5
ro của tín dụng ngân hàng, từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp khả thi và
những điều kiện đồng bộ nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả họat động
tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre, nâng cao khả năng cạnh tranh trong bối
cảnh hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, góp phần tích cực thực hiện thành công
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội đòa phương trong giai đọan 2005-2010.
3.
Phương pháp nghiên cứu:
- Tham khảo các giáo trình giảng dạy, tài liệu, tạp chí, các văn bản pháp luật
của Việt Nam …có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Thu thập số liệu thống kê từ các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết họat
động của chi nhánh NHCT Bến Tre từ năm 2003 đến năm 2005.
- p dụng phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối, dùng lý luận để phân
tích, đánh giá thực tiễn.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các lý thuyết kinh tế học hiện đại cùng
với những tư tưởng và quan điểm đổi mới của Nhà nước Việt Nam về ngân hàng;
những quy đònh pháp luật hiện hành của Việt Nam về họat động tín dụng ngân
hàng; thực trạng công tác tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre trong 03 năm gần
đây (2003-2005)
5.
Những đóng góp của luận văn:
Luận văn thể hiện một cách tiếp cận mới để khái quát, hệ thống hóa những
căn cứ lý luận, thực tiễn về vai trò, tác động của tín dụng ngân hàng trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế quốc dân nói chung và kinh tế đòa phương nói riêng.
Luận văn nêu ra những quan điểm, phương hướng xác thực và đề xuất những
giải pháp có tính khả thi, với những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa chất
lượng, hiệu quả họat động tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre, nâng cao năng
lực cạnh tranh để phát triển bền vững trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
6
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
TRONG VIỆC THÚC ĐẨY KINH TẾ PHÁT TRIỂN
1.1.Tín dụng ngân hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến họat động tín dụng
của NHTM:
1.1.1.Khái niệm về tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa. Khái niệm tín dụng nói
chung có nguồn gốc từ thuật ngữ La tinh: Creditium có nghóa là sự tin tưởng, tín
nhiệm. Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hòan trả cả vốn và lãi sau
một thời gian nhất đònh, là quan hệ chuyểûn nhượng tạm thời quyền sử dụng một
lượng giá trò (tiền tệ hay hiện vật), là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi
(mang tính thỏa thuận). Chủ thể tham gia trong giao dòch tín dụng gồm một bên là
ngừơi cho vay (trái chủ) và một bên là người đi vay (người thụ trái).
Tín dụng có nhiều hình thức khác nhau. Nếu phân lọai tín dụng theo tính chất
hoặc chủ thể trong quan hệ tín dụng ta có: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại,
tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng. Nếu phân lọai tín dụng
theo phạm vi phát sinh tác dụng ta có: tín dụng trong nước, tín dụng quốc tế. Nếu
phân lọai tín dụng theo nội dung, thực chất, đặc điểm và phạm vi phát sinh của
nguồn vốn tín dụng ta có: tín dụng hàng hóa, tín dụng tiền tệ…
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói
chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong cho vay và đi vay giữa các ngân hàng,
các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác; là một nghiệp vụ
tài sản Có của ngân hàng, được thực hiện theo nguyên tắc :
• Vốn vay phải được hòan trả cả vốn gốc và lãi đúng hạn cam kết.
7
• Vốn vay phải đựơc sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng
tín dụng.
Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển trên cơ sở hình thành và phát triển
của nền sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa-tiền tệ; trải qua một quá trình phát
triển từ đơn giản đến phức tạp về kỹ thuật nghiệp vụ, về hình thức; từ phạm vi hẹp
đến phạm vi rộng lớn về không gian.
Họat động tín dụng ngân hàng có ba chức năng cơ bản là:
- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên nguyên tắc có hòan
trả. Chức năng này xuất phát từ hai nghiệp vụ cơ bản: huy động vốn tạm thời nhàn
rỗi và cho vay đối với những nhu cầu vốn đang tạm thời thiếu hụt. Chức năng này
có tác dụng làm tăng tốc độ chu chuyển vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn trong phạm
vi tòan xã hội
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội. Họat động tín
dụng tạo điều kiện cho sự ra đời các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu,
kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gởi ; các phương tiện thanh toán hiện đại như
thẻ ATM, thẻ tín dụng, …cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành, nhờ
đó làm giảm bớt các chi phí có liên quan như in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo
quản tiền và giảm rủi ro về tiền giả. Với sự họat động của tín dụng ngân hàng đã
mở ra một khả năng lớn trong việc mở tài khỏan và giao dòch thanh tóan thông qua
ngân hàng dưới các hình thức chuyển khỏan hoặc thanh toán bù trừ cho nhau.
- Chức năng phản ánh và kiểm sóat các họat động kinh tế thông qua các
quan hệ tín dụng với các tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân, xuất phát từ
nguyên tắc vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. Ngân hàng kiểm sóat được
quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng, còn người đi vay bắt buộc phải quan
tâm đến việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả để hòan trả nợ và lãi cho ngân hàng.
Với chức năng này, tín dụng ngân hàng góp phần ngăn chận các hiện tượng tiêu cực
8
như lãng phí, vi phạm pháp luật trong quá trình sử dụng vốn vay của các chủ thể
vay vốn.
Tín dụng ngân hàng có các hình thức cơ bản sau:
- Nếu phân chia theo thời hạn cho vay ta có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung
hạn, tín dụng dài hạn. Sự phân chia này có tính chất tương đối, mỗi nước có một
quy đònh về thời gian của từng lọai tín dụng. Ở Việt Nam, tín dụng ngắn hạn có thời
hạn cho vay tối đa đến 12 tháng, trung hạn là trên 12 tháng đến 60 tháng, dài hạn là
trên 60 tháng.
- Nếu phân chia theo mục đích sử dụng vốn ta có cho vay phục vụ sản xuất
kinh doanh, cho vay tiêu dùng…
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng ta có cho vay có bảo đảm
bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
- Nếu phân chia theo lọai hình, kỹ thuật nghiệp vụ cho vay-thu nợ ta có: cho
vay thông thường, cho vay luân chuyển theo hạn mức, thấu chi, cho vay hợp vốn, tài
trợ theo dự án, bao thanh tóan, cho thuê tài chính, bảo lãnh, chiết khấu các chứng từ
có giá…
Theo đà phát triển của nền kinh tế thò trường, các hình thức của tín dụng
ngân hàng ngày càng phong phú và hiện đại, vai trò của tín dụng ngân hàng ngày
một tăng lên. Ở nước ta thời gian qua cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý
từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thò trường có sự quản lý của Nhà nước đã
làm thay đổi cơ bản tính chất và vai trò của tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân
hàng không còn là kênh dẫn vốn của Chính phủ phục vụ các DNNN mà là công cụ
tài trợ cho các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác nhau. Môi trường và
điều kiện hoạt động của tín dụng ngân hàng cũng thay đổi:
9
- Vai trò của Ngân hàng đã trở về đúng chức năng của nó – trung gian tài
chính. Phương châm “đi vay để cho vay” đã được xác lập, nguồn vốn vay của
NHNN bò hạn chế.
- Đối tượng được vay vốn của NHTM không còn giới hạn ở các DNNN mà
được mở rộng cho tất cả các thành phần kinh tế khác. Hơn nữa trong cơ chế quản lý
mới, hoạt động của các DNNN cũng có những bước thay đổi cơ bản: mọi ưu đãi và
bao cấp của Nhà nước đã bò xoá bỏ, quyền tự chủ tự chòu trách nhiệm về tài chính
được xác lập.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến họat động tín dụng của NHTM:
Họat động tín dụng NHTM chòu ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản sau:
1.1.2.1. Yếu tố về điều kiện tự nhiên: Các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên
như vò trí đòa lý, khí hậu, thủy văn, tài nguyên thiên nhiên, tình trạng dân số (nguồn
nhân lực)…có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế và tín dụng ngân hàng. Nếu
một nước hay một tỉnh nằm trong vùng lạc hậu, chậm phát triển, vò trí đòa lý xa xôi,
cách trở với các nước/các tỉnh khác, giao thông- liên lạc không thuận tiện thì việc
phát triển kinh tế vô cùng khó khăn. Từ đó họat động tín dụng ngân hàng cũng
không có môi trừơng thuận lợi để phát triển.
1.1.2.2. Yếu tố về môi trường kinh tế trong nước: môi trường kinh tế bò chi
phối bởi chính sách kinh tế vó mô của Nhà nước (ở các quốc gia có sự tham gia
điều tiết kinh tế của Nhà nước-cơ chế bàn tay hữu hình), hay bò chi phối bởi các quy
luật của thò trường như quy luật cung-cầu (cơ chế bàn tay vô hình không có sự điều
tiết của Nhà nước), hoặc bò chi phối bởi cả chính sách kinh tế vó mô của nhà nước
và các quy luật của thò trường (kết hợp bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình). Với
chính sách phát triển kinh tế đúng đắn sẽ cho phép khai thác được các tiềm năng,
thế mạnh, nguồn lực của đất nước, tranh thủ được các cơ hội do môi trường hòa
nhập kinh tế quốc tế mang lại đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và
10
bền vững. Như vậy, nếu môi trường kinh tế tạo được điều kiện thuận lợi cho họat
động của tất cả các thành phần kinh tế thì họat động tín dụng ngân hàng cũng sẽ
tăng trưởng an tòan và hiệu quả. Trình độ phát triển kinh tế của một nước hay một
đòa phương quyết đònh cả cung và cầu về tín dụng ngân hàng. Nghiên cứu về thò
trường vốn sẽ thể hiện rõ sự ảnh hưởng mạnh mẽ của trình độ phát triển kinh tế đến
họat động tín dụng ngân hàng. Chẳng hạn, nếu như nền kinh tế của Bến Tre phát
triển mạnh thì tích lũy sẽ lớn, tạo nguồn vốn cho tín dụng ngân hàng; đồng thời sản
xuất kinh doanh phát triển sẽ xuất hiện nhiều nhu cầu đầu tư cần cả vốn cố đònh lẫn
vốn lưu động, nghóa là tạo ra “cầu về tín dụng” với những dự án khả thi.
1.1.2.3. Yếu tố về môi trường điều kiện quốc tế: họat động tín dụng ngân
hàng không chỉ chòu tác động của yếu tố môi trường kinh tế trong nước mà còn chòu
tác động của những yếu tố môi trường, điều kiện quốc tế, đặc biệt là trong điều
kiện hội nhập kinh tế thế giới. Họat động tín dụng ngân hàng đặc biệt nhạy cảm với
những biến động chính trò-kinh tế-xã hội xảy ra trên phạm vi quốc tế do ảnh hưởng
dây chuyền giữa các nước. Họat động của các ngân hàng luôn phải đối diện với
nguy cơ xảy ra những cú sốc từ bên trong (như sự thay đổi không mong muốn về
cầu tiền, đầu tư và tiết kiệm trong dân chúng) cũng như những cú sốc từ bên ngòai
(như khủng hỏang kinh tế, chiến tranh…)
Sự hội nhập với khu vực và quốc tế đã mang lại cho các ngân hàng Việt
Nam cơ hội hợp tác quốc tế và tiếp cận với các nguồn vốn đa dạng để đáp ứng tốt
hơn nhu cầu vốn cho nền kinh tế (đặc biệt là nguồn vốn dài hạn), có điều kiện tranh
thủ công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và đào tạo đội ngũ cán bộ; đồng thời
các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những thách thức lớn về vấn đề phòng
ngừa, hạn chế rủi ro và cạnh tranh.
1.1.2.4. Yếu tố trình độ quản lý, điều tiết vó mô và quản lý họat động tín
dụng ngân hàng của Nhà nước: Hiệu quả-an tòan-bền vững luôn là mục tiêu chính
11
của mỗi đònh chế tài chính. Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những yêu cầu
quan trọng đặt ra là cần phải có một hệ thống giám sát tài chính-ngân hàng hữu
hiệu. Đây cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng tài chính
quốc tế nói chung và hệ thống ngân hàng-tài chính Việt Nam nói riêng.
Những lý do để họat động tín dụng ngân hàng trở thành đối tượng quản lý
chính của Chính Phủ là:
• Bảo đảm sự an tòan cho các khỏan tiết kiệm của công chúng.
• Kiểm sóat mức cung ứng tiền tệ và tín dụng, phục vụ mục tiêu kinh tế chung
của quốc gia (như giải quyết nạn thất nghiệp, kiểm sóat lạm phát).
• Bảo đảm sự bình đẵng và công khai trong việc tiếp cận các khỏan tín dụng
của dân chúng.
• Tăng cường lòng tin của dân chúng đối với hệ thống tài chính, đảm bảo các
khỏan tiết kiệm được tập trung cho đầu tư sản xuất .
• Ngăn chận sự tập trung tiềm lực tài chính vào tay một số ít cá nhân hay tổ
chức.
• Cung cấp cho Chính Phủ các khỏan tín dụng.
• Trợ giúp các khu vực của nền kinh tế có nhu cầu tín dụng đặc biệt (như hộ
gia đình, doanh nghiệp nhỏ và nông nghiệp)
Tuy nhiên, sự quản lý của Chính Phủ phải cân đối và có giới hạn, đảm bảo
quyền tự chủ trong kinh doanh của các ngân hàng, để các ngân hàng có thể duy trì
và phát triển sứùc cạnh tranh trong một thò trường hướng tới cạnh tranh hòan hảo.
Thực tiễn nước ta thời gian qua đã chứng minh các nhân tố như đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và trình độ quản lý, điều tiết vó mô của Nhà nước
trong từng thời kỳ đều có liên quan đến họat động tín dụng ngân hàng. Mặt khác,
chất lượng và hiệu quả của họat động tín dụng ngân hàng cũng chòu sự tác động từ
phía cơ chế thanh tra của NHNN với NHTM. Tuy nhiên, theo nhận đònh chung của
12
các chuyên gia kinh tế thì các chính sách của Việt Nam luôn có độ trễ, chậm phát
huy tác dụng.
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế kế họach hóa tập
trung sang cơ chế thò trường và hội nhập kinh tế quốc tế, các cơ chế, chính sách về
tiền tệ, ngân hàng và thanh tra, giám sát ngày càng được hòan thiện, phù hợp hơn
với thực tiễn Việt Nam cũng như các thông lệ, chuẩn mực quốc tế nhằm tạo môi
trường thuận lợi cho ổn đònh kinh tế vó mô, tăng trưởng kinh tế, đồng thời hạn chế
rủi ro, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng.
1.1.2.5. Yếu tố môi trường pháp lý: kinh doanh tiền tệ nói chung và họat
động tín dụng ngân hàng nói riêng là lọai hình kinh doanh đòi hỏi rất khắt khe về
sự hòan thiện môi trường pháp lý.
Hành lang pháp lý cho họat động tín dụng ngân hàng không chỉ là những văn
bản quy đònh cụ thể về nghiệp vụ tín dụng mà còn có nhiều văn bản pháp quy khác
có liên quan. Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, công tác kiểm tra, giám sát
thi hành luật kém hiệu quả sẽ là một trở ngại rất lớn đối với họat động tín dụng
ngân hàng. Ở Việt Nam thời gian qua, họat động tín dụng ngân hàng bò chi phối bởi
rất nhiều văn bản luật như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật dân sự, Luật đất đai,
Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã…, ngòai ra còn
phải tuân thủ các quy đònh của Thống đốc NHNN Việt Nam về cho vay, bảo lãnh
ngân hàng, các biện pháp bảo đảm tiền vay, công tác thông tin phòng ngừa rủi ro,
phân lọai nợ và trích lập dự phòng rủi ro…
Trong bối cảnh ngành ngân hàng ngày càng mở cửa, tự do hóa sâu rộng để
hội nhập, mức độ cạnh tranh trong lónh vực họat động ngân hàng sẽ trở nên quyết
liệt hơn. Tuy nhiên, cho đến nay, ngòai những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lónh vực ngân hàng được quy đònh tại điều 16 Luật các tổ chức tín dụng và
công văn số 339 ngày 07/4/2004 của NHNN Việt Nam thì Việt Nam vẫn chưa có
13
những quy đònh khác cụ thể hơn về vấn đề này. Trong khi đó, Luật Cạnh tranh và
Nghò đònh 116/2005/NĐ-CP quy đònh chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh
tranh đã có hiệu lực thi hành gần 01 năm, bao gồm rất nhiều quy đònh về cạnh tranh
liên quan đến lónh vực ngân hàng. Vì vậy, vấn đề cấp bách trước ngưỡng của gia
nhập WTO của ngành ngân hàng Việt Nam chính là sớm xây dựng một khung pháp
lý cụ thể, đưa ra những hướng dẫn chi tiết hơn các quy đònh đã được nêu trong Luật
Cạnh tranh để quản lý họat động cạnh tranh đang ngày càng tăng, hạn chế tối đa
cạnh tranh không lành mạnh trong lónh vực ngân hàng nhằm đảm bảo một sân chơi
công bằng cho các thành viên thò trường.
1.1.2.6. Một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến họat động tín
dụng ngân hàng chính là khách hàng. Trong họat động tín dụng ngân hàng, khách
hàng được coi như người bạn gần gũi, tạo nên môi trường thuận lợi, ổn đònh để
ngân hàng trở thành một trung gian tài chính quan trọng đối với nền kinh tế. Đương
nhiên, đó phải là những khách hàng “có chất lượng”, thể hiện ở uy tín, đạo đức tốt
trong kinh doanh cũng như trong đời sống cá nhân, năng lực SXKD, năng lực tài
chính và tiềm năng phát triển của họ bởi vì tất cả những rủi ro từ phía khách hàng
đều là rủi ro của ngân hàng. Chính vì vậy, hầu như tất cả các NHTM đều xác đònh
phương châm họat động của mình là “Vì sự thành đạt của khách hàng”.
1.1.2.7. Yếu tố nội tại của bản thân NHTM: về phía NHTM cũng phải có
thương hiệu tốt, có uy tín để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội đủ cung ứng
cho nền kinh tế. NHTM phải có chính sách tín dụng phù hợp với môi trừơng kinh
doanh từng thời kỳ, có cẩm nang tín dụng được thiết kế khoa học, dễ dàng bổ sung
điều chỉnh khi cần thiết, có quy trình quản lý tín dụng chặt chẽ bằng văn bản, có trụ
sở khang trang với các thiết bò làm việc hiện đại; phải thay đổi tư duy lạc hậu để có
phương pháp quản lý tiên tiến, phù hợp nhằm mở rộng và đa dạng hóa các lọai hình
tín dụng. Điều quan trọng là NHTM phải có đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, am
14
hiểu chính sách tín dụng và quy trình tín dụng, quy trình huy động vốn; năng lực
trình độ cán bộ ngân hàng phải tương thích với trình độ công nghệ.
Các yếu tố trên có quan hệ mật thiết với nhau, đều có tác động và ảnh hưởng
rất lớn đến họat động tín dụng ngân hàng.
1.2. Những yêu cầu đặt ra đối với tín dụng ngân hàng trong việc góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế:
Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ của một quốc gia là phát triển kinh
tế, gia tăng sản lượng, tạo công ăn việc làm và kiểm soát lạm phát. Chính sách tiền
tệ của quốc gia phải đảm bảo giữ cho quan hệ cung-cầu về vốn tín dụng đạt được
điểm tòan dụng, đảm bảo cho vai trò của tín dụng ngân hàng được phát huy nhằm
kích thích, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do đó, yêu cầu quan trọng có tính bao trùm
đối với tín dụng ngân hàng là phát huy mạnh mẽ vai trò cầu nối giữa tiết kiệm và
đầu tư, huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế, thực hiện tốt phương châm “đi
vay để cho vay”, góp phần tạo vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao. Các NHTM
phải thể hiện được khả năng vượt trội của một đònh chế trung gian tài chính trong
việc giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng trên thò trừơng tài chính, tạo ra kinh tế
quy mô (Economy of scale) thông qua việc tập trung những khỏan tiết kiệm có quy
mô nhỏ của từng cá nhân thành đồng vốn sinh lời, đa dạng hóa các nghiệp vụ sử
dụng vốn từ đó phân tán rủûi ro, giảm chi phí giao dòch của xã hội, mang lại lợi ích
cho cả ngừơi tiết kiệm lẫn ngừơi đi vay.
Về huy động vốn: phải làm cho tín dụng ngân hàng đủ sức khơi trong, hút
ngòai. Phải khai thác tối đa vốn trong nước, thu hút qua kênh tín dụng ngân hàng
bằng nhiều biện pháp và hình thức huy động. Cần hòan thiện và phát triển thò
trừơng vốn để các NHTM và các doanh nghiệp, dân cư có nơi để mua bán quyền sử
dụng vốn. Ngành ngân hàng phải tạo được lực hướng tâm của các dòng vốn nước
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét