuôi cấy bằng cách cấy
chuyển định kỳ, tuy nhiên trong thực nghiệm cho thấy rằng: mô sẹo qua cấy chuyển
nhiều lần thì khả năng tái sinh cây giảm rõ rệt và tăng tính biến động di truyền của
mô [1, 9, 15].
Các tế bào mô sẹo có tính ổn định di truyền thấp. Vậy muốn nhân nhanh và
duy trì tính đồng nhất di truyền thông qua mô sẹo của một số loài thực vật cần sử
dụng mô sẹo sơ cấp để tái sinh cây hoàn chỉnh. Những cây tái sinh từ mô sẹo thờng
có những biến đổi di truyền phong phú (dị bội, đa bội) và các biến đổi di truyền
khác, điều này có ý nghĩa trong chọn giống (Lê Trần Bình và CS, 1998) [2], (Oono,
1983) [30]. Bằng cách này nhiều tác giả đã thông báo thu đợc những giống cây
trồng mới [3, 15, 20, 33].
Thuật ngữ biến dị soma đợc Larkin và Scowcroft (1982) [27] dùng để chỉ
tất cả các biến dị xảy ra trong quá trình nuôi cấy mô và tế bào. Biểu hiện của biến dị
soma đợc quan sát thấy ở kiểu hình của những cây tái sinh từ nuôi cấy mô sẹo.
Nguyên lý chung của việc chọn dòng mang biến di soma là ở tế bào nuôi cấy in
vitro tần suất biến động di truyền dao động từ 10
-5
- 10
-8
trong môi trờng nuôi cấy
bình thờng khi không xử lý đột biến, còn nếu kết hợp với xử lý đột biến bằng chất
7
hoá học (EMS, BU ) hoặc các loại bức xạ (tia UV, tia gamma ) thì tần số đột biến
có thể tăng lên gấp 10 - 100 lần, vì vậy có thể chọn ra các cá thể đột biến nhanh hơn
và có hiệu quả hơn so với các biện pháp chọn giống thông thờng khác áp dụng cho
cây nguyên vẹn. ở mức độ tế bào, nhất là tế bào đơn bội hầu nh các đặc điểm đột
biến đợc thể hiện ra ngay. Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào còn cho phép giảm bớt đáng
kể thời gian cần thiết để chọn đợc những tính trạng theo ý muốn [22].
Shepart và CS (1980) qua nuôi cấy tế bào trần của khoai tây đã chọn lọc và
đã thu đợc giống khoai tây có thời gian sinh trởng ngắn, củ đều, hình dạng đẹp và
chống chịu đợc một điều kiện bất lợi của môi trờng tốt hơn so với giống gốc [trích
dẫn từ 1].
Larkin và CS (1982) [27], Barwale và CS (1987) [19] cũng cho rằng biến dị
soma thờng xuất hiện ở các cây tái sinh đợc sau khi nuôi cấy tế bào qua giai đoạn
mô sẹo. Có nhiều kiểu đột biến nh: đột biến nhân, đột biến tế bào chất, đa bội thể và
các bất thờng khác trong nhiễm sắc thể.
Trong nghiên cứu thực nghiệm Maliga (1984) [28] đã tiến hành xử lý tia cực
tím đối với tế bào trần thuốc lá và xử lý tia gamma Co
60
với tế bào thuốc lá cho thấy
tần số đột biến tăng lên 10 lần so với đối chứng.
Những cây tái sinh từ mô sẹo xử lý đột biến dễ mang những biến động di
truyền về nhiễm sắc thể (di bội, đa bội) và các biến đổi di truyền khác.Vấn đề này
đã mở ra một triển vọng lớn trong việc cải tiến di truyền những giống cây trồng có ý
nghĩa kinh tế, tạo giống mới cho năng suất cao, chống chịu đợc các điều kiện ngoại
cảnh bất lợi, chất lợng tốt và ổn định. Nhiều công trình nghiên cứu đã thành công
trong việc chọn dòng mang biến di soma trên các đối tợng cây trồng khác nhau đặc
biệt là cây lơng thực.
Theo Lê Trần Bình và CS (1997) [1] bản chất và cơ chế của biến dị soma liên
quan mật thiết đến những thay đổi trong genom của tế bào nuôi cấy. Do nhiều
nguyên nhân nh tác động của hoocmôn sinh trởng trong thời gian dài và các yếu tố
khác làm cho nhiễm sắc thể trong tế bào nuôi cấy tăng lên tạo ra các dạng đa bội
lệch và mức bội thể cao. Nhiều trờng hợp khác, các đoạn nhiễm sắc thể có thể bị
chuyển đổi hoặc đảo ngợc. Cấu trúc của phân tử ADN có thể bị thay đổi dẫn đến
thay đổi kiểu hình thực sự.
Adkins và CS (1995) [18] thông báo đã chọn đợc dòng lúa chịu hạn từ mô
sẹo giống lúa Khao Dawk Mali 105 bằng việc bổ sung vào môi trờng nuôi cấy PEG
8000. Các tính trạng nông sinh học quan trọng và khả năng chịu hạn đã duy trì và ổn
8
định ở thế hệ R
2
. Tơng tự một số tác giả cũng thu đợc các dòng cây chịu mất nớc
nh cây anh đào, cây cao lơng
Sử dụng công nghệ tế bào thực vật kết hợp với kỹ thuật thổi khô mô sẹo
(Đinh Thi Phòng và CS, 2001) [15] đã chọn tạo thành công ba giống lúa DR1, DR2
và DR3 cả ba giống lúa đều thấp cây, ngắn ngày, chịu nóng hạn, chịu lạnh khá,
chống đổ, đẻ nhánh và sinh trởng khoẻ, cho năng suất vợt giống gốc CR 203. Trong
đó DR2 đã đợc công nhận là giống lúa Quốc gia 1998 và hiện nay DR2 không chỉ
đợc gieo trồng ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc mà còn cả ở miền Trung (Kontum).
Giống lúa DR3 đã qua ba vụ khảo nghiệm cơ bản và hiện đang đợc triển khai mở
rộng sản xuất ở các vùng sinh thái khó khăn.
Tơng tự nh vậy Viện lúa đồng Bằng sông Cửu Long cũng đã chọn tạo thành
công dòng lúa Khao 105 có tính ứng dụng và các dòng chịu muối triển vọng từ
giống lúa Một Bụi (Bùi Bá Bổng, 1997) [3] và hiện nay giống Khao 105 đã đợc công
nhận là giống Quốc gia. Phòng Di truyền Tế bào Thực vật, Viện Công nghệ Sinh
học cũng đã chọn tạo thành công giống lúa BR12 kháng bệnh đạo ôn, có nguồn gốc
từ giống lúa CR203.
Việc chọn đợc những dòng tế bào kháng nấm bệnh, kháng chất diệt cỏ,
kháng kháng sinh, kháng kim loại nặng, thích nghi tốt với các yếu tố bất lợi của môi
trờng (nóng, lạnh, khô, hạn, chua, mặn ), trên nhiều đối tợng cây trồng khác nhau
có một ý nghĩa to lớn trong nông nghiệp.
1.4. Đột biến thực nghiệm và ứng dụng trong chọn tạo giống
cây trồng
Vật chất di truyền đợc duy trì ổn định từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhng
không phải là tuyệt đối, có thể bị biến đổi bởi tác nhân tự nhiên hoặc gây tạo nh tác
nhân gây đột biến vật lý và hoá học. Ngời ta gọi những biến đổi dù là nhỏ nhất trong
cấu trúc gen hoặc nhiễm sắc thể là đột biến [16].
Trong chọn giống cổ điển để chọn đợc một giống tốt, ổn định ngời ta phải
cần ít nhất từ 6 đến 10 thế hệ vì những đột biến trong tự nhiên suất hiện với tần số
rất thấp. Trong khi đó bằng phơng pháp đột biến nhân tạo (đột biến thực nghiệm),
chỉ cần từ 3 đến 6 thế hệ, thậm chí cá biệt chỉ có trờng hợp cần 2-3 thế hệ (Nguyễn
Hữu Đống, 2000) [10]. Với phơng pháp đột biến nhân tạo, sử dụng các tác nhân gây
đột biến lý hoá có thể làm tăng nguồn đa dạng di truyền trong quần thể. Trong hàng
loạt các đột biến xuất hiện, những đột biến có lợi có thể nhân trực tiếp thành giống
mới hoặc đợc sử dụng làm vật liệu khởi đầu cho công tác chọn giống. Trong nhiều
9
tác nhân gây đột biến thì các tác nhân vật lý (tia Rơnghen, tia gamma, bức xạ
nơtron ) hiện là những tác nhân gây đột biến có hiệu quả, giúp chọn tạo ra các
giống cây trồng có những tính trạng tốt (chịu hạn, kháng nấm, năng suất cao, chất l-
ợng tốt, thời sinh trởng ngắn ). Nhiều tác giả xử dụng phơng pháp gây đột biến
thực nghiệm bằng tia gamma đã chọn tạo đợc nhiều giống cây trồng mới, đặc biệt là
các cây lơng thực. Đối với chiếu xạ tia gamma từ nguồn Co
60
hoặc Cs
137
có hoạt tính
phóng xạ, tuỳ từng trờng hợp cụ thể có thể sử dụng hai cách chiếu xạ: chiếu xạ trong
thời gian ngắn với liều lợng cao hoặc chiếu xạ trong thời gian dài với liều lợng thấp
[7].
Bức xạ ion hoá gồm tia Rơnghen (tia X), tia gamma (tia ) và các hạt về bức
xạ do các nguyên tố phóng xạ giải phóng ra (các hạt , , proton, nơtron). Thuật
ngữ ion hoá hàm ý muốn nói rằng năng lợng của chúng lớn tới mức các phân tử nớc
và các phân tử khác khi bi tác dụng sẽ bị phá vỡ thành những phân tử tích điện. Mọi
dạng bức xạ ion hoá đều có hiệu ứng gây chết và đột biến cho mọi tế bào và virut.
Khi có mặt ôxy, bức xạ ion hoá sản sinh ra các gốc hydro peroxit và nhiều các chất
có phản ứng mạnh. Các chất này sẽ tác động trực tiếp đến các phân tử sinh học gây
tổn thơng chúng, đặc biệt là những tác động lên bộ genom làm biến đổi vật chất di
truyền, tạo ra các đột biến gen và đột biến nhiễm sắc thể, có thể đợc di truyền lại
cho các thế hệ sau [17].
Các phân tử sinh học nh ADN dới tác dụng của bức xạ ion hoá có thể bị ba
dạng tổn thơng sau: đứt gãy một mạch đơn (đứt gãy khung đờng - photphat), đứt gãy
mạch kép và thay thế bazơ nucleotit, ảnh hởng đến qua trình sao chép ADN - ARN
và tổng hợp protein. Cần nhấn mạnh rằng chỉ cần một sai lệch nhỏ của phân tử axít
nucleic có thể dẫn đến những thay đổi lớn vì cơ chế hoá sinh của tế bào khuếch đại
nó lên một cách đáng kể. Nhiễm sắc thể cũng có thể bị biến đổi cấu trúc (mất đoạn,
lặp đoạn, đảo đoạn, chuyển đoạn), hoặc thay đổi số lợng nhiễm sắc thể (dị bội, đa
bội).
Khi chiếu xạ bằng tia gamma từ nguồn Co
60
lên tế bào hoặc mô thì các phân
tử sinh học chịu tác dụng trực tiếp và gián tiếp của bức xạ ion hoá:
- Tác dụng trực tiếp: bức xạ trực tiếp ion hóa và kích thích các phân tử sinh
học làm tổn thơng các phân tử đó.
- Tác dụng gián tiếp: bức xạ ion hoá tác dụng lên các phân tử nớc (chiếm 85 -
95% trọng lợng tế bào) với ion H
+
, OH
-
, tạo ra các gốc tự do OH
, H
và các sản
phẩm oxy hoá mạnh nh H
2
O
2
chúng có khả năng hoạt động rất mạnh về mặt hoá
học, do đó nó công phá các phân tử sinh học làm thay đổi cấu trúc chức năng của
10
chúng. Nếu những tổn thơng hoá sinh không phục hồi đợc sẽ kéo theo những tổn th-
ơng chuyển hoá dẫn đến những tổn thơng hình thái và chức năng [7].
Công tác chọn giống và tạo giống mới có vai trò hết sức quan trọng trong việc
nâng cao năng suất và chất lợng cây trồng đặc biệt là cây lơng thực. Chính công tác
này đã đóng vai trò quyết định trong cuộc cách mạng xanh trong những năm 1960 ở
ấn Độ và nhiều nớc khác trên thế giới [7]. Một trong những thành tựu nổi bật nhất
của thế kỷ 20 là khám phá ra phơng pháp tạo giống bằng cách gây đột biến thực
nghiệm. Với kết quả của hơn 60 nớc đã thu đợc chứng tỏ đây là một phơng pháp có
hiệu quả để tạo giống mới.
Theo thống kê của tổ chức lơng thực và tổ chức năng lợng nguyên tử thế giới
(FAO/IAEA) năm 1960 chỉ có 7 giống cây trồng đột biến, năm 1975 có 145 giống,
năm 1992 có 1330 giống, năm 1997 có 1870 giống. Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ,
Liên Xô cũ là những nớc tạo ra nhiều giống bằng phơng pháp đột biến thực
nghiệm. Trong đó chủ yếu là cây lơng thực nh, lúa mạch không đổ Pallas; lúa
mạch thấp cây, chín sớm Mari (Thuỵ Điển); lúa mạch Vena chống bệnh gỉ sắt
(áo); lúa mì Inta sản lợng cao, chịu rét, rơm ngắn (Đức); lúa cho năng suất cao
(ấn Độ, Nhật Bản); lúa chống sâu bệnh, chịu thâm canh (A20, DT10, xuân số 5 -
Việt Nam); giống Tài nguyên ĐB - 100 không mẫn cảm với quang chu kỳ, thời gian
sinh trởng ngắn , năng suất và chất lợng cao (Việt Nam); giống đậu Hà Lan Strol
năng suất cao (Thuỵ Điển); giống đậu tơng Sanilak, Xiuei, Gretiot chín sớm,
chống nấm, chống bệnh đốm lá, không đổ (Mỹ); giống đậu tơng chín sớm, chống
nấm, hàm lợng protit, lipit cao (Nga, Đức, Mỹ); giống bông đột biến No.108 có bụi
dày, lá xanh đậm, chống đổ, chống bệnh giỏi, năng suất và chất lợng bông cao - nhờ
việc xử lý tia từ nguồn Co
60
với liều lợng 2000rad (Nga) [16, 17].
ở Việt Nam, các nghiên cứu và ứng dụng của phơng pháp gây đột biến thực
nghiệm vào chọn giống thực vật đã đợc bắt đầu khá sớm. Đó là vào năm 1966, tại
Bộ môn Di truyền học, Trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, với các nghiên cứu trên
cây lúa và cây đậu tơng (Vũ Nguyên Hiền, Trịnh Bá Hữu, Phan Phải, Trần Minh
Nam, Lê Duy Thành, Phạm Thành Hổ, Phạm Bá Phong, 1970; 1978; 1986; 1990 ).
Sau đó hớng nghiên cứu đã đợc triển khai ở nhiều cơ sở khác nh, Viện KHKTNN
Việt Nam (Trần Đình Long, Nuyễn Hữu Nghĩa ), Viện di truyền nông nghiệp
( Phan Phải, Trần Duy Quý, Nguyễn Hữu Đống, Hoàng Tuyết Minh ), Trờng Đại
học S phạm I Hà Nội (Nguyễn Minh Công, Lê Đình Trung ), Trờng Đại học Nông
nghiệp I (Lê Song Dự, Trần Tú Ngà, Đoàn Thị Thanh Nhàn ), Và nhờ vậy, cho
11
đến nay nớc ta có hàng chục giống mới đợc tạo ra bằng phơng pháp gây đột biến
thực nghiệm ở một số cây chồng, cho năng suất cao, chất lợng tốt và chống chịu đợc
các điều kiện bất lợi của môi trờng, nh giống lúa (A- 20, DT10, DT11, DT13, DT33,
Xuân số 5, Xuân số 6, Tép hành đột biến), giống lạc (V79, 4329, A329, DT332 ),
giống ngô (DT-6, DT-8 ), đậu tơng ( M103, DT83, DT84, DT90, V48 ), cà chua
(Hồng Lan ) [17, 25, 35].
Gần đây Nguyễn Minh Công và CS (1999) [4] đã tạo đợc giống Tám Thơm
đột biến không cảm quan, có thể cấy đợc cả hai vụ. Phạm Văn Chơng, 2001) [5]
cũng thông báo chọn tạo đợc ba giống lúa BM9855, LT2 và Khao 85 đột biến không
cảm quang, gieo cấy đợc cả hai vụ, có chất lợng gạo cao (hạt gạo trong, dài, ngon
cơm ), năng xuất khá. Riêng giống Khao 85 hiện nay là giống lúa duy nhất ở miền
Bắc Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế về gạo xuất khẩu chất lợng cao. Giống LT2 đ-
ợc xếp vào loại giống lúa đặc sản của Việt Nam .
Chơng 2. đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
2.1. đối tợng nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu tính đa hình ADN là 20 giống lúa Tám có nguồn gốc
khác nhau đợc trình bày ở bảng 2.
2. Đối tợng dùng nghiên cứu chọn dòng đột biến là 4 giống lúa: Tám Xoan,
Tám ấp Bẹ, Dự Thơm và Tẻ Di Hơng.
Tất cả các giống lúa này đợc Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật thuộc
Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp Việt Nam cung cấp.
- Nguồn chiếu xạ tia gamma từ nguồn Co
60
đợc tiến hành tại Trung tâm
chiếu xạ Quốc gia Từ Liêm, Hà Nội.
- Thiết bị sử dụng: máy ly tâm lạnh (Sigma), máy PCR (Thermal Cycler PTC
100 hãng MJ), máy điện di (Biorad), máy đo quang phổ Model 8425A (Hewlett
12
Packard), máy chụp ảnh Gel Doc (Pharmacia), máy chụp ảnh (Polaroid), dàn cây,
buồng tối và bình nuôi cấy.
Bảng 1: Đặc điểm nông học của các giống lúa nghiên cứu chọn dòng đột biến
Đặc điểm Tám Xoan
Tám ấp Bẹ
Dự Thơm Tẻ Di Hơng
Thời gian sinh
trởng (ngày)
160 - 165 165 - 168 155 158 142 - 145
Chiều cao cây
(cm)
140 - 145 137 - 140 140 145 125 - 130
Tổng số
hạt/bông
130 - 135 150 100 110 110 - 115
P. 1000 hạt (g)
20 - 21 21 - 22 24 25 21,2
Năng suất
(tạ/ha)
30 -32 35 - 41 - -
Phẩm chất gạo
và cơm
Hạt nhỏ, trong
và ngon cơm
Hạt nhỏ, ngon
và rất thơm
Cơm mềm,
dẻo và thơm
Cơm mềm,
dẻo và thơm
Đặc tính chống
chịu
Thân mềm,
chống đổ kém
Thân mềm,
chống đổ kém
Chống đổ
trung bình
-
Bảng 2: Nguyên liệu 20 giống lúa dùng để phân tích đa hình ADN
Số thứ tự Số đăng ký Tên giống
1 GB0310 Tám Thơm Hà Đông
2 GB0311 Tám Xoan Hải Dơng
3 GB0312 Tám Xoan Hải Dơng
4 GB0313 Tám Xoan Có Râu Hải Dơng
5 GB0314 Tám Xoan Bắc Ninh
6 GB0315 Tám Xoan
7 GB0316 Tám Nghệ Hạt Đỏ
8 GB0317 Tám Xoan Vĩnh Phúc
9 GB0318 Tám Nhỡ Bắc Ninh
10 GB0319 Tám Nhỡ Vĩnh Phúc
13
11 GB1048 Tám Xoan Hải Hậu
12 GB1252 Tám Chiêm Hà Nam
13 GB1253 Tám Thơm
14 GB1254 Tám Ngọc Vạch
15 GB1381 Tám Thơm Hồng Quảng B
16 GB2365 Tám Xoan
17 GB2373 Tám xoan
18 GB2375
Tám Thơm ấp Bẹ
19 GB5117 Tám Xuân Đài
20 GB5118 Tám Tiêu
2.2. phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp nghiên cứu theo sơ đồ thí nghiệm tổng quát sau:
14
Hạt các giống lúa
Tạo cây và thu lá
Tách ADN
Xử lý đột biến
Đánh giá đa hình
ADN bằng kỹ
thuật RAPD
Tái sinh cây và
xác định ngưỡng
xử lý đột biến
Tạo mô sẹo
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét