Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Chuyển giao công nghệ Việt Nam

Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
• Thực hiện chính sách: “Hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa với chi phí thấp, tạo ưu thế cạnh
tranh tổng hợp và đẩy mạnh xuất khẩu”. Một trong những nội dung quan trọng của kế
hoạch này là tổ chức thiết kế, chế tạo và ứng dụng rộng rãi một số thiết bị có công nghệ
tiên tiến với giá thấp, với sự tham gia của chính quyền địa phương, các trường đại học và
cơ quan nghiên cứu khoa học.
• Điều đáng mừng là máy móc, thiết bị của Việt Nam chế tạo đang ngày càng được nhiều
doanh nghiệp trong nước tín nhiệm sử dụng. Các doanh nghiệp không quay lưng với thiết
bị, máy móc Việt Nam chế tạo. Nói chung, các đơn vị nghiên cứu rất ủng hộ việc tổ chức
nghiên cứu và ứng dụng một số thiết bị, công nghệ với chi phí thấp, và các doanh nghiệp
cũng sẵn sàng đón nhận thiết bị, máy móc nội địa đáp ứng được yêu cầu của họ.
• Sáu nội dung của chương trình “hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa với chi phí thấp, tạo ưu
thế cạnh tranh tổng hợp và đẩy mạnh xuất khẩu” là:
1. Tổ chức các ngày chào hàng thiết bị và công nghệ mới do các đơn vị nghiên cứu khoa học và
doanh nghiệp TPHCM tạo ra trong 10 năm qua.
2. Tổ chức thiết kế, chế tạo và ứng dụng rộng rãi một số thiết bị có công nghệ tiên tiến với chi
phí khoảng một nửa giá nhập.
3. Phát triển sản xuất quạt điện và xe đạp chất lượng cao để xuất khẩu và đáp ứng thị trường
nội địa.
4. Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, như ISO
9000, HACCP, GMP
5. Chương trình đào tạo doanh nghiệp TPHCM tham gia AFTA năm 2003.
6. Liên kết tiếp thị xuất khẩu cho các doanh nghiệp.
Và để khuyến khích các doanh nghiệp dùng công nghệ và thiết bị nội địa Nhà nước cần có
chính sách:
• Về phía nhà khoa học, điều cần Nhà nước hỗ trợ nhất là bảo vệ bản quyền. Đối với những
thiết bị, công nghệ Việt Nam đủ sức sản xuất đạt chất lượng theo yêu cầu và giá cả cạnh
tranh, không nên khuyến khích nhập khẩu. Ví dụ, thiết bị cho nhà máy đường, nhà máy xi-
măng của Việt Nam chế tạo, chất lượng tốt và giá rẻ, đang được nhiều công ty liên doanh
sử dụng, thì Nhà nước phải bảo hộ, không nên cho nhập tràn lan, nhất là thiết bị và công
nghệ không hơn của Việt Nam
• Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, Các cơ sở nghiên cứu nên tập trung vào nghiên cứu
ứng dụng những phát minh của thế giới vào sản xuất. Khái quát mà nói, thì nên ứng dụng
cho tốt những gì thế giới đã nghiên cứu ra. Làm như thế vừa rẻ lại hiệu quả, vì Việt Nam
không đủ kinh phí để đi vào nghiên cứu những công trình lớn. Cũng có những lĩnh vực đặc
thù Việt Nam cần tập trung chất xám, như viết chương trình phần mềm, nghiên cứu tạo
giống nông nghiệp, chăn nuôi, công nghệ sinh học
2. Tạo dựng nên một thị trường công nghệ tại Việt Nam:
Thị trường có nghĩa là ở nơi đó diễn ra hoạt động giao dịch giữa người mua và người bán. Ở
Việt Nam có người mua công nghệ và cũng có người bán, nhưng họ không giao dịch được với nhau, bởi
người bán không biết người mua ở đâu, và người mua cũng không biết người bán là ai và họ có cái gì để
bán.
Để khuyến khích phát triển khoa học và công nghệ, cần thương mại hóa các kết quả nghiên cứu
khoa học để biến nó thành sản phẩm vật chất cho xã hội. Cách để thương mại hóa sản phẩm khoa học
công nghệ là hình thành thị trường công nghệ, nhưng không thể chuyển lập tức từ không có thị trường
thành có thị trường, mà phải làm từng bước. Muốn xây dựng thị trường, điều cốt yếu cần có là vai trò
"bà đỡ" của Nhà nước.
Nhóm 1 5
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
Người mua và bán công nghệ chưa gặp nhau vì hai lý do. Về phía người nghiên cứu, có lẽ chưa
quan tâm đến việc chuyển giao công nghệ, hoặc bản thân đề tài chưa có tính thực tế cao, nên không
muốn ứng dụng vào sản xuất. Còn người có nhu cầu ứng dụng, nhiều khi không được thông tin đầy đủ
về giá trị của những đề tài lớn, về chi phí phải chịu nếu họ áp dụng kết quả đó, những lợi ích họ sẽ nhận
được.
Giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học và giới kinh doanh ở Việt Nam dường
như có một bức tường vô hình. Điều này khiến cho họ, một bên là người bán công nghệ còn bên kia là
người có nhu cầu mua, không thể tiến đến với nhau. Phải chăng, muốn dẹp bỏ bức tường vô hình kia,
Việt Nam cần thiết lập "chợ mua bán công nghệ", hay một số giải pháp để có thể giúp cho người mua và
người bán công nghệ có thể gặp nhau. Chúng ta có một vài giải pháp:
• Hình thành phòng giới thiệu sản phẩm và công nghệ mới :
Ví dụ: phòng giới thiệu sản phẩm và công nghệ tại số 79 Trương Định, quận 1.Ở đây, định kỳ
hàng tháng hay hàng quí có triển lãm giới thiệu sản phẩm công nghệ mới cho một chuyên ngành. Mỗi
sáng thứ năm hàng tuần, còn có hội thảo giới thiệu về công nghệ, các kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học, trường đại học cho các khách hàng tiềm năng.
• Công bố những công nghệ mới, giải pháp hữu ích có triển vọng trên tạp chí
Công nghệ và Kinh doanh của Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường.
• Thành lập các Website chuyên về mua bán công nghệ.
• “Chợ công nghệ và thiết bị” như là đòn bẩy của nền kinh tế:
Chợ Công nghệ thiết bị (Techmart Vietnam) diễn ra từ 13 đến 15/10 là một ví dụ. Techmart
Vietnam 2003 là chợ công nghệ thiết bị đầu tiên được tổ chức trên quy mô cả nước. Đã có khoảng 350
cơ sở đăng ký tham gia, với khoảng 2000 sản phẩm thuộc nhiều lĩnh vực. Đơn cử như Phòng Kỹ thuật
Laser Y tế (Trung tâm Công nghệ Laser - Bộ KHCN) đăng ký triển lãm 15 sản phẩm mới. Khu hàng rao
bán lớn nhất là của Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia gồm 24 gian trưng bày với hàng
trăm công nghệ chào bán. Một số lĩnh vực được đặc biệt khuyến khích bao gồm: Chế biến nông - lâm -
thủy sản; cơ khí - chế tạo máy; tự động hố bưu chính-viễn thông; điện tử -tin học; dệt - may - da giày;
cao su -nhựa; y tế - dược phẩm; xử lý và bảo vệ môi trường.
Techmart Vietnam gồm chợ thực - các gian hàng triển lãm, và "chợ ảo" trên Internet. Các hợp
đồng về chuyển giao công nghệ, mua bán thiết bị, đặt hàng nghiên cứu được giao dịch trực tiếp tại
chợ thực, hoặc thông qua gian hàng ảo, giúp những người ở xa cũng có thể tham gia. Công nghệ và thiết
bị được đề nghị giới thiệu, chào bán là những sản phẩm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
của các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước, đã được kiểm nghiệm, ứng dụng thành công, đã hồn
thiện để chuyển giao. Kế đến, các thiết bị và công nghệ được chào bán phải đạt chất lượng cao và giá rẻ
hơn so với thiết bị và công nghệ ngoại nhập. Cuối cùng, đó là những thiết bị và công nghệ đã được đăng
ký bảo hộ sáng chế độc quyền, bảo hộ độc quyền. Đối với các công nghệ và thiết bị của các đơn vị nước
ngồi, tiêu chí khuyến khích giới thiệu hàng đầu là trình độ công nghệ cao, giá cả hợp lý và mức độ thích
hợp đối với Việt Nam.
Trong quá trình diễn ra Techmart có các hoạt động giao dịch, mua -bán thiết bị, công nghệ,
thương thảo, đàm phán, ký kết văn bản ghi nhớ, hợp đồng chuyển giao công nghệ tổ chức các diễn đàn
giao lưu, hội thảo theo các vấn đề được nhiều người quan tâm như: Hội thảo về sở hữu trí tuệ trên thị
trường công nghệ,đổi mới công nghệ và hội nhập kinh tế giao lưu giữa các địa phương với các nhà khoa
học và công nghệ, cơ chế và chính sách hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ.
Hiện nay, sự liên kết giữa cung với cầu còn nhiều hạn chế, nên các tiến bộ khoa học ít được áp
dụng vào thực tiễn. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 90% đề tài nghiên cứu khoa học những
năm gần đây đều lấy ý tưởng từ nội dung học tập trong thời gian nghiên cứu ở nước ngồi, chứ không
bám vào thực tiễn của đất nước, và không có đề tài nào xuất phát từ một "đơn đặt hàng" của doanh
nghiệp. Do vậy, nhiều thành tựu nghiên cứu chưa phù hợp với trình độ ứng dụng trong nước, chưa kể
việc nghiệm thu đề tài chỉ được tiến hành giữa những người làm nghiên cứu, chứ không có đánh giá
khách quan từ phía người sử dụng. Tình trạng này có thể được khắc phục nhờ Techmart Vietnam, vì qua
đó, các nghiên cứu khoa học sẽ được định hướng bởi cơ chế thị trường.Techmart là cầu nối giữa cung
Nhóm 1 6
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
và cầu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, giúp tìm ra con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để đưa khoa
học vào cuộc sống.
Điều đáng ghi nhận tại Techmart 2003 là sự phát triển cả về số lượng và chất lượng của các
công nghệ, thiết bị chế tạo trong nước. Trong số gần 2000 công nghệ, thiết bị chào bán tại Chợ, 95% là
công nghệ thiết bị do các nhà khoa học, các đơn vị trong nước thiết kế, chế tạo Có thể nói đây là lần đầu
tiên các sản phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước đã được trân trọng, tôn vinh ở một hội
chợ có tầm cỡ quốc gia và được xã hội thừa nhận hiệu quả ứng dụng trong thực tế sản xuất.
Theo nhiều chuyên gia marketing, hiệu quả của Techmart phụ thuộc nhiều vào "chợ ảo", vì
đây là sàn giao dịch quanh năm. Nếu tiếp tục duy trì giao diện chợ ảo đầy đủ thông tin, hấp dẫn, tiện lợi
cho người truy cập hai chiều thì thị trường công nghệ, thiết bị sẽ quanh năm nhộn nhịp, chứ không chỉ
trong vài ngày hội chợ. Tại hội chợ ,các đơn vị tham gia có điều kiện giới thiệu chào bán công nghệ và
thiết bị của mình, giới thiệu năng lực phát triển công nghệ, yêu cầu tìm kiếm đối tác chuyển giao công
nghệ. Các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu công nghệ, thiết bị cũng có thể đưa ra các nhu
cầu công nghệ để tìm kiếm đối tác. Chợ công nghệ ảo Việt Nam là sàn giao dịch điện tử lý tưởng cho
tất cả những ai muốn tham gia thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam.
Techmart Vietnam 2003 là sự thể hiện sinh động của thị trường khoa học và công nghệ Việt
Nam trên bước đường hình thành và phát triển. Mục tiêu tổng quát của Techmart Vietnam là thúc đẩy
hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở nước ta; đẩy mạnh sự gắn kết giữa nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ với kinh tế, sản xuất - kinh doanh và đời sống xã hội.
Chợ công nghệ và thiết bị đầu tiên này khẳng định một hướng phát triển mới cho khoa học
công nghệ Việt Nam. Đó là các đề tài nghiên cứu sẽ không chỉ để bày trong bảo tàng hay là một thứ
trang trí cho các nhà khoa học như trước đây mà sẽ được gắn với hiệu quả ứng dụng trong thực tiễn sản
xuất.
3. Đẩy mạnh việc nhập khẩu và chuyển giao công nghệä:
a. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình nhập khẩu và chuyển giao công
nghệ:
Nhập khẩu công nghệ:
Quá trình nhập khẩu công nghệ ở nước ta đang tồn tại một số vấn đề sau:
• Nhập công nghệ, thiết bị cũ, giá lại vượt cao.
Cho đến nay, lượng công nghệ, thiết bị nhập vào Việt Nam qua các đơn vị có vốn đầu tư
nước ngồi đã đạt một con số đáng kể. Uớc tính từ năm 1991 đến nay, khoảng 40-60 % vốn đầu tư được
đưa vào thực hiện ở các dự án đã dành cho công nghệ, thiết bị với tổng giá trị thiết bị du nhập qua con
đường này vào khoảng 4 tỉ USD. Như vậy, giá trị công nghệ thiết bị nhập về trong thời gian qua lớn hơn
cả giá trị thiết bị hiện đang hoạt động trong nước từ trước đến nay (vào khoảng 3,5 tỉ USD).
Một số lĩnh vực đã tiếp nhận được công nghệ khá tiên tiến và hiện đại cuả thế giới như : tìm
kiếm khai thác dầu khí, viễn thông Tuy nhiên, trong không ít lĩnh vực (cơ khí, luyện kim, hóa chất,
chế biến thực phẩm ) nhiều đơn vị đã tiếp nhận thiết bị cũ, hư hoang, hoặc tính năng công nghệ không
cao, có tác động xấu đến môi trường. Qua kiểm tra cuả các cơ quan chức năng ở 727 thiết bị, 3 dây
chuyền sản xuất cuả 42 cơ sở, có tới 60-70 % là thiết bị cũ, tân trang. Thậm chí có thiết bị sản xuất từ
năm 1929 !
Theo đánh giá chung, thiết bị được nhập vào các đơn vị có vốn đầu tư nước ngồi thời gian qua
phổ biến thuộc trình độ công nghệ cuả những năm 1960-1970 và có độ lệch từ hai đến ba thế hệ so với
trình độ thế giới. Thế nhưng, điều đáng nói, theo các chuyên gia cuả Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ
Thương mại, nhìn chung giá mua thiết bị vượt cao hơn giá thị trường thế giới từ 10-15 %. Vừa qua,
công ty giám định quốc tế SGS cuả Thụy Sĩ sau khi thẩm định sáu dự án, đã đánh giá giá mua thiết bị
vượt đến trên 40 % so với thị trường thế giới.
Nhóm 1 7
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
Chuyển giao công nghệ:
• Ở Việt Nam đang tồn tại một số yếu kém trong quá chuyển giao công nghệ:
- Thiếu kỹ năng trong đàm phán thương lượng chuyển giao công nghệ nên dẫn đến sự ràng
buộc và lúng túng khi thực hiện hợp đồng chuyển giao.
- Thiếu thông tin về đối tác chuyển giao và công nghệ chuyển giao cũng là nguyên nhân dẫn
đến sự thụ động của đối tác Việt Nam khi đàm phán.
- Sự thiếu vốn mặc dù có nhu cầu cao về nhận chuyển giao công nghệ. Từ yếu tố ấy, bên nhận
chuyển giao thường dễ dàng phải chấp nhận những điều khoản bất lợi cho mình.
- Các đối tác Việt Nam không chỉ yếu kém ở giai đoạn trước và ngay khi nhận chuyển giao
công nghệ, mà còn xem nhẹ việc đánh giá kết quả của chuyển giao, đánh giá chất lượng sản phẩm do
công nghệ chuyển giao sản xuất ra.
- Do chủ quan. Đó là hệ quả tổng hợp của nhiều cái thiếu : chuyên viên đánh giá công nghệ,
cán bộ đàm phán, nhà quản lý và người sử dụng
- Bên chuyển giao công nghệ (nước ngồi) đã không chuyển giao hết phương thức, còn bên tiếp
nhận công nghệ (Việt Nam) thì chưa đủ trình độ, kinh nghiệm trong thương thảo và giám định công
nghệ mua vào, và trong một số trường hợp là thiếu công tâm Vấn đề chuyển giao công nghệ (CGCN).,.
• Chính những lý do trên đã khiến cho trong quá trình chuyển giao công nghệ, các doanh
nghiệp của nước ta gặp không ít khó khăn và bất lợi:
 Có một thực tế là hầu hết các hợp đồng chuyển giao công nghệ thường do bên nước ngồi
lập, sau đó dịch ra tiếng Việt. Bên Việt Nam do những nguyên nhân khác nhau, thường
chấp nhận những nội dung do bên nước ngồi đưa ra, mà không có sự trao đổi, đàm phán để
đảm bảo lợi ích của hai phía và hiệu quả của việc chuyển giao công nghệ.
Nội dung công nghệ được chuyển giao là phần rất quan trọng của một hợp đồng chuyển giao
công nghệ(xem phần phụ lục). Theo quy định, phải xác định rõ đối tượng chuyển giao công nghệ; tên
công nghệ, mô tả chi tiết những nội dung chủ yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ, giá trị kinh tế
và kỹ thuật của mỗi nội dung công nghệ được chuyển giao, kết quả dự kiến sẽ đạt được sau khi thực
hiện chuyển giao công nghệ (về mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội). Nhưng trong các hợp đồng đã trình
duyệt, phần lớn các nội dung này đều không được làm rõ, do đó không đủ điều kiện để xem xét đánh giá
công nghệ.
 Chi phí cho chuyển giao công nghệ thường tính rất cao : theo quy định, đối với công nghệ
tiên tiến, tổng chi phí cho chuyển giao công nghệ không quá 5% giá bán tịnh (bao gồm cả
chuyển giao bí quyết, dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và chi phí sử dụng nhãn hiệu hàng hóa).
Nhưng nhiều trường hợp, phía nước ngồi đòi chi phí CGCN cao hơn 5% doanh thu bán
hàng (mà doanh thu bán hàng lớn hơn giá bán tịnh rất nhiều). Do không có đủ các thông tin
cần thiết về công nghệ cần nhập, thiếu các chuyên gia am hiểu về công nghệ nên phía Việt
Nam trong liên doanh thường dễ dàng chấp nhận mức chi phí về công nghệ do bên nước
ngồi đưa ra. Do đó, khi xem xét, phê duyệt, các cơ quan nhà nước thường phải yêu cầu họ
sửa đổi, điều chỉnh lại, dẫn tới việc kéo dài thời gian thẩm định.
 Thời gian của hợp đồng CGCN theo quy định là bảy năm, nhưng một số hợp đồng xin thời
hạn 10 năm hoặc lớn hơn (bằng thời hạn của dự án đầu tư, thường là 20-30 năm).
 Trong hợp đồng CGCN, phía nước ngồi thường đưa ra những điều khoản ràng buộc về
trách nhiệm của bên nhận công nghệ, trong khi trách nhiệm của bên giao công nghệ lại
không rõ ràng. Ở một số hợp đồng, luật áp dụng lại là luật của nước ngồi chứ không phải
luật pháp Việt Nam (bản thân bên Việt Nam cũng không tìm hiểu xem luật nước ngồi dẫn
chiếu trong hợp đồng quy định những nội dung gì, khi xảy ra tranh chấp sẽ xử lý ra sao).
 Sự mất cân đối trong việc tiếp nhận công nghệ giữa các ngành nghề.
Ví dụ: 10 năm qua ở Việt Nam có các lĩnh vực dịch vụ như viễn thông, ngân hàng tiếp
nhận được nhiều công nghệ mới nhất. Trong khi đó, trong các lĩnh vực công nghiệp, các loại công nghệ
mới đưa vào thông qua nhập khẩu và đầu tư nước ngồi chưa nhiều lắm.
Nhóm 1 8
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
 Việt Nam đã nhận rất nhiều công nghệ trên nhiều lĩnh vực nhưng số công nghệ được sử
dụng như mong muốn còn rất ít. Việc sử dụng không hiệu quả này, là do trình độ tiếp nhận
- quản lý công nghệ của đối tác Việt Nam yếu kém, không hiểu hết giá trị sử dụng của
công nghệ đang có trong tay.
 Mắc nhiều sai phạm trong việc chuyển giao công nghệ, không sử dụng công nghệ được
chuyển giao, gây lãng phí.
b. Giải pháp:
Nhập khẩu công nghệ:
Về nhà nước:
Để nhanh chóng tiếp thu các công nghệ tiên tiến trên thế giới, đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hóa, phát triển kinh tế, cần thực hiện một số biện pháp sau :
- Xây dựng và ban hành chính sách công nghệ quốc gia, xác định các hướng công nghệ cần ưu
tiên nhập trong thời gian từ nay tới năm 2010 và sau năm 2010 để làm căn cứ cho việc lựa chọn và đánh
giá công nghệ nhập.
- Xây dựng hệ thống thông tin công nghệ và đảm bảo cập nhật kịp thời để phục vụ cho việc thẩm
định, đánh giá công nghệ, cũng như lựa chọn công nghệ thiết bị.
- Khẩn trương xây dựng chương trình đào tạo cán bộ quản lý công nghệ cho các cơ quan Nhà
nước, các doanh nghiệp để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn, đàm phán và ký kết hợp đồng chuyển
giao công nghệ.
- Việc nhập công nghệ cần đi thẳng vào công nghệ hiện đại có chọn lọc ở các lĩnh vực cần
thiết. Ưu tiên các công nghệ nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hiệu quả của sản xuất và khai thác
hợp lý tài nguyên, các công nghệ sạch, ít gây ô nhiễm môi trường.
- Cần tăng cường và nâng cao trình độ kiến thức về luật pháp, công nghệ cho một số công ty tư
vấn trong nước để họ có đủ khả năng tư vấn giúp các đơn vị Việt Nam trong quá trình đàm phán và xây
dựng hợp đồng CGCN. Đồng thời cần tranh thủ sự giúp đỡ và hỗ trợ của các công ty tư vấn nước ngồi
có chuyên môn sâu trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ.
Chúng ta không nên đặt vấn đề công nghệ mới hay cũ mà chỉ có vấn đề công nghệ phù hợp hay
không. Cho nên, đối với nước ta hiện nay, vấn đề quan trọng không phải là thiết bị công nghệ nào đó còn
mới hay đã sử dụng rồi, có tiên tiến hay không mà quan trọng là ở chỗ thiết bị đó có phù hợp với việc sản
xuất một sản phẩm cụ thể, trong điều kiện cụ thể, ở Việt Nam hay không ? Thời gian qua, có nhiều nhà
máy liên doanh sử dụng các công nghệ rất tiên tiến nhưng lại không phát huy hiệu quả do trình độ khoa
học, công nghệ, lao động của tồn xã hội chưa phát triển đồng bộ.
Hiện nay, nền khoa học (KH) của chúng ta còn thấp, kinh tế kém phát triển nhưng so với các
nước ở cùng trình độ kinh tế thì trình độ dân trí nước ta cũng tương đối khá, đặc biệt là khả năng tiếp
thu các thành tựu khoa học - công nghệ mới khá nhanh. Thực tế chứng minh, chúng ta đi sau, nhưng nếu
biết chọn lựa, biết tổ chức, biết tranh thủ hợp tác với nước ngồi thì có thể đi thẳng vào những công nghệ
mới nhất và làm thành công.
Về doanh nghiệp
Có lẽ vấn đề quan trọng nhất đặt ra trước các doanh nghiệp là làm thế nào để đảm bảo cho các
công nghệ, thiết bị đã nhập được lắp đặt và vận hành ổn định, phát huy hiệu quả cao. Ngồi ra, vấn đề cơ
bản và lâu dài là nhanh chóng làm chủ được công nghệ, thiết bị mới. Hiện nay, do phần lớn máy móc
nhập vào thuộc công nghệ thông thường đang sử dụng phổ biến trên thế giới nên các dự án, hợp đồng có
riêng nội dung này không nhiều.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nhìn xa trông rộng để hôm nay không làm những điều gì
sẽ gây ra các khó khăn cho tương lai. Bên cạnh đó, còn phải chủ động tìm kiếm đối tác nước ngồi,
không chỉ đơn giản bằng cách quảng cáo trên báo chí ngồi nước. Tích cực tìm kiếm đối tác thích hợp có
Nhóm 1 9
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
ý nghĩa rất khác với việc đăng báo. Cụ thể hơn, công ty Việt Nam cần phải hiểu rõ về bốn vấn đề: mình
có gì để cung cấp; mình tìm kiếm cái gì nơi đối tác nước ngồi; tiềm năng của đối tác; và đối tác đang
muốn tìm kiếm những gì.
Ngồi việc chiếm lĩnh công nghệ mới và kỹ năng mới, thành công của công ty nước chủ nhà còn
là phát triển quản lý và thâm nhập được vào các thị trường mới.
Chuyển giao công nghệ:
Về nhà nước:
Muốn thúc đẩy đối tác nước ngồi chuyển giao công nghệ, trước hết, chính phủ cần ra tay hỗ trợ
cho các công ty địa phương trong liên doanh.
Ví dụ: hãng xe hơi Nhật Mitsubishi, đối tác trong liên doanh sản xuất xe hơi hiệu
Proton ở Malaysia viện cớ người Malaysia không đủ khả năng tiếp nhận công nghệ mới để trì
hỗn việc chuyển giao, đích thân Thủ tướng Mahathir Mohamad đã lên đài truyền hình tuyên bố
ông sẽ tìm đối tác khác và có thể Malaysia không cần đến Mitsubishi nữa. Tiếp đó, ông đi Đức
để thương lượng với Wolsvagen, và khi trở về, thông báo rằng ông đã thảo luận rất thú vị với
công ty xe hơi này. Chỉ hai tuần sau chuyến đi của ông Mahathir, chính chủ tịch Mitsubishi đã
quyết định chuyển giao công nghệ cho đối tác Malaysia trong liên doanh Proton.
Cần có một chiến lược công nghệ:
Việc lựa chọn được công nghệ thích hợp mới là điều quan trọng, chứ không nhất thiết phải là
công nghệ tiên tiến, hiện đại nhưng lại không thích hợp với trình độ nơi tiếp nhận, chưa kể phải tốn
nhiều ngoại tệ để trang bị. Công nghệ thích hợp là loại công nghệ có tính khả thi về mặt kỹ thuật, khả
năng thương mại nhằm đạt tới lợi ích tối đa và có khả năng đóng góp vào các mục tiêu phát triển kinh tế
quốc gia. Công nghệ thích hợp, là hệ quả của việc nhận thức về công nghệ của bên nhận chuyển giao.
Như vậy, bên nhận chuyển giao phải xác định rõ nhận chuyển giao công nghệ là nhận cái gì trước khi
nói đến công nghệ thích hợp. Và cũng không được quên rằng tính thích hợp của công nghệ phụ thuộc
vào mỗi giai đoạn phát triển của bên nhận chuyển giao và chiến lược phát triển của quốc gia đó.
Về doanh nghiệp
Khi các công ty chủ nhà trong liên doanh không được chuyển giao công nghệ vì bản thân họ
chưa biết cách thương lượng cũng như vì phía đối tác nước ngồi không tin vào khả năng tiếp nhận công
nghệ của các công ty này. Để giải quyết vướng mắc , các doanh nghiệp muốn lập liên doanh với nước
ngồi cần phải lên trước một chương trình về công nghệ, trong đó đề ra tốc độ chuyển giao, cách thức
tiếp thu và sử dụng công nghệ.
• Để khắc phục, doanh nghiệp chúng ta cần có nhiều thông tin hơn về đối tác. Việc gia nhập
Internet là một hướng mở cho vấn đề này.
• Trong tương lai cần có thêm nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, kỹ thuật trong đàm
phán, thương thảo.
• Nói cho cùng, cuộc thương thảo chuyển giao công nghệ chỉ thành công khi doanh nghiệp
tìm ra lời đáp thỏa đáng cho hai câu hỏi : cách thức chế tạo công nghệ ra sao, và làm thế
nào để vận hành tốt công nghệ đó.
• Cần có kỹ năng trong đàm phán
Các giải pháp cho việc đổi mới công nghệ không phải là ít, tuy vậy các doanh nhiệp của chúng
ta vẫn gặp rất nhiều lỗi trong quá trình đổi mới công nghệ bởi một lý do rất đơn giản: họ qúa tin tưởng
vào khả năng của chính bản thân mình, không chịu tham khảo ý kiến của các công ty tư vấn về công
nghệ. Chính vì vậy đã khiến cho thị ttrường tư vấn chuyển giao công nghệ ở Việt Nam cũng còn nhiều
bất cập
Nhóm 1 10
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
V. Thị trường tư vấn chuyển giao công nghệ ở Việt Nam:
1. Nhận xét chung:
Trong môi trường tồn cầu hóa, thị trường công nghệ Việt Nam không thể đứng ngồi quy luật
chung, không thể tách rời thị trường công nghệ quốc tế. Phát triển thị trường công nghệ phải bắt đầu từ
việc tạo ra cơ chế để các thành phần của thị trường được tham gia bình đẳng. Để làm được điều này, cần
phải giải quyết những vấn đề đang là rào cản cho thị trường. Giảm bao cấp chính là một giải pháp để tạo
một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Tiến
trình cải cách doanh nghiệp nhà nước còn chậm, cổ phần hóa thì không có nhà đầu tư bên ngồi do cổ
phần của Nhà nước đã chiếm 51% và phần còn lại thì dành cho cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp.
Những bài học kinh nghiệm về đầu tư thiết bị, công nghệ không hiệu quả ở Việt Nam thời gian
qua không phải là ít, nhưng dường như phần lớn các trường hợp này lại rơi vào các doanh nghiệp nhà
nước. Phần lớn doanh nghiệp nhà nước đi mua thiết bị chỉ quan tâm đến người bán máy nào chịu trả tiền
hoa hồng cao. Họ hầu như chẳng quan tâm gì đến việc lựa chọn công nghệ hay nhà cung cấp nào cho có
hiệu quả.
Tuy nhiên, hãy lưu ý là sẽ có rất nhiều công ty đến chào bán những loại công nghệ, máy móc
khác nhau với các loại giá khác nhau cho cùng một mục đích. Vấn đề đặt ra là chọn ai ? Mua cái gì ? Ở
nước ta đang có một nhược điểm là việc kiểm sốt dòng chảy của công nghệ cao vào VN giao cho nhiều
người quá, nên thu lại một cửa thôi. Và cần phải lập các cơ quan tư vấn, khuyến khích hoạt động tư
vấn phát triển, thậm chí mời các công ty tư vấn nước ngồi vào hoạt động. Thà rằng ta phải trả giá một
lần cho tư vấn còn hơn sẽ phải trả giá nhiều lần và trả giá đắt vì những sai lầm khi lựa chọn công nghệ
cho phát triển. Để tránh những yếu tố bất lợi cho máy móc, thiết bị mới , doanh nghiệp nên tham khảo
chuyên viên tư vấn trước khi ký hợp đồng mua. Làm như vậy thì doanh nghiệp phải trả thêm một khoản
phí tư vấn, nhưng có thể tránh những thiệt hại lớn hơn sau này.
2.Thị trường tư vấn công nghệ Việt Nam
“99,9% DN mua công nghệ không “thèm” nhờ tư vấn” .
Cách nay không lâu, một tổng công ty nhà nước đã bỏ ra gần 10 tỷ đồng để nhập về dây
chuyền thiết bị nghiền sàng đá. Sự kiện này gây chú ý đối với những doanh nghiệp trong ngành sản xuất
thiết bị khai thác đá không phải vì dây chuyền thiết bị kia có những công nghệ đặc biệt, mà ở chỗ những
thiết bị này trong nước có thể chế tạo với giá rẻ hơn đến 10 lần. Nếu công ty nói trên mời tư vấn cho dự
án đầu tư này, chắc chắn họ sẽ được khuyên chủ đầu tư chọn thiết bị trong nước sản xuất. Có thể máy
móc, thiết bị của Việt Nam chế tạo không bền bằng thiết bị nhập, nhưng với loại sản phẩm không yêu
cầu quá khắt khe về chất lượng như đá làm đường, thì mua thiết bị trong nước có giá rẻ chắc hiệu quả
đầu tư sẽ tốt hơn.
Không phải doanh nghiệp nào cũng am hiểu hết những tính năng của thiết bị mà họ mua. Bỏ ra
số tiền lớn để mua thiết bị mà không sử dụng hết những tính năng của nó thì coi như đã lãng phí. Việc
sử dụng tư vấn trước khi đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp chọn lựa được loại máy móc, thiết bị phù hợp với
mục tiêu sản xuất của mình.
Số công ty tư vấn đầu tư đúng nghĩa về kỹ thuật, công nghệ ở Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón
tay. Tiềm năng của thị trường này rất lớn nhưng không khai thác được.
Nhóm 1 11
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
Theo kết quả điều tra của hai tổ chức Swiss Contact (Thụy Sĩ) và GTZ (Đức) tiến hành trên
1.200 doanh nghiệp (DN) tại VN, chỉ có khoảng 0,1% DN có sử dụng tư vấn khi đầu tư mua sắm công
nghệ. Đại diện một số công ty tư vấn tại TPHCM nhận định: Phải mất 20 năm nữa VN mới thực sự có
thị trường dịch vụ tư vấn đầu tư công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật.
“DNVN chưa có thói quen sử dụng tư vấn khi đầu tư”
Chính vì không có thói quen này mà đã có rất nhiều Cty phải chịu nhiều thiệt hại khi mua các
thiết bị nước ngồi giá cao, trong khi những thiết bị này được các doanh nghiệp trong nước sẵn sàng cung
cấp với giá rẻ và chất lượng cũng không thua kém
Tuy nhiên, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam lại chưa có thói quen sử dụng tư vấn khi đầu tư.
Hầu hết những trường hợp sử dụng tư vấn khi đầu tư công nghệ, thiết bị rơi vào những doanh nghiệp tư
nhân có quy mô lớn.Tuy nhiên, theo đánh giá của hai tổ chức trên hầu hết doanh nghiệp Việt Nam chưa
hiểu biết đầy đủ lợi ích của tư vấn nên họ ít sử dụng.
Ngược lại, chính vì thị trường còn quá nhỏ bé nên ngành dịch vụ tư vấn công nghệ và thiết bị
chưa thể phát triển. Thiết bị, công nghệ mỗi ngành khác nhau. Trong khi đó, mỗi công ty tư vấn thường
chỉ chuyên sâu trong một vài ngành và chắc chắn là với số lượng công ty tư vấn ít ỏi như thế thì không
thể nào bao quát hết mọi ngành nghề. Vì thế, doanh nghiệp cũng không dễ tìm được nhà tư vấn thiết bị,
công nghệ khi cần thiết.
Do không tìm được tư vấn, hoặc không muốn thuê tư vấn, nhiều doanh nghiệp đã chọn mua
máy móc, thiết bị theo kinh nghiệm của những người đi trước. Với cách làm này, nếu người đi trước
mắc sai lầm thì sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều doanh nghiệp khác giống như trường hợp mới
xảy ra trong ngành giày.
Ví dụ: Nhiều công ty Việt Nam đã nối gót nhau mua thiết bị sản xuất đế giày PU của
một công ty Ý mà không biết công ty này sắp bị phá sản. Giờ nhận ra thì đã muộn. Công ty này
đã phá sản được hơn một tháng nay và doanh nghiệp giày Việt Nam đang lo lắng, không biết ai
sẽ chịu trách nhiệm bảo trì, cung cấp phụ tùng thay thế nếu thiết bị hư hỏng.
“Một thị trường trầm lắng ”
Thực ra, loại hình tư vấn nói trên đã ra đời hơn 10 năm qua, đặc biệt nở rộ trong 4 năm gần đây
kể từ khi có Luật DN cùng với sự ra đời của hàng ngàn DN mới. Lúc đó, nhiều chủ DN dự đốn sẽ có
một thị trường “béo bở” dành cho các công ty tư vấn đầu tư nhưng thực tế ngược lại. Đây là một thị
trường hết sức khó khăn, hầu hết các công ty tư vấn đầu tư gặp bế tắc trong việc khai phá thị trường,
buộc phải chuyển hướng kinh doanh”. Nguyên nhân chính là vì DN chưa có “thói quen” sử dụng tư vấn
khi đầu tư.
Đối với nhiều DN, tư vấn là một loại hình xa vời, nặng về lý thuyết và thiếu thực tế. Chính vì
lối tư duy này nên nhiều chủ DN tự tìm hiểu và tự quyết định hoạt động đầu tư, mua sắm của DN. Theo
đánh giá của một chuyên viên kinh tế, đại đa số các DN tư nhân hiện nay quá chủ quan với vốn kiến
thức tự tích lũy của mình, đích thân sang nước ngồi để tìm hiểu về máy móc, công nghệ và quyết định
mua ngay sau khi về nước. Vì lẽ này, giữa DN và các đơn vị tư vấn ngày càng có khoảng cách.
Lý do tế nhị: “Hoa hồng” và “lại quả”
Các DN Nhà nước cũng “ngại” nhờ tư vấn. Hiện nay, có rất nhiều DN Nhà nước làm ăn hiệu
quả, có thừa đội ngũ chuyên viên, kỹ thuật viên nên có thể tự thẩm định được các dự án đầu tư. Bên
cạnh đó, có không ít DN thuê hẳn chuyên gia tư vấn của nước ngồi. Nhưng, vẫn còn nhiều DN Nhà
nước, dù thiếu đội ngũ cán bộ tư vấn riêng (hoặc có nhưng không đủ năng lực), vẫn dứt khốt không tìm
Nhóm 1 12
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
tới công ty tư vấn vì lý do khá “tế nhị”, đó là khoản tiền hoa hồng mà cá nhân – người quyết định hợp
đồng mua bán – được hưởng. Nếu nhờ đơn vị tư vấn thì cá nhân đó sẽ mất đứt khoản hoa hồng kia. Bài
học về mua sắm dây chuyền sản xuất đã lỗi thời cho Nhà máy Dệt Nam Định trước đây, đến nay vẫn
còn tính thời sự nóng hổi, minh chứng rằng việc tư lợi trong hoạt động đầu tư sẽ giết chết DN.
“Doanh nghiệp bị thiệt thòi”
Phải thừa nhận một điều rằng, không phải lúc nào DN cũng bắt buộc tìm tới công ty tư vấn đầu
tư, bởi họ có những nguyên tắc về bảo mật hoạt động kinh doanh. Nhưng, để hạn chế tối đa những rủi ro
trong hoạt động đầu tư, DN không nên xem nhẹ vai trò của công ty tư vấn.
Ông Phan Tâm Tình, Giám đốc Công ty Tư vấn T.Q.M, cho biết: “Nhiều DN tư nhân có tiếp
cận dịch vụ tư vấn đầu tư nhưng tiếp cận không chính thức, hoặc sơ sài. Điều này cũng có thể dẫn tới
những hệ lụy”. Theo các công ty tư vấn, số DN tư nhân đầu tư sai vì thiếu tư vấn có rất nhiều, nhưng đại
đa số giấu nhẹm, một thời gian sau mới tìm đến công ty tư vấn để nhờ “gỡ”. Có thể kể đến trường hợp
của một DN chế biến thực phẩm - bao bì mới đây đã nhập một giàn máy đóng gói của Đài Loan với giá
hết sức “hời”. Về sau mới biết sản phẩm này đã quá đát, tuổi thọ chỉ còn vài năm. Theo ông Nguyễn
Thành Nhơn-giám đốc công ty Nhơn Hữu :“không đánh giá đúng, không sử dụng hết tính năng của thiết
bị thì cũng đã là lãng phí rồi”. Với những nguyên nhân phân tích trên, có thể thấy thị trường tư vấn đầu
tư dù rất tiềm năng nhưng đang còn bỏ ngỏ.
Các doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn thường chọn các công ty tư vấn đầu tư ngước ngồi. Trong
ảnh: Dây chuyền sản xuất sữa bột của Vinamilk.
Có hai việc có thể làm giảm thiểu rủi ro doanh nghiệp gặp phải các nhà tư vấn kém năng lực.
Đó là cần thành lập một tổ chức của các nhà tư vấn quản trị và nhà nước phải ban hành quy định chỉ có
những người đủ tư cách tham gia tổ chức này mới được hành nghề tư vấn. Tổ chức các nhà tư vấn bao
gồm thành viên của các công ty tư vấn lớn trong và ngồi nước cũng sẽ đóng vai trò trọng tài nếu như có
tranh chấp giữa người sử dụng tư vấn và nhà tư vấn. Họ cũng sẽ chịu trách nhiệm đào tạo các nhà tư vấn
tương lai.
Các cơ sở tư vấn phải làm trước một bước để tạo ra mối quan tâm cũng như sự giao lưu trong
xã hội giữa người bán và người mua công nghệ, qua các cuộc tiếp xúc này sẽ có người đứng ra làm dịch
vụ. Vì người làm dịch vụ phải là người có chuyên môn và kinh nghiệm thương trường, hiểu biết tiềm
năng của công nghệ và nhu cầu của doanh nghiệp.
Nguồn công nghệ trong nước lẫn nước ngồi không thiếu tại Việt Nam. Điều cốt yếu nhất, nhà
kinh doanh phải biết mình cần sản xuất gì, rồi từ đó mới bàn đến chọn công nghệ. Chọn công nghệ
trước là làm ngược quy trình, dễ thất bại.
Nhóm 1 13
Quản lý công nghệ Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng
Nhiều người nói, muốn hiện đại hóa phải có công nghệ mới, điều này chỉ đúng về lâu dài.
Trước mắt, đây không phải là bước đi. Đổi mới công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thị trường, lấy khả
năng cạnh tranh của sản phẩm là mục tiêu hàng đầu, vì người tiêu dùng chỉ mua sản phẩm. Công nghệ
đắt tiền chỉ cần thiết khi nó là giải pháp duy nhất làm cho sản phẩm cạnh tranh và tồn tại được.
Do đó, hiện đại hóa là quá trình từ thấp lên cao, trong đó yếu tố công nghệ được doanh nghiệp
lựa chọn theo khả năng tài chính và sức cạnh tranh của sản phẩm. Nhiều người cứ cho là phải nhập máy
móc hiện đại nhất. Trên thực tế, những doanh nghiệp hiện đại hóa thành công trong thời gian qua đều
không theo con đường "hiện đại càng nhanh càng tốt".
Chọn mua thiết bị sao cho hiệu quả không dễ dàng và lời khuyên của những người có kinh
nghiệm là hãy tham khảo ý kiến của chuyên gia tư vấn trước khi quyết định. Thực tế cho thấy, mua thiết
bị “hàng hiệu” đắt tiền không hẳn là có lợi, ngược lại chọn mua thiết bị rẻ tiền cũng chưa chắc là tiết
kiệm.
VI. Kết luận:
Trong thời kỳ công nghiệp hố, hiện đại hố (CNH-HĐH) ở nước ta, quá trình tăng cường trình
độ công nghệ và kỹ thuật tiến triển theo cả hai hướng: tăng cường công nghệ và kỹ thuật trong từng
ngành sản xuất và chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang những ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ
cao, có giá trị gia tăng lớn.
Sự tiến bộ công nghệ của nền kinh tế được thực hiện bằng cách nhập khẩu công nghệ ở nước
ngồi và tự phát triển, sáng tạo ra công nghệ tiên tiến. Trong thời kỳ đầu của quá trình CNH-HĐH đối
với một nước đang trong quá trình phát triển như Việt Nam, thì nhập khẩu công nghệ tiên tiến ở nước
ngồi là phương pháp vừa tiết kiệm thời gian, vừa tiết kiệm chi phí, nếu lựa chọn được những công nghệ
có mức độ tiên tiến thích hợp, với giá thành hạ. Điều này được gọi là lợi thế đi sau của các nước đang
phát triển.
Vấn đề nhập khẩu công nghệ tiên tiến đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, trong khi khả năng cung cấp
vốn của nền kinh tế còn hạn hẹp. Vì vậy, trong quá trình nhập khẩu công nghệ, chúng ta phải nhanh
chóng đẩy mạnh việc tiếp thu và phát triển khả năng tự chế tạo và tiến tới sáng tạo công nghệ.

Khả năng sáng tạo công nghệ là con đường duy nhất để Việt Nam cũng như các nước đang
phát triển đuổi kịp và vượt trình độ các nước công nghiệp phát triển. Và nhờ vậy, mới có thể giảm bớt
những khoản chi phí tốn kém cho việc nhập khẩu công nghệ tiên tiến. Khả năng sáng tạo công nghệ dựa
trên cơ sở óc sáng tạo và trình độ nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học ứng dụng. Nó phụ thuộc
vào tiềm năng trí tuệ của dân tộc và đòi hỏi một chính sách đầu tư lâu dài, liên tục và đúng phương
hướng vào khoa học của đất nước.
Như tất cả các nước đang phát triển có nguồn lực còn hạn chế, nước ta phải vượt qua khó khăn
trong quá trình đầu tư hiện đại hố công nghệ và kỹ thuật là tích luỹ và sử dụng tối ưu nguồn vốn. Trong
thời kỳ đầu, chúng ta đã tập trung vốn vào các ngành kinh tế với công nghệ và kỹ thuật chưa phải tiên
tiến và đòi hỏi nguồn vốn thấp để phát huy lợi thế so sánh về lao động so với các nước phát triển hơn.
Tuy nhiên, để vượt qua trạng thái của nền kinh tế có trình độ công nghệ thấp, trong thời kỳ tới, chúng ta
phải có chiến lược nâng cao trình độ khoa học và công nghệ để tối ưu hố chất lượng sản phẩm và hiệu
quả của nền kinh tế. Đây chính là mô hình phát triển "xuất khẩu tịnh tiến" bằng động lực khoa học và
công nghệ. Việc nâng cao trình độ công nghệ và kỹ thuật của nền kinh tế phải được thực hiện đồng thời
bằng hai quá trình: a/ Nâng dần trình độ công nghệ và kỹ thuật của các ngành sản xuất dể có thể phá vỡ
trạng thái dừng của các ngành này, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sản lượng và thu nhập của lao
Nhóm 1 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét