Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

5
để tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu,
thích nghi nhanh hơn với các thay đổi trên thị trường thế giới… FDI có
vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.
FDI có lợi thế là có thể được duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một
nền kinh tế còn ở mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát
triển rất cao. Vốn ODA thường được dành chủ yếu cho những nước kém
phát triển, sẽ giảm đi và chấm dứt khi nước đó trở thành nước công
nghiệp, tức là bị giới hạn trong một thời kỳ nhất định. FDI không phải
chịu giới hạn này, nó có thể được sử dụng rất lâu dài trong suốt quá trình
phát triển của mỗi nền kinh tế.
Với những ưu thế quan trọng như trên ngày càng có nhiều nước coi
trọng FDI hoặc ưu tiên, khuyến khích tiếp nhận FDI hơn các hình thức
đầu tư nước ngoài khác.
2. Một số hạn chế:
Bên cạnh những mặt tích cực, FDI có thể gây ra những bất lợi
cho nước tiếp nhận:
Việc sử dụng nhiều vốn đầu tư FDI có thể dẫn đến việc thiếu chú
trọng huy động tối đa vốn trong nước, gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu
đầu tư , có thể gây nên sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn đầu tư
nước ngoài.
Do đó, nếu tỷ trọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát
triển thì tính độc lập tự chủ có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển
có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếu vững chắc.
Đôi khi doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách
6
cạnh tranh bằng con đường bán phá giá, loại trừ đối thủ cạnh tranh khác,
độc chiếm hoặc khống chế thị trường, lấn áp các doanh nghiệp trong
nước.
Thực tế đã cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối
tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc
hậu, đã qua sử dụng, hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lý, gây ra thiệt
hại to lớn cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của
các doanh nghiệp có vốn nước ngoài gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về
kinh tế- xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân
hóa trong các tầng lớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển giữa
các vùng.
Với những mặt bất lợi của FDI, nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy
đủ và có các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế, giảm
thiểu những tác động tiêu cực này và sử lý hài hòa mối quan hệ của
nhà đầu tư nước ngoài với lợi ích quốc gia để tạo nên lợi ích tổng thể tích
cực.
III. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Xét theo mục đích đầu tư FDI đựơc phân thành 2 loại: đầu tư
theo chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc:
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc 1 công
ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ
đang có lợi thế cạnh tranh. Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận
cao hơn ở nước ngoài.
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: khác với hình
thức đầu tư theo chiều ngang, hình thức đầu tư theo chiều dọc với mục
đích khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như
7
lao động, đất đai của nước nhận đầu tư . Đây là hình thức khá phổ biến
của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển.
Xét về hình thức sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có
các hình thức sau:
-Hình thức doanh nghiệp liên doanh: đây là hình thức đầu tư trực
tiếp nước ngoài, hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào
doanh nghiệp liên doanh là 1 pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên
doanh là một pháp nhân độc lập. Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn quy
định vào liên doanh thì dù 1 bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn
tồn tại.
-Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: đây là doanh nghiệp
thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình
thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước
ngoài thành lập, tự quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng các công
ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Vốn pháp định cũng như vốn đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài
đóng góp, vốn pháp định ít nhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp.
-Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh
doanh: đây là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác
kinh doanh được ký kết giữa hai hay nhiều bên(gọi là các bên hợp tác
kinh doanh)để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước
nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh
doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh
hoặc pháp nhân mới. Hình thức này không làm hình thành một công ty
hay một xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân
độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nước nhà.
8
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng,
các công trình xây dựng còn có hình thức:
- Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT) : là một
phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký
kết giữa nhà đầu tư nước ngoài(có thể là tổ chức, cá nhân nước
ngoài)với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà.
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh : là phương thức
đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh
công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể
dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn
nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
. Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT) : là một phương thức đầu
tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà
tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi
vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
IV.Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Ôn định chính trị: đây là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với nhà đầu tư
nước ngoài, vì có ổn định chính trị thì các cam kết của chính phủ nước
9
chủ nhà đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu
tiên, định hướng phát triển mới được đảm bảo. Đây là những vấn đề có
thể nói là được nhà đầu tư quan tâm nhất vì nó tác động rất mạnh đến yếu
tố rủi ro trong đầu tư. Nếu nước chủ nhà có một hệ thống chính sách đầy
đủ và hợp lý, đảm bảo sự nhất quán về chủ trương thu hút đầu tư cũng
sẽ là những yếu tố quan trọng, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: đó là đặc điểm khí hậu,
tài nguyên thiên nhiên, dân số, vị trí địa lý gần… Đây cũng là những yếu
tố tác động nhiều đến tính sinh lãi hoặc rủi ro trong đầu tư.
Trình độ phát triển của nền kinh tế và đặc điểm phát triển của nền
văn hóa xã hội: đây được coi là các yếu tố quản lý vĩ mô, điều kiện cơ sở
hạ tầng, chất lượng cung cấp các dịch vụ. Sự thuận lợi hay không thuận lợi
về ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán đều có thể trở thành sự khuyến
khích hay kìm hãm việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài những
nhân tố trên còn những nhân tố có tác dụng tăng khả năng thu lợi nhuận
cho các nhà đầu tư, đó là:
Nhân tố lãi suất: do một dự án đầu tư, chi phí và doanh thu được
thực hiện ở những thời điểm khác nhau. Để so sánh doanh thu và chi
phí trong điều kiện tiền có giá trị biến đổi theo thời gian, các nhà đầu tư
đã sử dụng lãi suất để tính chuyển các dòng tiền về mặt bằng thời gian
hiện tại. Như vậy, nếu lãi suất càng tăng thì lợi nhuận thu được từ hoạt
động đầu tư càng giảm. Do đó mức lãi suất thấp là một trong những yếu
tố khuyến khích người có tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh
hơn là gửi tiền vào ngân hàng.
Chi phí sản xuất cũng là những yếu tố mà các nhà đầu tư quan
tâm, bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí nhân công và chi phí
cho các dịch vụ hỗ trợ sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất
giảm thì lợi nhuận sẽ tăng tại mọi mức lãi suất. Trong hoạt động đầu tư
10
trực tiếp nước ngoài, có một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chi phí
sản xuất tại nước nhận đầu tư, đó là tỷ giá hối đoái. Nếu đồng tiền của
nước nhận đầu tư tăng giá, chi phí sản xuất ở đây sẽ tăng, chi phí tăng
thì lợi nhuận giảm, đó là nhân tố làm giảm quy mô đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
V.Sự cần thiết của vốn FDI
Lịch sử phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy thái
độ của nước tiếp nhận đầu tư từ thái độ phản đối, đến thái độ buộc phải
chấp nhận, đến thái độ hoan nghênh. Trong điều kiện thế giới hiện nay đầu
tư trực tiếp nước ngoài được mời chào, khuyến khích mãnh liệt. Trên thế
giới thực chất diễn ra trào lưu cạnh tranh quyết liệt trong việc thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Sở dĩ hầu hết các nước đang phát triển có nhu cầu lớn về đầu tư trực
tiếp nước ngoài là vì những lý do sau:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giải quyết có
hiệu quảnhững khó khăn về vốn cho công nghiệp hoá.Đối với các nước nghèo,
vốn đuợc xem là yếu tố cơ bản,là điều kiện khởi đầu quan trọng để thoát khỏi
đói nghèo và phát triển kinh tế. Thế nhưng, đã là nước nghèo thì khả năng tích
luỹ vốn hay huy động vốn trong nước để tập trung cho các mục tiêu cần ưu tiên
là rất khó khăn, thị trường vốn trong nước lại chưa phát triển. Trong điều kiện
của thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá, nhìn chung các nước đang phát
triển đều gặp rất nhiều khó khăn: mức sống thấp, khả năng tích luỹ thấp, cơ sở
hạ tầng chưa phát triển, công nghệ kỹ thuật chưa phát triển, mức đầu tư thấp
nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để xâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc
tế, thiếu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới…
Giải pháp của các nước đang phát triển lúc này là tìm đến với các nguồn
đầu tư quốc tế. Nhưng trong số các nguồn đầu tư quốc tế thì vốn viện trợ tuy có
được một số vốn ưu đãi nhưng lại đi kèm với một số ràng buộc về chính trị, xã
hội, thậm chí cả về quân sự. Còn vốn vay thì thủ tục vừa khắt khe mà lại phải
chịu lãi xuất cao. Nguồn vốn đuợc đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn
đầu tiến hành công nghiệp hoá của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng thời họ hoàn toàn chịu
11
trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra,do đó truớc khi đầu tư thì
họ buộc phải tính toán kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án .Hay
nói cách khác,các nhà đầu tư chỉ xin phép và triển khai dự án khi họ tính toán
thấy độ rủi ro ít và khả năng thu lợi cao. Đây là ưu thế hơn hẳn của loại vốn đầu
tư trực tiếp so với các loại vôn vay khác.
Thứ hai, Một đặc điểm tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển là
sự lạc hậu và thiếu thốn công nghệ và kỹ thuật. Thông qua các dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận được những kỹ thuật
mới, những công nghê tiên tiến, góp phấn cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, phát
triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Đồng thời, tạo ra các
điều kiện kinh tế kỹ thuật cho việc thực hiện cuộc cải biến cơ cấu kinh tế theo
hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
Thứ ba,các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thu hút một lượng lớn
lao động trực tiếp và tạo ra nhiều việc làm cho các dịch vụ tương ứng. Thông
qua việc thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể làm đội ngũ cán
bộ của nước nhận đầu tư qua việc tham gia vào hoạt động của liên doanh mà
trưởng thành hơn về năng lực quản lý phù hợp với nền sản xuất hiện đại; hình
thành một lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề; tăng nguồn thu cho ngân
sách…
Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài có các điều kiện cần thiết cho việc tạo
lập một hệ thống thị trường phù hợp với yêu cầu của một nền sản xuất công
nghiệp hoá, tiếp cận và mở rộng được thị trường mới, tăng cường quan hệ hợp
Hình thành được các khu chế xuất, khu công nghiêp chủ lực; tạo ra các điều
kiện cơ bản cho tiến trình công nghiệp hoá.
PHẦN 2
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI VIÊT NAM.
12
Nhiều tổ chức tài chính, chuyên gia kinh tế nước ngoài nhận định, năm 2010
nguồn vốn FDI vào Việt Nam có nhiều triển vọng sáng sủa, gắn với sự gia tăng
lòng tin và cơ hội kinh doanh mới của các dự án FDI.
Đứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung Chỉ số niềm tin FDI, Việt Nam
được báo cáo của A.T. Kearney xếp ở vị trí thứ 93 về mức độ thông thoáng của
môi trường kinh doanh (Ease of Doing Business Ranking). Trong số các nước
Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng Chỉ số niềm tin FDI 2010, Việt Nam
đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20) và Singapore (vị trí 24).Mới
đây, Tập đoàn tài chính đầu tư Goldman Sachs (Hoa Kỳ) đã xếp Việt Nam nằm
trong nhóm 11 nước (N11) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong năm
2010, mở ra những cơ hội cho các nhà đầu tư và là địa chỉ đầu tư tốt cho các nhà
đầu tư thế giới trong các năm tiếp theo, do gắn với các lợi thế về số dân lớn và
đang tăng nhanh (Việt Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới với 86 triệu dân
và 65% dân số ở độ tuổi dưới 35); khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và tiềm lực
tiêu dùng của người dân; nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như dầu mỏ và
các nguyên liệu quý, cùng với tiềm lực lớn về tăng trưởng kinh doanh và tăng
trưởng tiêu dùng khác…Cơ quan Thương mại và đầu tư Vương quốc Anh dựa
trên khảo sát hơn 500 quan chức cao cấp của các công ty từ gần 20 ngành kinh
doanh khác nhau, cũng khẳng định, nếu không tính tới nhóm BRIC (Brazil, Nga,
Ấn Độ, Trung Quốc), thì Việt Nam hấp dẫn nhất trong hai năm liên tục trong số
15 nước đang trỗi dậy, được xếp theo thứ tự gồm có: Việt Nam, Tiểu vương quốc
Ảrập Thống nhất, Mexico, Nam Phi, Malaysia, Indonesia, Singapore, Thổ Nhĩ
Kỳ, Philippines, Saudi Arabia, Ukraine và Ba Lan.
Việc FDI vào Việt Nam trong năm 2009 giảm không phản ánh thái độ của
nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường này, vì bản thân các tập đoàn trên thế giới
cũng gặp rất nhiều khó khăn trong cơn bão tài chính vừa qua. Trong khi đó,
Chính phủ Việt Nam rất ưu ái, tạo nhiều điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Đây là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam thu hút đầu tư trong những năm tới. Lĩnh
vực thu hút FDI vào Việt Nam phát triển mạnh trong năm 2010 gồm: dịch vụ y tế,
sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ tài chính, ngành năng lượng, đặc biệt là năng
lượng sạch than thiện với môi trường, ngành công nghệ cao.
Trên thực tế, FDI vào Việt Nam năm 2010 đang có những động thái tích cực
mới, với sự cải thiện khá rõ về quy mô vốn đăng ký/dự án, cơ cấu vốn đăng ký và
mức giải ngân thực tế…
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 900
triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân trong 4 tháng đầu năm
2010 lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ năm 2009. Trung bình, giải
ngân vốn FDI đạt khoảng 850 triệu USD/tháng. Đây là mức khá cao và tương
đương giải ngân vốn FDI giai đoạn trước suy thoái kinh tế (năm 2009 Việt Nam
thu hút FDI đạt 21,48 tỷ USD, bằng 24,6% so với năm 2008, nhưng trong 2 năm
2008-2009, vốn FDI đăng ký và tăng thêm khoảng 85,5 tỷ USD, vượt mức 83,1 tỷ
13
USD của cả 20 năm trước đó. Trong năm 2009, có 839 dự án FDI đăng ký cấp
mới với số vốn đạt 16,3 tỷ USD – tương ứng giảm 46,1% số dự án và 75,4% về
vốn so với năm 2008 – và số lượt dự án tăng vốn đạt 215 lượt, với số vốn đạt 5,1
tỷ USD, giảm không đáng kể so với năm 2008; còn số vốn thực hiện đạt ở mức
khoảng 10 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008. Theo đó, khoảng cách giữa vốn
đăng ký và vốn thực hiện đã giảm hơn so với năm trước. Tỷ lệ giữa vốn đăng ký
và vốn thực hiện năm 2007 là 37,56%, năm 2008 giảm xuống còn 16%, thì năm
2009 đã tăng lên 46,55%). Trong tổng số vốn đăng ký mới tính từ 1/1/2010 –
20/4/2010 là 5,9 tỷ USD (tương đương 74,3% so với cùng kỳ năm 2009), thì có
5,6 tỷ USD vốn của 263 dự án đăng ký mới, tuy giảm 19,6% về số dự án, nhưng
tăng 58,5% về vốn cấp mới so với cùng kỳ năm 2009. Ngoài ra, có tới 92 lượt dự
án đang triển khai xin tăng vốn 325 triệu USD. Nhiều dự án chậm trễ triển khai vì
tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng được các nhà đầu tư cam kết
khởi động ngay đầu năm nay.
Trong 31 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam 4 tháng đầu năm
nay, các vị trí đầu bảng đã có sự thay đổi cả về đối tác đầu tư và lượng vốn đăng
ký. Từ chỗ không có đối tác nào đạt tổng vốn đăng ký đầu tư quá 1 tỷ USD tại
báo cáo tháng trước, đến nay đã có 3 đối tác vượt chỉ tiêu này: Hà Lan chỉ thêm 1
dự án cấp mới trong tháng đã thế chỗ Hoa Kỳ giành vị trí “quán quân”, với trên
2,15 tỷ USD vốn đăng ký. Nhật Bản từ vị trí thứ 8 đã lên thứ nhì, với 1,1 tỷ USD
vốn đăng ký, Hoa Kỳ đứng thứ 3 với 1,02 tỷ USD… (Hoa Kỳ từng là nhà đầu tư
lớn nhất tại Việt Nam với số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD, chiếm 45,6% tổng vốn đầu
tư vào Việt Nam năm 2009), Hàn Quốc, Quần đảo Virgin (Anh), Singapore…
Trong năm 2008, đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào ngành
công nghiệp, đạt 912 dự án cấp mới với 35,6 tỷ USD (chiếm 58,6% và 53,4%
tổng số dự án và vốn cấp mới), trong đó ngành công nghiệp chế biến đạt mức cao
nhất với 764 dự án cấp mới và 35 tỷ USD (chiếm 49% tổng số dự án và 52,7%
tổng số vốn cấp mới). Bước sang năm 2009, dòng vốn tập trung vào các ngành
dịch vụ, đặc biệt là kinh doanh bất động sản và lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn
uống. Số dự án cấp mới ngành dịch vụ năm 2009 đạt 498 dự án với 13,2 tỷ USD
(tương ứng chiếm 59,3% và 81,2% tổng số dự án cấp mới và vốn FDI), trong khi
ngành công nghiệp chỉ đạt 325 dự án với 3,0 tỷ USD (tương ứng chiếm 38,7% và
18,3%). Năm 2010, Việt Nam sẽ chọn lọc để hướng dòng vốn FDI vào những
lĩnh vực quan trọng, ưu tiên, như công nghiệp phụ trợ, phát triển cơ sở hạ tầng,
phát triển nguồn nhân lực, chế biến nông sản, dịch vụ có giá trị gia tăng cao,
ngành sản xuất tiết kiệm năng lượng và các ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn…
Theo Tổng cục Thống kê, tính chung quý I/2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam đạt 14 tỷ đô la Mỹ, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó, kim
ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt hơn 8 tỷ đô la Mỹ, tăng 29,3%,
nhập khẩu khoảng 7,1 tỷ đô la Mỹ. Còn nếu không kể dầu thô, trong 4 tháng đầu
năm 2010, khối các doanh nghiệp FDI xuất khẩu 4,13 tỷ USD, tăng 35,7% so với
cùng kỳ 2009 và nhập siêu khoảng 60 triệu USD…
14
Tính đến hết quý III năm 2010, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã giải ngân được 8.05 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2010. Xuất
khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) 9 tháng đầu năm dự kiến đạt 27,4 tỷ
USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ và chiếm 53,1% tổng xuất khẩu cả nước. Nếu
không tính dầu thô, khu vực ĐTNN dự kiến xuất khẩu 23,7 tỷ USD, chiếm 45,9%
tổng xuất khẩu và tăng 40,1% so với cùng kỳ 2009. Nhập khẩu của khu vực
ĐTNN 9 tháng đầu năm dự kiến đạt 25,7 tỷ USD, tăng 42,4% so với cùng kỳ và
chiếm 42,8% tổng nhập khẩu cả nước. Trong 9 tháng đầu năm, khu vực ĐTNN
xuất siêu 1,7 tỷ USD, trong khi cả nước nhập siêu 8,6 tỷ USD; nếu không tính
xuất khẩu dầu thô, khu vực ĐTNN nhập siêu trên 2 USD, chiếm 23,5% giá trị
nhập siêu cả nước. Như vậy, để giải quyết tình trạng nhập siêu, trong các tháng
cuối năm cần chú trọng thực hiện các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu đối với khu
vực trong nước.
Tình hình cấp GCNĐT:
Theo các báo cáo nhận được, trong 9 tháng đầu năm 2010 cả nước có 720 dự án
mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 11,4 tỷ USD, tăng 37,3% so với
cùng kỳ 2009.
Trong 9 tháng đầu năm 2010, có 153 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn
đăng ký tăng thêm là 783 triệu USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm 2009. Đã
xuất hiện một số dự án giảm quy mô vốn đầu tư như dự án Công ty TNHH phát
triển quốc tế thế kỷ 21 xây dựng khu tái định cư tại TP Hồ Chí Minh giảm trên 31
triệu USD; dự án Công ty TNHH TM và DV Siêu thị An lạc tại TP Hồ Chí Minh
giảm 6 triệu USD
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 9 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tư
nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,19 tỷ USD, bằng 87,3% so với
cùng kỳ 2009.
Theo lĩnh vực đầu tư:
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thế mạnh của các nhà ĐTNN
đã liên tục tăng cao trong các tháng gần đây. Với 275 dự án đầu tư được cấp mới,
tổng số vốn cấp mới trên 3 tỷ USD và 106 lượt dự án mở rộng quy mô sản xuất
kinh doanh, tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 653,6 triệu USD đưa lĩnh vực công
nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu, chiếm 30,2% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét