Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Thực trạng & Giải pháp đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của nghành dệt may VN

Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn đầu
t. Nếu không có sự đầu t thoả đáng sẽ không có tăng trởng kinh tế.
Kinh nghiệm các nớc cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu
kinh tế và hiệu quả đầu t trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng nh phụ thuộc
vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông thờng ICOR trong nông
nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ
yếu do tận dụng năng lực. Do đó, ở các nớc phát triển, tỷ lệ đầu t thấp thờng dẫn
đến tốc độ tăng trởng thấp.
d, Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ đất nớc
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên quyết
của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của nớc ta. Theo UNIDO,
Việt Nam đang là một trong 90 nớc kém nhất về công nghệ. Với trình độ công
nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp
rất nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát triển công nghệ
nhanh và vững chắc. Có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu
phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù là nghiên cứu hay
nhập từ nớc ngoài đều cần phải có vốn đầu t. Mọi phơng án đổi mới công nghệ
không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những phơng án không khả thi.
e, Đầu t và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu để tăng tr-
ởng nhanh nền kinh tế với tốc độ mong muốn là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra sự
phát triển ở khu công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ng nghiệp
do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt đợc tốc độ tăng tr-
ởng từ 5 - 6% là rất khó khăn nên đầu t quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình
trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế,
kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn
đạp thúc đẩy những cùng khác cùng phát triển
2.2. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Để tạo dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà
xởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị, tiến hành các công
tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong
một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa đợc tạo ra. Đó chính là hoạt động
đầu t. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời
gian hoạt động, các cơ sở vật chất - kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, h hỏng.
Để duy trì sự hoạt động bình thờng cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay
mới các cơ sở vật chất kỹ thuật đã h hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích
- 5 -
ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu
tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế
cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu t.
3. Nguồn vốn đầu t phát triển
Nguồn vốn đầu t là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối
vốn cho đầu t phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nớc và của xã
hội. Nguồn vốn đầu t bao gồm nguồn vốn đầu t trong nớc và nguồn vốn đầu t nớc
ngoài:
3.1. Nguồn vốn trong nớc
a, Nguồn vốn Nhà nớc
Nguồn vốn đầu t Nhà nớc bao gồm nguồn vốn của ngân sách Nhà nớc, nguồn
vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc và nguồn vốn đầu t phát triển của
doanh nghiệp Nhà nớc .
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nớc: Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà
nớc cho đầu t, là một nguồn vốn đầu t quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thờng đợc sử dụng cho các dự án
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các doanh
nghiệp đầu t vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nớc.
- Vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc: Cùng với quá trình đổi mới và
mở cửa, tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc ngày càng đóng vai trò đáng kể trong
chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc
giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nớc. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị
sử sụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu t của Nhà nớc còn phục vụ công tác quản lý và
điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu t, Nhà nớc thực hiện việc
khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hớng
chiến lợc của mình.
- Nguồn vốn đầu t của doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN): Đợc xác định là
thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các DNNN vẫn nắm giữ một khối
lợng vốn Nhà nớc khá lớn. Với chủ trơng tiếp tục đổi mới DNNN, hiệu quả hoạt
động của khu vực kinh tế này ngày càng đợc khẳng định, tích luỹ của các DNNN
ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu t toàn xã hội.
b, Nguồn vốn của khu vực t nhân
Nguồn vốn khu vực t nhân bao gồm: nguồn tiết kiệm của dân c, phần tích luỹ
của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Cùng với sự phát triển kinh tế
của đất nớc, một bộ phận không nhỏ trong dân c có tiềm năng về vốn do có
nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan, nguồn
- 6 -
vốn tiềm năng trong dân c không phải là nhỏ, tồn tại dới dạng vàng, ngoại tệ, tiền
mặt Trong những năm gần đây các loại hình doanh nghiệp dân doanh có
những bớc phát triển mạnh mẽ. Hoạt động đầu t từ khu vực này gia tăng mạnh.
3.2. Nguồn vốn nớc ngoài
Nguồn vốn đầu t nớc ngoài trên phạm vi rộng là dòng lu chuyển vốn quốc tế.
Về thực chất, các dòng lu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao
nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Theo tính chất lu chuyển vốn,
có thể phân loại các nguồn vốn nớc ngoài nh sau:
- Tài trợ phát triển chính thức (ODF) bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức
(ODA) và các hình thức tài trợ phát triển chính thức trong đó ODA chiếm tỷ
trọng chủ yếu.
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI).
- Nguồn huy động qua thị trờng vốn quốc tế.
a, Nguồn vốn ODA
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nớc
ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nớc đang phát triển thông qua hình thức
viện trợ không hoàn lại, viện trợ hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất u đãi, thời
gian đáo hạn dài. So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính u đãi cao hơn
bất cứ nguồn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện u đãi về lãi suất, thời hạn cho
vay dài, khối lợng vốn vay tơng đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố
không hoàn lại đạt ít nhất 25%. Mặc dù có tính u đãi cao, song sự u đãi cho loại
vốn này thờng đi kèm các điều kiện và ràng buộc tơng đối khắt khe (tính hiệu
quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trờng )
b, Nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) là vốn của các doanh nghiệp, các cá nhân
ngời nớc ngoài đầu t sang các nớc khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản
lý quá trình sử dụng và thu hồi các kết quả của quá trình đầu t. Đây là nguồn vốn
quan trọng cho đầu t và phát triển không chỉ đối với các nớc nghèo mà kể cả các
nớc công nghiệp phát triển. Nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài có đặc điểm
khác với các nguồn vốn nớc ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không
phát sinh nợ cho các nớc tiếp nhận. FDI mang theo toàn bộ tài nguyên kinh
doanh vào nớc nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt
là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế,
nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc nhận đầu t.
Đối với Việt Nam, FDI không những là nguồn bổ sung vốn quan trọng, mà
còn đóng góp vào việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế. Mặt khác, đóng góp cho ngân sách Nhà nớc của khu vực đầu
- 7 -
t nớc ngoài cũng đáng kể và góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh hệ thống cơ
sở hạ tầng, giao thông vận tải, bu chính viễn thông của đất nớc , góp phần thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế
II/ Lý luận về khả năng cạnh tranh
1. Khái niệm và các lý luận về cạnh tranh
1.1. Khái niệm
Cạnh tranh: cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những ngời,
những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích nh nhau
(1)
Xét theo quan điểm tổng hợp: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ
thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt đ-
ợc mục tiêu kinh tế của mình, thông thờng là chiếm lĩnh thị trờng, giành lấy khách
hàng cũng nh các điều kiện sản xuất, thị trờng có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của
các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với ngời
sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với ngời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự
tiện lợi
(2)
1.2. Các lý luận về cạnh tranh
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, cạnh tranh cũng đợc hiểu theo
nhiều cách khác nhau và đợc trình bày dới nhiều góc độ và sản sinh ra nhiều lý
luận về cạnh tranh
a, Lý luận cạnh tranh cổ điển
Một đại diện tiêu biểu cho trờng phái kinh tế học cổ điển, ngời đợc coi là
nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do kinh tế Adam Smith với học thuyết Bàn tay
vô hình đã chủ trơng tự do cạnh tranh. Ông cho rằng, cạnh tranh có thể phối
hợp kinh tế một cách nhịp ngàng, có lợi cho xã hội. Mặt khác, Smith cho rằng
cạnh tranh có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy lao động và điều tiết
việc phân phối t bản một cách hợp lý. Trong tác phẩm Của cải của các dân
tộc, Adam Smith chỉ ra rằng: Chỉ có thông qua tự do cạnh tranh một cách
phổ biến mới xác lập đợc một cách phổ biến sự quản lý tốt đẹp.
b, Lý luận cạnh tranh của trờng phái cổ điển mới
Vào nửa cuối thể kỷ XIX, các nhà kinh tế học thuộc trờng phái cổ điển mới
cho ra đời t tởng về thể chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo lấy thị trờng tự do hoặc
chế độ trao đổi làm cốt lõi.
(1)
Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà nẵng, 1998)
(2)
Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nớc ta trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tê, Nxb Chính trị Quốc gia, 2003
- 8 -
Trong điều kiện cân đối tổng quát của nền kinh tế có cạnh tranh hoàn hảo,
việc tăng một cách tối đa lợi nhuận của ngời sản xuất và thoả mãn nhu cầu của
ngời tiêu dùng phụ thuộc vào việc sử dụng một cách có hiệu quả nhất tài nguyên
kinh tế của đất nớc. Với thể chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, thu nhập và của cải
đợc phân phối rộng khắp, nên chính phủ không cần có kế hoạch chuyển thu nhập
từ tay giai cấp này sang tay giai cấp khác và dựa vào đó để tác động vào hoạt
động phân phối lại. Mô hình kinh tế cạnh tranh hoàn hảo của trờng phái cổ điển
mới là nền tảng cơ bản cho các học thuyết về cạnh tranh sau này.
c, Lý luận cạnh tranh của Các Mác
Lý luận cạnh tranh của C.Mác đợc thể hiện xuyên suốt hoặc trong lý luận giá
trị hoặc trong lý luận về t bản và giá trị thặng d. Theo Mác, sự tồn tại của lợi ích
đa nguyên quyết định mỗi chủ thể có lợi ích kinh tế riêng. Sự theo đuổi lợi ích
riêng ấy tạo nên động lực cạnh tranh. Cạnh tranh cũng gây ra sự tác động lẫn
nhau, nó điều tiết sự phân phối t bản và các tài nguyên kinh tế - xã hội giữa các
ngành sản xuất khác nhau, làm cho giá cả dao động, thúc đẩy phát triển kỹ thuật
sản xuất và thay đổi kết cấu tổ chức kinh tế, thúc đẩy lực lợng sản xuất xã hội
phát triển và nền kinh tế - xã hội tăng trởng. Theo Mác: cạnh tranh kinh tế là
sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá, là sự đối chọi giữa những ngời sản xuất hàng
hoá dựa trên thực lực kinh tế của họ". Trong điều kiện kinh tế hàng hoá, những
ngời sản xuất hàng hoá tồn tại độc lập, phân tán, có lợi ích riêng, cạnh tranh với
nhau trên thị trờng nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của mình.
d, Lý luận lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter
Michael Porter là nhà khoa học về quản lý nổi tiếng ở Mỹ, là một trong những
nhân vật có uy tín về sách lợc cạnh tranh quốc tế trên thế giới ngày nay. Porter đa ra
quan điểm về lợi thế cạnh tranh quốc gia. Porter cho rằng, của cải nhiều hay ít là do
năng suất của sản xuất quyết định. Cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải kiên trì
nâng cao năng suất sản xuất ngành bằng cách nâng cao chất lợng sản phẩm, làm nổi
bật nét đặc sắc của sản phẩm, cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Mặt khác, khi một nớc trực tiếp tham gia cạnh tranh quốc tế thì tiêu chuẩn về năng
suất đối với mỗi ngành trong nớc ấy không còn là tiêu chuẩn trong nớc nữa mà là tiêu
chuẩn quốc tế. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp trong nớc chẳng những phải cạnh
tranh với nhau trong nớc, mà còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp nớc ngoài.
2. Lý luận về khả năng cạnh tranh
2.1. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
a, Khái niệm và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Khái niệm: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt đợc tố độ tăng tr-
ởng cao và bền vững của nền kinh tế, thể hiện ở năng lực điều chỉnh chính sách
của Nhà nớc và khả năng thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp khi điều kiện cạnh
tranh trên thị trờng trong nớc và quốc tế thay đổi
(1)
(1)
Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung -
ơng, Bộ Kế hoạch và đầu t
- 9 -
* Các yếu tố cấu thành năng lực canh tranh của nền kinh tế
Cho đến năm 1999, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đánh giá năng lực cạnh
tranh quốc gia trên 8 nhóm tiêu chí với 155 chỉ tiêu, vừa kết hợp điều tra mẫu
từng nớc, vừa tham dò ý kiến của 1.500 công ty lớn trên thế giới. Tám nhóm tiêu
chí bao gồm:
(1) Quy mô và độ mở của nền kinh tế: bao gồm các chỉ tiêu nh thuế quan và
các hàng rào phi thuế quan, chính sách tỷ giá hối đoái
(2) Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, bao gồm: bu chính viễn thông, giao
thông, cơ sở hạ tầng khác
(3) Sự phát triển của hệ thống ngân hàng - tài chính: bao gồm khả năng thực
hiện ác hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả và cạnh tranh, rủi ro tài chính,
đầu t và tiết kiệm
(4) Trình độ phát triển của công nghệ: bao gồm chỉ số về năng lực phát triển
công nghệ trong nớc, khai thác công nghệ thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài,
hoặc phát triển công nghệ thông qua các kênh chuyển giao khác
(5) Vai trò và hiệu lực của Chính phủ, bao gồm: mức độ can thiệp của Nhà n-
ớc, năng lực của Chính phủ, qui mô của Chính phủ, thuế và mức độ trốn thuế,
chính sách tài khoá
(6) Các yếu tố về lao động, bao gồm các chỉ số về trình độ tay nghề và năng
suất lao động, độ linh hoạt của thị trờng lao động, hiệu quả của các chơng trình
xã hội
(7) Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
(8) Trình độ phát triển của thể chể, gồm các chỉ số về chất lợng các thể chế
pháp lý, các luật và các văn bản pháp qui khác
b, Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt đợc những kết quả khả quan
nh: Tăng trởng GDP ở nhịp độ cao (năm 2004 đạt tỷ lệ 7,7%); cơ cấu kinh tế tiếp
tục chuyển dịch theo hớng tăng tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ
trọng nông nghiệp. Tỷ lệ huy động vốn cho đầu t phát triển có xu hớng tăng (năm
2003 chiếm tới 35,6% và năm 2004 chiếm 36,3%), các nguồn lực trong xã hội đ-
ợc huy động tốt hơn, đặc biệt trong khu vực kinh tế t nhân; đầu t cho cơ sở hạ
tầng có tiến bộ; năng lực sản xuất của nhiều ngành tăng lên. Hoàn thiện luật pháp
thực hiện tính hiệu lực và minh bạch theo yêu cầu của cơ chế thị trờng và xu thế
hội nhập.
Bảng 1: bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh một số nớc
- 10 -
Quốc gia 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
(Số nớc đánh giá) 53 59 59 75 80 102 105
Việt Nam 39 48 53 62 65 40 55
Trung Quốc 28 32 41 47 33 38 46
Thái Lan 21 30 31 38 31 30 34
Malaisia 17 16 25 37 27 28 31
Indonesia 31 37 44 55 67 72 69
Nguồn: Kinh tế Việt Nam & Thế giới 2003-2004, Thời báo kinh tế Việt Nam và
Tạp chí Công nghiệp số 23/2004
Với những thành tựu kinh tế và sự ổn định chính trị đã đạt đợc trong những
năm gần đây, vị thế cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đã đợc cải thiện. Năm
1998, Việt Nam đã có bớc phát triển vợt bậc tăng 10 bậc so với năm 1997 (thứ
hạng 49). Nhng từ năm 1998 năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bị sụt giảm từ
39/53 nớc năm 1998 xuống 65/ 80 (năm 2002). Năm 2003, đã có sự thay đổi khi
thứ hạng năng lực cạnh tranh là 40/102 nớc, đó là dấu hiệu đáng mừng cho nền
kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển. Nhng nếu so sánh với một số n-
ớc trong khu vực, thứ hạng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn kém: năm
2001, Việt Nam thấp 7 bậc so với Indonesia, 15 bậc so với Trung Quốc, 24 bậc
so với Thái Lan và 25 bậc so với Malaysia. Đến năm 2003, khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế Việt Nam đã đợc nâng cao: tuy chỉ hơn Indonesia (xếp hạng 72)
nhng khoảng cách so với các nớc khác đợc rút ngắn: chỉ kém Trung Quốc 2 bậc,
Thái Lan 10 bậc và Malaysia là 12 bậc. Năm 2004 thứ tự xếp hạng năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam tụt 15 bậc so với năm 2003 do các yếu tố về năng
lực thể chế và môi trờng đầu t kinh doanh
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn thấp so với các nớc trong
khu vực là do chất lợng của tăng trởng kinh tế cha cao và cha vững chắc (nh hệ
số bảo hộ trong những năm gần đây còn cao, tăng trởng do yếu tố năng suất thấp
và giảm); cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, cha phát huy đợc các lợi thế so
sánh của ngành và sản phẩm: khu vực dịch vụ tuy đợc đầu t khá song tỷ trọng
tăng chậm trong cơ cấu GDP, hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất vừa
thiếu, vừa yếu và kém hiệu quả. Bên cạnh đó, mặc dù phát huy các nguồn nội lực
cho đầu t phát triển có nhiều tiến bộ, vốn trong nớc chiếm trên 70% nhng cha
huy động hết đợc tiềm lực trong nớc và sự giảm sút của nguồn vốn đầu t trực tiếp
nớc ngoài (FDI) trong mấy năm qua (năm 2004 tình hình thu hút vốn FDI có dấu
hiệu khả quan sau mấy năm có xu hớng sụt giảm của nguồn vốn này). Mặt khác,
hệ thống chính sách công cha đồng bộ, đôi khi chồng chéo và mâu thuẫn, do đó
tác dụng và hiệu lực của các chính sách cha cao. Điều đó đòi hỏi nền kinh tế Việt
Nam cần nâng cao khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá
kinh tế thế giới hiện nay. Đặc biệt là những ngành mà Việt Nam có thế mạnh và
lợi thế nh ngành dệt may yêu cầu đó là rất cấp thiết.
2.2. Khả năng cạnh tranh của ngành kinh tế
- 11 -
Ngành kinh tế là một chủ thể lớn bao gồm các chủ thể nhỏ là các doanh
nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh vực, nếu là ngành sản xuất thì các chủ thê
nhỏ này sẽ cùng sản xuất một sản phẩm.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trên các góc độ khác nhau, các nhà kinh tế có cách hiểu khác nhau về khả
năng cạnh tranh của một doanh nghiệp:
+> Fafchamps cho rằng: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng
của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình
thấp hơn giá trị của nó trên thị trờng. Điều đó có nghĩa là: doanh nghiệp có khả
năng sản xuất ra loại sản phẩm có chất lợng tơng tự nh doanh nghiệp khác nhng
với chi phí thấp hơn thì đợc coi là có khả năng cạnh tranh.
+> Theo Dunning thì: khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng
cung cấp sản phẩm của chính doanh nghiệp trên thị trờng khác nhau mà không
phân biệt bố trí nơi sản xuất của doanh nghiệp đó. Theo cách hiểu này thì một
doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là một doanh nghiệp có thể sản xuất và bán
sản phẩm đó ra trên các thị trờng khác nhau vẫn thu đợc lợi nhuận, không phụ
thuộc vào địa điểm sản xuất sản phẩm đó.
+> Randall lại lập luận rằng: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả
năng giành đợc, duy trì thị phần trên thị trờng và lợi nhuận nhất định.
Lại có một số quan niệm cho rằng khả năng cạnh tranh là trình độ công nghệ
có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trờng, đồng thời duy trì mức
thu nhập thực tế của mình.
Các quan điểm này tuy có nhiều điểm khác nhau và cũng cha định nghĩa khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp một cách đầy đủ nhng qua đó có thể thấy khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố là: khả năng chiếm
lĩnh thị trờng và khả năng thu đợc lợi nhuận. Hay khi doanh nghiệp thu đợc lợi
nhuận và thị phần của doanh nghiệp trên thị trờng sản xuất hàng hoá đó tăng lên
đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là mạnh. Trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế thì thị trờng của doanh nghiệp không chỉ gói gọn là
thị trờng trong nớc nữa mà bao hàm cả thị trờng quốc tế (cạnh tranh khi xuất
khẩu hay cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu ngay tại thị trờng nội địa). Dó đó,
để nâng cao khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp thờng xuyên phải đối mặt với
nhiều cơ hội và thách thức, tác động đến các yếu tố bên trong và bên ngoài.
+> Theo Michael Porter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc
vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo ra sản phẩm có chi
phí thấp và tính dị biệt của sản phẩm. Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh,
doanh nghiệp cần xác định đợc lợi thế của mình mới có thể giành thắng lợi. Có
hai nhóm lợi thế cạnh tranh, đó là:
- 12 -
(1) Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh.
Các yếu tố sản xuất nh đất đai, vốn và lao động thờng đợc xem là nguồn lực để
tạo lợi thế cạnh tranh
(2) Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá
trị cho ngời tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính
hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị trờng chấp nhận mức
giá thậm chí cao hơn đối thủ
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế so sánh
của nó. Các quan điểm cổ điển về khả năng cạnh tranh đều dựa trên việc so sánh
các yếu tố cấu thành nên sản phẩm nh: vốn, lao động, nguyên liệu, chi phí,giá
thành, giá bán Một sản phẩm đ ợc coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững
khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tơng tự với chất lợng
hay dịch vụ tốt hơn.
Các tiêu chí thờng sử dụng để xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm:
- Tính cạnh tranh về chất lợng và mức độ đa dạng hoá sản phẩm
- Tính cạnh tranh về giá cả
- Khả năng thâm nhập thị trờng mới
- Khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và phơng thức kinh doanh ngày
càng phong phú hơn
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm có thể đợc đánh giá bằng các chỉ số định
lợng nh: Tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (Effective rates of Protecion - ERP) và lợi thế so
sánh biểu hiện (Revealed Comparative Advantage - RCA). Chỉ số RCA càng cao
thì sản phẩm càng có lợi thế cạnh tranh: nếu RCA < 1 thì sản phẩm không có lợi
thế so sánh, nếu 1< RCA < 2,5 thì sản phẩm có lợi thế so sánh và nếu RCA > 2,5
thì sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao. Còn chỉ số ERP đợc sử dụng trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, xác định đợc ngành nào sẽ có lợi thế và bất lợi thế
do những thay đổi chính sách liên quan đến tự do hoá thơng mại.
Khả năng cạnh tranh của ngành kinh tế
Sau khi xem xét khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (chủ thể nhỏ trong
ngành kinh tế) và khả năng cạnh tranh của sản phẩm (mục tiêu sản xuất, so sánh
của ngành), ta có thể rút ra khái niệm về khả năng cạnh tranh của ngành kinh tế:
khả năng cạnh tranh của một ngành kinh tế thực chất là khả năng cạnh tranh của
một loại hình sản phẩm, dịch vụ của một đất nớc nếu đặt trong mối quan hệ so
sánh với khả năng cạnh tranh của loại sản phẩm, dịch vụ đó của nớc khác (bao
hàm cả thị trờng nội địa và thị trờng mà sản phẩm xuất khẩu).
- 13 -
Do vậy, trong một thị trờng tuỳ thuộc vào phạm vi và tính chất của thị trờng
mà chủ thể cạnh tranh có thể là một ngành kinh tế hay một doanh nghiệp trong
ngành đó. Trên thị trờng cạnh tranh nội địa, không những có sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp trong nớc thuộc ngành đó để giành thị phần mà còn sự cạnh
tranh giữa doanh nghiệp trong nớc và doanh nghiệp nớc ngoài hay giữa ngành
của nớc đó với ngành của nớc khác để chiếm lĩnh và bảo vệ thị trờng nớc mình.
Còn trên thị trờng cạnh tranh toàn cầu, sự cạnh tranh giữa các quốc gia khác
nhau về thực chất là sự cạnh tranh giữa các ngành kinh tế của các nớc đó dựa vào
lợi thế so sánh của mỗi nớc, về mỗi loại mặt hàng.
3. Các thớc đo khả năng cạnh tranh (công cụ cạnh tranh)
Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành kinh tế đợc đánh
giá bằng nhiều thớc đo và cũng bằng các công cụ này doanh nghiệp, ngành kinh
tế nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu:
3.1. Chất lợng sản phẩm
Chất lợng sản phẩm là công cụ hàng đầu để các doanh nghiệp cũng nh một
ngành kinh tế của một quốc gia cạnh tranh trên thị trờng. Đây cũng là công cụ
mang lại hiệu quả cao trong quá trình nâng cao khả năng cạnh tranh của chủ thể.
Do đặc điểm mỗi sản phẩm sản xuất ra có đặc trng khác nhau nên khả năng cạnh
tranh của một doanh nghiệp hay một ngành đợc quyết định bằng việc chất lợng
sản phẩm sản xuất ra cao hơn so với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác,
của nớc khác và chất lợng đó phải luôn đợc giữ vững hoặc nâng cao hơn nữa.
Chất lợng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng cạnh tranh của
một sản phẩm, của doanh nghiệp; quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp cũng
nh thị phần của doanh nghiệp trên thị trờng. Nhờ tăng chất lợng sản phẩm, dịch
vụ vị thế của doanh nghiệp ngày càng đợc củng cố và mở rộng, uy tín, danh tiếng
sẽ giúp doanh nghiệp thu hút đợc nhiều khách hàng, tăng lợi nhuận, mở rộng sản
xuất và qua đó tạo điều kiện để đầu t nâng cao chất lợng sản phẩm ngày càng
thích ứng hơn với thị trờng. Đối với một ngành kinh tế quốc dân thì nâng cao
chất lợng sản phẩm cũng là một yếu tố để ngành kinh tế đó có thể cạnh tranh với
sản phẩm cùng loại của nớc khác trên thị trờng nội địa, bảo vệ thị trờng trong nớc
và gia tăng thị phần trên thị trờng xuất khẩu sản phẩm.
Không những vậy, nâng cao chất lợng sản phẩm là biện pháp hữu hiệu để kết
hợp hài hoà các loại lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của ngành sản xuất với lợi
ích của ngời tiêu dùng, lợi ích của lao động. Qua đó tạo động lực mạnh mẽ để
tăng năng suất lao động và cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tơng lai.
Tăng chất lợng sản phẩm đồng nghĩa với việc tăng năng suất lao động xã hội,
tăng chất lợng sẽ dẫn đến tăng giá trị sử dụng và lợi ích kinh tế xã hội trên một
đơn vị đầu vào, giảm nguyên vật liệu sử dụng nên tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên cho đất nớc, giảm ô nhiễm môi trờng, đó là mục tiêu phát triển bền vững
của một nền kinh tế trong điều kiện hiện nay.
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét