Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Phân tích thị trường bất động sản tp Hồ Chí Minh- liên hệ với thị trường Mỹ
trường hợp chỉ cần tín chấp khách hàng dù có điểm tín dụng dưới tiêu chuẩn cũng
được cho vay mua nhà đất, tất nhiên là với mức lãi suất cao hơn thông thường.
Nhưng chất lượng tín dụng thấp hơn không gây lo ngại lớn cho các ngân hàng cũng
như việc phải trả mức lãi cao hơn không hề gây lo ngại cho khách hàng vì họ đều
tin rằng khả năng thu hồi các khoản nợ rất cao cũng như tin rằng người vay có thể
trả được khoản nợ đó trước tình hình nhà đất ngày càng nóng lên.
Tuy nhiên, từ cuối năm 2005, bong bóng nhà ở bắt đầu sẹp hơi. Các cá nhân
gặp khó khăn trong việc trả nợ. Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó
khăn vì không thu hồi được nơ. Một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century
Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản. Một số khác thì rơi vào tình
trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation,
doanh thu của công ty tiếp tục sụt giảm, mức thua lỗ khoảng 422 triệu USD trong
quý IV/2007, khi mà có rất nhiều chủ nhà đã mất khả năng chi trả tiền vay mua
nhà. Tâm trạng hoang mang, lo lắng của nhiều người gửi tiền trước tình hình suy
giảm khả năng tài chính của các tổ chức tín dụng này đã khiến họ đổ xô đến rút
tiền, khiến cho các tổ chức này càng lâm vào tình trạng khốn khó. Từ đó hình
thành nên nguy cơ khan hiếm tín dụng. Hàng trăm tỷ đôla giá trò tài khoản, tài sản
bò tòch thu và thò trường tín dụng tê liệt; hàng loạt công ty bất động sản rơi vào cảnh
phá sản và giá cổ phiếu nhóm ngành bất động sản sụt giảm mạnh; giá trò các
khoản vay dưới tiêu chuẩn lên đến 600 tỷ đôla, bằng 1/5 thò trường cho vay mua
nhà của Mỹ trong bối cảnh lãi suất tăng cao và bong bóng bất động sản bắt đầu xì
hơi; khoảng 70 hãng cho vay cầm cố ở Mỹ đã ngừng hoạt động hoặc chờ rao bán…
Nhiều quỹ cho vay bất động sản lớn
khác cũng tuyên bố phá sản và hàng loạt
ngân hàng quốc tế lớn công bố kết quả kinh
doanh xấu trong lónh vực đầu tư vào bất động
sản đã tác động mạnh đến thò trường tài
chính thế giới những tháng cuối năm 2007.
Theo bảng báo cáo về tình hình mua bán nhà đất tại 10 thành phố lớn ở Mỹ
của Standard & Poor’s (S&P) – cơ quan đánh giá tín nhiệm tín dụng hàng đầu của
Mỹ và thế giới, giá nhà đất đã giảm kỷ lục 8,4% trong tháng 11.2007, và là tháng
thứ 11 liên tiếp giá nhà đất Mỹ giảm. Bộ Thương mại Mỹ cũng cho biết năm 2007,
việc kinh doanh nhà ở tại Mỹ đã giảm kỷ lục 26,4%, với chỉ 774.000 ngôi nhà mới
được bán, đây là mức tồi tệ nhất kể từ năm 1991. Hơn 1,3 triệu ngôi nhà nằm trong
diện bò ngân hàng siết nợ. Hơn 1% các chủ nhà ở Mỹ đã nằm trong quá trình bò siết
nơ trong năm 2007, so với khoảng 0,5% trong năm 2006.
Đối với nhiều người dân Mỹ, thò trường nhà đất và
cho vay tín chấp suy sụp là đáng phiền lòng nhất. Số
người buộc phải từ bỏ nhà cửa của họ đã lên đến mức kỷ
lục vì không thể chi trả tiền vay hàng tháng. Rất nhiều
người phải ngồi nhìn giá trò tài sản lớn nhất của mình co nhỏ lại mỗi ngày. Các
ngân hàng lớn nhỏ dắt tay nhau tới bờ vực phá sản. Năm 2007, kinh tế Mỹ chỉ tăng
trưởng 2,2%. Đây là mức tăng yếu kém nhất kể từ năm 2002. Các công ty xây
dựng phải giảm chi cho các dự án nhà ở tới mức 16,9%, mức lớn nhất trong vòng 25
năm qua. Theo New Yord Times, những tháng cuối năm 2007, GDP Mỹ tăng
0,6%, chỉ số lạm phát lên đến 7,4%, trong khi giá nhà đất giảm tới 15%. Đây có
thể coi là một thất bại thảm hại của Mỹ.
Bước qua năm 2008, xu thế đi xuống của thò trường nhà đất càng biểu hiện rõ
nét. Trong tháng 1.2008, lượng nhà bò tòch thu tăng tới 57% so với cùng thời điểm
năm ngoái. Hơn 233.000 chủ nhân các ngôi nhà đã nhận được giấy báo tòch thu gán
nợ trong tháng 1 so với 148.425 ngôi nhà trong tháng 1.2007. Theo thống kê, trung
bình cứ 534 ngôi nhà ở Mỹ có 1 ngôi nhà thuộc diện bò tòch thu gán nợ. Hạt Cafe
Coral-Fort Myers thuộc bang Florida là nơi có số lượng nhà bò tòch thu gán nợ cao
nhất trong cả nước Mỹ với tỷ lệ trung bình 1/86.
Hàng loạt bảng hiệu “For sale”
(nhà bán), dễ dàng bắt gặp tại
các thành phố lớn của Mỹ hiện
nay
Trong khi đó, số lượng căn hộ trong các khu nhà ở
cao tầng được bán ra trong tháng 1 nằm ở mức thấp nhất
kể từ năm 1999. Doanh số bán nhà tại Mỹ trong tháng 1
giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 9 năm qua và giá
nhà đất sụt giảm lần thứ 6 trong vòng 7 tháng. Nhiều dự
báo giá nhà tại thò trường Mỹ trong năm 2008 và 2009
tiếp tục sụt giảm, trong khi số lượng nhà bò tòch thu gán
nợ còn gia tăng khi các công ty tín dụng thế chấp siết chặt các điều kiện cho vay
để mua nhà hoặc thanh toán tiền mua nhà…. Nỗ lực của FED trong việc cung cấp
tín dụng giúp người dân mua nhà đã có vẻ thất bại. Hiện tại không có nhiều khả
năng mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp hơn, bởi vì cuộc khủng hoảng nhà đất tệ hại này đã
lan tràn và ảnh hưởng rất lớn đến các lónh vực khác của nền kinh tế và trong lúc
chính phủ Mỹ đang nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm cứu vãn nền kinh tế tránh
rơi vào khủng hoảng, suy thoái thì những dấu hiệu từ thò trường vốn cho thấy những
khó khăn đang ở phía trước,…
II. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CUỘC KHỦNG
HOẢNG
Thò trường nhà đất Mỹ trở nên thảm hại như thế là do sự kết hợp của nhiều
nguyên nhân, bao gồm cả khách quan và chủ quan.
1. Thừa tiền trong nền kinh tế, nghiệp vụ chứng khoán hóa.
Nguyên nhân sâu xa là sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu trong
những năm gần đây. Trong khi nguồn vốn tín dụng gia tăng từ các chính sách tiền
tệ mở thì nhu cầu huy động vốn các doanh nghiệp sau các bê bối tài chính tại Mỹ
như Enron, Worldcom và hiện tượng vỡ quả bong bóng đầu tư vào công nghệ thông
tin từ năm 2001 lại suy giảm. Sự bất cân đối cung cầu về vốn dẫn đến việc thừa
các nguồn vốn mà thò trường không sử dụng hiệu quả. Nền kinh tế thừa tiền. Lúc
Một ngơi nhà ở Los
Angeles bị ngân hàng
tịch thu gán nợ.
đó, việc cho vay tín chấp, cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp để giải quyết bài
toán thừa vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Thêm vào đó, khi thừa tiền, người ta mua
nhà không phải vì nhu cầu chỗ ở mà sử dụng nó như một công cụ đầu tư thì chắc
chắn sau một thời gian xây thêm nhà để bán, thò trường sẽ thừa nhà. Cho vay tín
chấp mua nhà lúc đó càng phát triển mạnh mẽ hơn. Thế là sụp đổ khi lãi suất tăng
nhanh, nhiều người mất khả năng trả nợ.
Cái tinh vi của thò trường tín dụng đòa ốc này là ở chỗ : các khoản vay tín dụng
xấu này được “đóng gói” thành các loại cổ phiếu, chẻ nhỏ ra rồi đem giao dòch
trên thò trường chứng khoán – đó là công cụ tài chính hiện đại rất tinh vi được gọi
là nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation).
Về bản chất, chứng khoán hóa là một quá trình huy động vốn bằng cách sử
dụng các tài sản có trên bảng cân đối kế toán làm tài sản đảm bảo cho việc phát
hành các loại chứng khoán nợ trên cơ sở đảm bảo bởi dòng tiền mặt tương lai sẽ
thu được từ một nhóm tài sản chính sẵn có. Do đó, các nhà đầu tư mua chứng khoán
nợ chấp nhận rủi ro liên quan tới danh mục tài sản đảm bảo được đem ra chứng
khoán hóa. Như vậy là người cho vay không
nhất thiết nắm giữ rủi ro tín dụng mà có thể
chuyển hóa sang cho người khác một cách dễ
dàng thông qua việc phát hành chứng khoán nợ
lấy danh mục tín dụng làm tài sản đảm bảo.
Chính điều này là cơ sở để các ngân hàng đầu
tư đã tự tin bơm vốn vào hoạt động cho vay tín
chấp một cách dễ dàng. Cho vay thế chấp mua
nhà có lãi suất rất cao, do đó ngân hàng đầu tư
vừa thu lãi từ cung cấp vốn cho công ty tài
chính, vừa thu lãi từ nghiệp vụ chứng khoán
hóa. Lợi nhuận cao kết hợp với lòng tham đã dẫn đến lạm dụng việc cho vay tín
chấp. Các thủ tụcï thẩm đònh thực hiện bởi các đại lý cho vay diễn ra hết sức lỏng
Thừa USD trên thị trường
lẻo và việc tiếp cận vốn tín dụng mua nhà trở nên nhanh chóng, dễ dàng hơn bao
giờ hết, cho vay thế chấp mua nhà lan nhanh ra toàn nước Mỹ. Giá bất động sản
tăng nhanh chóng. Và khi nền kinh tế hoạt động không hiệu quả, lãi suất tăng tạo
nên gánh nặng trả nợ với những người có thu nhập thấp, thất nghiệp gia tăng thì rủi
ro cho vay nợ dưới chuẩn bò ảnh hưởng nhanh nhất.
Như vậy, từ sự thừa vốn trên thò trường, sự lỏng lẻo trong quản lý cho vay tín
chấp và lòng tham của các nhà đầu tư đã dẫn đến cuộc khủng hoảng. Chứng khoán
hóa là một công cụ tài chính thông minh song đã bò lợi dụng vào việc xấu gây nên
hậu quả khôn lường,…
2. Lợi nhuận từ đầu cơ bất động sản cao hơn các hoạt động khác
Tâm lý có ảnh hưởng rất lớn trong việc ra quyết đònh đầu tư. Người ta đổ xô
vào bất động sản bởi niềm tin rằng nhà ở là hình thức đầu tư luôn có lãi. Nhân loại
đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ, và trước tình hình kinh tế
thế giới đầy biến động thì bất động sản có lẽ là nơi ẩn náu an toàn nhất. Nhà ở là
tài sản hữu hình, nhà đầu tư sẽ tự tin hơn khi nắm giữ bất động sản trong thời kỳ
biến động.
3. Sự ra đời của nhiều hình thức cho vay trả góp – cơ chế ARM
Đầu những năm 2000, tâm lý sỡ hữu nhà trở nên phổ biến ở Mỹ thay cho tâm
lý ở nhà thuê vốn từng tồn tại một thời gian dài trong đời sống xã hội nước này.
Chính phủ Mỹ cũng khuyến khích và tạo điều kiện để công dân của mình được ở
trong ngôi nhà của chính mình bằng cách cho ra đời nhiều hình thức cho vay trả
góp mua nhà. Theo đó, việc mua nhà trở nên quá dễ dàng – bạn chỉ cần trả ngay
khoảng 20% giá trò căn nhà, còn lại sẽ trả góp trong vòng 20 năm hoặc lâu hơn. Dễ
dàng đến nổi một phụ nữ tàn tật với thu nhập 8.500USD/năm vẫn có thể mua nhà
riêng. Thế là người ta đua nhau đi mua nhà. Lãi suất lúc ấy lại rất thấp nên mua
xong, người ta cứ cho thuê để lấy tiền trả góp ngân hàng, được giá là bán lại, lấy
lời. Mãi lo kiếm tiền, người ta không biết được rằng đang càng lúc càng lún sâu
vào những “cái bẫy” cho vay trả góp. Trong đó có cơ chế tín chấp điều chỉnh ARM
(Adjustable rate mortgages). Với ARM, bất luận có tiền hay không bạn đều có thể
mua đước nhà. Với vẻ ngoài “tốt đẹp” của mình, ARM đã giết chết hết người dân
này đến các nhà đầu cơ khác. Chỉ trong tháng 2.2006, khoảng 131.000 hồ sơ tòch
thu tài sản để siết nợ trả góp đã được ghi nhận. Tính khắp nước Mỹ, có đến hơn 1,2
triệu trường hợp tương tự trong năm 2006, chiếm tỷ lệ 1/92 hộ gia đình Mỹ, tăng
42% so với năm 2005.
Vậy ARM là gì? Tại sao lại có tác hại nghiêm trọng đến thế ?
Cơ chế tín chấp điều chỉnh ARM (Adjustable rate mortgages) đơn giản là
những khoản vay với lãi suất thả nổi. ARM có thể bắt đầu bằng những khoản phải
trả hàng tháng thấp hơn so với việc áp dụng cơ chế lãi suất cố đònh. Tuy nhiên,
những khoản tiền phải trả hàng tháng đó thường biến động, ngay cả khi lãi suất
trên thò trường không tăng lên thì số tiền này có thể vẫn tăng lên. Thêm nữa, khi
lãi suất trên thò trường giảm xuống thì không có gì chắc chắn là số tiền bạn phải trả
sẽ giảm xuống tương ứng. Đến lúc hoàn trả xong khoản nợ vay của mình, bạn sẽ
nhận ra rằng số tiền bạn bỏ ra vượt quá xa so với số tiền bạn đã mượn trước đó.
Những tưởng ARM sẽ là một món béo bở không ngờ đó là một cái bẫy thực sự.
Nếu như bạn phát hiện được cái bẫy ARM sớm hơn và muốn kết thúc sớm để tránh
phải trả những khoản tiền quá cao, điều đó thật không dễ vì bạn sẽ phải trả một
khoản phạt khá lớn cho hành động đó.
Cơ chế tín chấp điều chỉnh khác xa so với cơ chế tín chấp với lãi suất cố đònh.
Với cơ chế tín chấp với lãi suất cố đònh, lãi suất cố đònh trong suốt quãng thời gian
tồn tại của món nợ. Theo đó, số tiền bạn phải trả hàng tháng là bằng nhau và
không bò ảnh hưởng bởi sự thay đổi lãi suất trên thò trường. Với ARM, lãi suất thay
đổi theo từng giai đoạn, thường là liên quan mật thiết với các chỉ số khác trên thò
trường, khoản phải trả cũng vì thế mà thay đổi tương ứng.
Thường thì những người cho vay sẽ đònh lãi suất ban đầu theo cơ chế ARM
thấp hơn rất nhiều so với cơ chế tín chấp với lãi suất cố đònh, điều này hấp dẫn hầu
hết những người vay tiền bởi rõ ràng là số tiền phải trả thấp hơn rất nhiều lần.
Thêm nữa là nếu lãi suất ít thay đổi hoặc thay đổi với tỷ lệ thấp thì ARM trong
ngắn hạn sẽ là một sự lựa chọn tối ưu. Tuy nhiên rủi ro khi áp dụng ARM thường
ảnh hưởng trong một khoảng thời gian nhất đònh, thay đổi từ một tháng đến 5 năm
hoặc lâu hơn nữa. Đôi khi lãi suất và số tiền phải trả thay đổi rất nhiều. Ngay cả
khi lãi suất trên thò trường ổn đònh, lãi suất mà bạn phải trả khi áp dụng cơ chế
ARM vẫn thay đổi lớn. Đối với hầu hết các khoản vay áp dụng cơ chế ARM, lãi
suất và khoản phải trả hàng tháng thường thay đổi, có thể thay đổi hàng tháng,
hàng quý, hàng năm, hay thậm chí 3 năm, 5 năm,…
Đó chính là lý do vì sao ARM là một sự lựa chọn thông minh khi vay trong
ngắn hạn. Lúc đó số tiền phải trả sẽ biến động ít hơn so với số tiền ban đầu đã
thiết lập. Người đi vay sẽ rất có lợi.
Vậy sao lại có chuyện ARM là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng thò
trường tín chấp ? Những người mua nhà ở Mỹ giai đoạn ấy chỉ phải trả một số tiền
ban đầu rất ít, số còn lại sẽ trả góp trong vòng 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Đó là một
khoảng thời gian quá dài để ARM tác động đến số tiền phải trả. Lúc đầu người ta
bò lóa mắt trước tỷ lệ lãi suất trả góp quá thấp và ngay lập tức chuyển từ cơ chế
vay với lãi suất ổn đònh sang cơ chế ARM. Sau đó, khi chính phủ Mỹ liên tục tăng
lãi suất lên, với bản chất điều chỉnh của luật ARM, những người đi vay trở nên
sống dở chết dở với tiền trả góp mua nhà. Vô tình người ta trở thành nạn nhân của
cái bẫy ARM và cái bẫy này vẫn tiếp tục “tàn sát” nhiều gia đình Mỹ đến thời
điểm hiện nay.
4. Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất ở mức quá
thấp và nâng tỷ lệ này lên một cách nhanh chóng
Để đối phó với nguy cơ suy thoái kinh tế đầu những năm 2000, chính phủ Mỹ
đã hạ thấp lãi suất và khuyến khích tiêu dùng. Người ta đổ xô đi mua nhà trả góp
với lãi suất cực kỳ thấp. Và rồi mấy năm sau nguy cơ lạm phát gia tăng, FED
không ngần ngại tăng lãi suất thả nổi lên một cách chóng mặt. Những món nợ vay
mua nhà theo lãi suất thả nổi trở thành gánh nặng cho người mua nhà, nhiều người
mất khả năng chi trả,… Lãi suất càng ngày càng tăng, không ai dám mua nhà nữa.
Mọi việc trở nên bế tắc,… Nhiều người mất đi ngôi nhà của mình, nhiều nhà đầu cơ
chỉ biết “ôm” đất mà hoang mang. Nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng không thể
thu hồi vốn vay và khủng hoảng.
5. Không ban hành các chính sách và lưỡng lự trong việc sử dụng
tỷ lệ lãi suất để kiềm chế hiện tượng bong bóng
Biết rằng nếu ban hành các chính sách và sử dụng tỷ lệ lãi suất đúng lúc có
thể kiềm chế được hiện tượng bong bóng bất động sản. Sẽ chấm dứt haychí ít cũng
hạn chế phần nào tác động của cơn suy thoái. Thế nhưng, chính phủ của một quốc
gia phải cân nhắc và giải quyết rất nhiều vấn đề vó mô, trong đó có lạm phát và
tăng trưởng. Trong thời điểm lạm phát cao đang là mối lo ngại lớn nhất thì sự lưỡng
lự trong hành xử của FED là rất dễ hiểu. Tuy nhiên, không thể chối cãi một điều
rằng việc xử lý một cách chậm trễ của FED và các cơ quan điều tiết khác là một
trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng.
6. Hiệu ứng bầy đàn của làn sóng đầu cơ
Giới đầu cơ, kinh doanh là những người rất nhạy cảm, một khi đã “ngửi” thấy
mùi thành công là họ sẽ không bỏ qua cơ hội kiếm tiền. Lúc đó, ngoài các chương
trình quảng cáo truyền hình, cơn sốt tậu nhà và đầu cơ nhà còn được kích thích bởi
vô số quyển sách. Thế là không ai bảo ai, người ta kéo nhau đi mua nhà, mua đất
khiến giá nhà đất tăng vọt đến mức phi lý và thò trường bất động sản đóng băng…
Và khủng hoảng thò trường cho vay mua nhà tín chấp như một điều hiển vậy.
Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng thò trường cho
vay tín chấp. Vì chính phủ quá nóng lòng tăng trưởng sau khủng hoảng đầu những
năm 2000. Vì lòng tham của các ngân hàng và đònh chế tài chính khác trước khoản
lợi nhuận kếch xù từ nhà đất. Vì người dân tin tưởng một cách tuyệt đối vào chính
sách của chính phủ trong việc tạo điều kiện cho họ sở hữu nhà nên dù mức trả góp
trung bình để mua nhà trong thực tế gần gấp đôi mức thuê nhà thì họ vẫn lựa chọn
để có được một căn nhà cho riêng mình. Vì những nhà đầu cơ quá thích thú với
khoản tiền kiếm được sau mỗi thương vụ mua đi bán lại trong chớp mắt. Và họ
không hề biết rằng, những công cụ, chính sách lãi suất, trả góp tưởng chừng như rất
tốt đẹp kia đang tàn sát họ từng ngày và đưa nền kinh tế vào bế tắc. Họ đã tin
tưởng rất nhiều thứ và cuối cùng phải trả giá, họ không còn tin tưởng vào ai nữa…
Cuộc khủng hoảng này xuất phát từ sự mất niềm tin do những rắc rối trên thò
trường cho vay thứ cấp chứ thực chất không phải là khủng hoảng kinh tế. Như vậy,
chỉ vì không có niềm tin, nước Mỹ đã trả giá bằng một cuộc khủng hoảng tín dụng
nặng nề rồi chuyển sang khủng hoảng ngân hàng và cả chứng khoán, khiến cả nền
kinh tế phải lao đao.
III. HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ MỸ
Thò trường nhà ở đang suy sụp, tình hình giá nhà đã vượt tầm kiểm soát, kinh
tế Mỹ đang trải qua giai đoạn khó khăn nhất, cơn ác mộng mang lên “suy thoái”
đang ám ảnh hưởng người đứng đầu nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới này. Với
hàng loạt những phát biểu nhận đònh của các chuyên gia kinh tế và những dữ liệu
kém lạc quan khiến người ta càng thêm ám ảnh bởi hai từ “khủng hoảng”.
Theo số liệu thống kê, khoảng 1/10 số nhà tại Clevelard bò thu hồi để phát
mai. Những người nhập cư với giấc mơ mua nhà trở về tay trắng. Giá nhà tại Mỹ
giảm thảm hại trong quý 3 năm 2007, mức tồi tệ nhất từ cuộc khủng hoảng tài
chính năm 1930. Ngay lập tức Cục dự trữ liên bang Mỹ và ngân hàng Trung Ương
Châu Âu phải bơm số vốn khổng lồ vào thò trường. Từ tháng 9/2007 đến nay, FED
đã liên tục 6 lần cắt giảm lãi suất chiết khấu đồng USD từ 5,25%/năm xuống mức
hiện tại 2,25%/năm. Đây là những biện pháp rất mạnh tay để cứu kinh tế Mỹ thoát
khỏi một cuộc suy thoái. Ngoài ra, chính phủ Mỹ còn nhiều chính sách khác như
hoàn thuế cho người dân, giảm thuế cho doanh nghiệp, phát tiền cứu trợ…
Tháng 8/2007, cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn thực sự bùng phát, FED
đã hành động một cách nhanh chóng. Tổng số tiền các ngân hàng Trung Ương bơm
ra trong vòng một tuần là hơn 400 tỷ USD, trong đó riêng số tiền tiếp sức khẩn cấp
trong hai ngày 9 và 10/8 mà FED và ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) tung ra
là 323,3 tỷ USD. Đây là khoản tiền kỷ lục và cao hơn nhiều số tiền tung ra sau vụ
khủng bố Tòa tháp đôi ngày 11/09/2001. Biện pháp này đã giúp hệ thống tài chính
tránh rủi ro từ tình trạng thiếu tiền mặt và bước đầu đã làm dòu bớt căng thẳng về
thanh khoản tín dụng trong bối cảnh nợ xấu đối với bất động sản ở mức cao và thò
trường nhà đất ở Mỹ đang trong thời kỳ khủng hoảng. Đây là biện pháp có tác
động tức thời nhất, nhưng việc bơm một số tiền quá lớn vào nền kinh tế rất dễ dẫn
đến lạm phát cao. Tháng 3.2008, FED đã bơm thêm 60 tỷ USD tiền mặt vào hệ
thống ngân hàng. Tuy nhiên, lượng tiền mặt đó vẫn chưa đủ và chưa thực sự tạo ra
được hiệu quả bình ổn rõ rệt trên các thò trường. FED thì sẵn sàng làm mọi việc có
thể để cứu nền kinh tế Mỹ thoát khỏi một cuộc suy thoái và biện pháp mạnh tay
nhất của FED là 6 lần liên tục cắt giảm lãi suất.
Q TRÌNH CẮT GIẢM LÃI SUẤT CỦA FED
5.25%
4.75%
4.50%
4.25%
3.50%
3.00%
2.25%
0.00%
1.00%
2.00%
3.00%
4.00%
5.00%
6.00%
TRƯỚC
19/09/2007
19/09/2007 31/10/2007 12/2007 22/01/2008 30/01/2008 18/03/2008
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét