5
G.Mêliê viết vào cuối đời, những ước mơ của muôn dân muốn xóa bỏ tư hữu và bóc
lột hòa trộn với việc chống tôn giáo trên quan điểm duy vật, với việc kêu gọi lật đổ
chế độ hiện tồn bằng cách mạng.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng đạt đến đỉnh cao của nó vào đầu thế kỷ XIX
trong các học thuyết của ba nhà không tưởng vĩ đại – Xanh Ximông, Phuriê, Ôoen.
Bằng những tác phẩm của mình, ba nhà không tưởng này đã phê phán kịch liệt chế độ
tư sản, đặt ra vấn đề nhất thiết phải thay thế xã hội tư bản bằng xã hội xã hội chủ
nghĩa; đồng thời nêu ra một loạt những tư tưởng có giá trị về sự phát triển của xã hội
tương lai – xã hội xã hội chủ nghĩa, điều mà các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa
học, C.Mác và Ph.Ăngghen, sau này đã tiếp thu. Tuy nhiên, ba nhà không tưởng vĩ
đại đó cũng không vượt lên được những hạn chế của lịch sử, không thế thay đổi được
màu sắc duy tâm và không tưởng trong học thuyết của họ.
Là sản phẩm của thời đại mình, Mác và Ăngghen đã phát huy cao độ vai trò của
nhân tố chủ quan. Sự uyên bác về trí tuệ giúp hai ông có thể sớm hòa nhập vào dòng
tư duy của nhân loại, tiếp thu có chọn lọc và phát triển sáng tạo những giá trị tư tưởng
trước đó và đương thời.
Các Mác và Ph.Ăngghen đã tổng kết sâu sắc toàn bộ lịch sử loài người về các
thành tựu của khoa học tư nhiên và khoa học xã hội, lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc
biệt là nghiên cứu, tổng kết chủ nghĩa tư bản, về thực tiễn phong trào công nhân. Trên
cơ sở đó hai ông xây dựng nên các học thuyết, các hệ thống lý luận về phương pháp
nhận thức và cải tạo thế giới, về giải phóng giai cấp công nhân đồng thời giải phóng
xã hội loài người khỏi mọi áp bức, bóc lột và mọi sự tha hóa, về cách mạng cộng sản
chủ nghĩa, về xây dựng một xã hội “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là
điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Với Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản được xuất bản lần đầu vào tháng 3/1848 - giai cấp vô sản thế giới - lực
lượng sản xuất tiên tiến của thời đại - đã chính thức khai sinh Hệ tư tưởng của riêng
mình. Từ nay, hoạt động của các tổ chức cộng sản - Bộ tham mưu của giai cấp vô sản
đã có sự hướng dẫn của một cương lĩnh chung. Cũng từ đây, chủ nghĩa xã hội đã
không còn là những nguyện vọng chủ quan, những ước mơ trừu tượng, viển vông
6
Vậy là, nhờ có Tuyên ngôn, chủ nghĩa xã hội đã chuyển từ không tưởng thành khoa
học.
7
PHẦN NỘI DUNG
I. Giới thiệu chung
1. Tóm tắt tiểu sử của C.Mác và Ph. Ăngghen
Các Mác:
C.Mác sinh ngày 5 tháng 5 năm 1918 trong một gia đình luật sư tại thành phố
Tơria, tỉnh Ranh, nước Đức. Tuy không có khuynh hướng cách mạng nhưng bố của
C.Mác là người đánh giá cao phái Khai sáng Pháp thế lỷ XVIII và chế độ dân chủ tư
sản được xác lập ở Pháp. Nghề nghiệp, tư tưởng và tình cảm của ông ảnh hưởng rất
nhiều đến cuộc đời Mác.
Năm 1835, Mác tốt nghiệp trung học ở Tơria, vào học ngành luật tại Đại học
Tổng hợp Bon. Một năm sau, năm 1836, ông chuyển đến Béc-lin tiếp tục học luật tại
Đại học Tổng hợp Béc-lin. Thời gian này, cùng với việc học luật, Mác rất đam mê
nghiên cứu triết học, lịch sử, học tiếng Anh, tiếng Italia và dịch những tác phẩm cổ
điến sang tiếng Đức.
Năm 1837, Mác nghiên cứu triết học của Hêghen, tham gia phái “Hêghen trẻ”.
Cho đến lúc này, Mác còn là con chiên ngoan đạo và chịu nhiều ảnh hưởng thế giới
quan duy tâm của Hêghen.
Năm 1841, Mác tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Béc- lin, sau đó ông nhận bằng
Tiến sĩ Triết học bằng luận án “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit và
triết học tự nhiên của Êpiquya”.
Mác đến Bon định làm phó giáo sư cho trường đại học này, song đây là lúc
nhiều giáo sư tiến bộ bị gạt khỏi việc giảng dạy nên Mác từ bỏ ý nghĩ về giảng
đường. Ông đến với báo chí, dùng báo chí làm diễn đàn tuyên truyền quan điểm dân
chủ - cách mạng của mình. Thời gian này, Mác bắt đầu nghiên cứu triết học của
Phoiơbắc.
Năm 1842, Mác trở thành cộng tác viên rồi biên tập viên của “Nhật báo tỉnh
Ranh”. Tháng 11 năm 1842, lần đầu tiên Mác gặp Ăngghen.
Năm 1843, Mác rút khỏi ban biên tập “Nhật báo tỉnh Ranh”, tham gia xuất bản
tạp chí “Niên giám Pháp – Đức” tại Pari. Trong năm này, Mác thành hôn với Gieni
phôn Vextơphalen.
Năm 1844, Mác gặp gỡ các nhà hoạt động chính trị Nga như M.Bacunin,
V.Bootskin… năm 1844 là năm đánh dấu bước chuyển biến hoàn toàn thế giới quan
của Mác, gắn liền với sự thay đổi lập trường giai cấp của ông: từ chủ nghĩa dân chủ -
8
cách mạng chuyển sang chủ nghĩa cộng sản. Lập trường mới của Mác được đánh dấu
trong các tác phẩm: Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Lời nói đầu
“Về vấn đề Do Thái”.
Tháng 8 năm 1844, Mác gặp lại Ăngghen lần thứ hai tại Pari. Năm 1845, theo
yêu cầu của chính phủ Phổ, Mác bị trục xuất khỏi Pari, phải chuyển sang sống ở
Brucxen (Bỉ). Tại đây, Mác tham gia tổ chức Đồng minh những người cộng sản. Khi
cách mạng 2-1848 nổ ra, Mác lại bị trục xuất khỏi Bỉ, trở về Pari. Tháng 6-1848, Mác
lại bị trục xuất khỏi Pari, phải chuyển đến Luân Đôn. Mác sống ở đây đến cuối đời
(14-3-1883).
Phriđrich Ăngghen:
Ăngghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 trong một gia đình chủ xưởng dệt ở
thành phố Bácmen thuộc tỉnh Ranh nước Đức.
Năm 1837, Ăngghen bỏ học khi chưa học xong năm cuối cùng bậc trung học,
Ông bắt đầu làm nhân viên cho hãng buôn của bố ở Bacmen.
Trong thời gian từ 1838 đến 1841 ông sống ở Bacmen và tự học. Năm 1841,
Ăngghen tới Beclin làm nghĩa vụ quân sự và học dự thính ở Đại học Tổng hợp. Năm
1842, hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Ăngghen trở về Bacmen. Cùng năm, ông sang
Anh để tìm hiểu về việc buôn bán tại xưởng dệt vải ở Manchesto. Trên đường đi, ông
ghé thăm tòa soạn “Nhật báo tỉnh Ranh”. Tại đây ông gặp Các Mác lần đầu tiên.
Cuối tháng 8 đầu tháng 9 -1844, Ăngghen đến Pari gặp Mác. Lần gặp gỡ thứ hai
này đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của Mác và Ăngghen, bắt đầu quá
trình cộng tác của hai người.
Tại Pari, Ăngghen và Mác cùng viết Gia đình thần thánh. Năm 1845, Ăngghen
về Đức xuất bản cuốn Tình cảnh giai cấp công nhân Anh. Mùa xuân 1845, Ăngghen
sang Bỉ cùng Mác viết Hệ tư tưởng Đức. Thời gian 1845 – 1847, Ăngghen ở Bỉ tham
gia Đồng minh những người cộng sản và viết Những nguyên lý chủ nghĩa cộng sản.
Sau đó, Ăngghen cùng Mác viết Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848.
Tháng 2 – 1848, Ăngghen sang Pari. Đầu tháng 4 – 1848, Mác và Ăngghen cùng
một số bạn chiến đấu về Đức trực tiếp tham gia đấu tranh cách mạng. Ngày 3 – 10 –
1848, cảnh sát Phổ truy bắt Ăngghen, Ăngghen buộc phải lánh sang Bỉ nhưng lại bị
cảnh sát Bỉ bắt và trục xuất. Tháng 1 – 1849, Ăngghen trở về Đức. Ngày 10 – 5 –
1849, Ăngghen tham gia cuộc khởi nghĩa nhân dân ở Enbecphen. Chính phủ Đức trục
9
xuất Mác (16 – 5 – 1849) và ra lệnh bắt giam Ăngghen. Trước tình hình căng thẳng
đó, Mác và Ăngghen đều phải rời quê hương. Sau khi Mác mất, Ăngghen hoàn chỉnh
và cho xuất bản quyển 2 và quyển 3 của bộ Tư bản. Từ mùa đông 1850 đến mùa thu
1870, Ăngghen đến sống tại Mancheser. Sau đó ông chuyển tới Luân đôn. Ngày 5 – 8
– 1895, Ăngghen qua đời tại đây.
2. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Giữa thế kỷ thứ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đạt tới trình độ
phát triển: Đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở một số nước châu Âu.
Cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp vô sản hiện đại ra đời và
sớm bước lên vũ đài đấu tranh chống lại giai cấp tư sản.
Trong những năm 30 và 40 của thế kỷ XIX, ở một số nước tư bản phát triển, giai
cấp vô sản đã vùng lên đấu tranh chống lại giai cấp tư sản đòi thực hiện những yêu
sách của mình cả về kinh tế lẫn chính trị. Tiêu biểu cho sự phát triển của phong trào
vô sản là những cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Lyông (Pháp) năm
1837; cuộc nổi dậy của công nhân dệt vùng Xilêdi (Đức) năm 1844; phong trào Hiến
chương ở Anh kéo dài 10 năm (1838 - 1848). Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh
của giai cấp vô sản đòi hỏi một cách bức thiết phải có một hệ thống lý luận soi đường
và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1847, Đại hội lần thứ hai Liên đoàn những
người cộng sản đã thảo luận và thông qua những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản
do Mác và Ăngghen trình bày. Trên cơ sở sự nhất trí ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen được
Đại hội ủy nhiệm thảo ra bản tuyên ngôn chính thức.
Cuối tháng giêng năm 1948, Mác hoàn thành việc biên soạn. Bản thảo được gửi
đi Anh. Việc công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng là thông báo về sự ra đời
của một học thuyết cách mạng, một thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác. Lần
đầu tiên trong lịch sử loài người thực hiện được cuộc cách mạng tư tưởng với đỉnh
cao của trí tuệ khám phá và hệ thống hóa những quy luật vận động của giới tự nhiên,
xã hội và tư duy của con người. Toàn bộ thành tựu trí tuệ của loài người được tổng
kết, khái quát.
II. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – sự khẳng định những nguyên lý của chủ nghĩa
xã hội khoa học
10
Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản không những là cương lĩnh của một Đảng cộng
sản đầu tiên, mà còn là một tác phẩm khoa học lớn, trong đó lần đầu tiên, những quan
điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác đã được trình bày một cách chặt chẽ và có hệ thống.
V.I.Lê Nin nhận xét rằng: “tác phẩm này trình bày một cách hết sức sáng sủa và rõ
ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa duy vật này bao quát cả
lĩnh vực sinh hoạt xã hội, - phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất
và sâu sắc nhất về sự phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng –
trong lịch sử toàn thế giới – của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo ra một xã hội
mới, xã hội cộng sản” (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát cơ va, 1980, Tập 26,
Trang 57)
Lời chỉ dẫn đó của Lênin giúp chúng ta định hướng nghiên cứu nội dung Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản với tính cách là bản khai sinh của chủ nghĩa xã hội khoa
học: Nội dung của nó thể hiện ở 6 vấn đề chủ yếu sau:
1) Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là kết quả tổng hợp tập trung tất cả những nhận
thức khoa học mới mẻ, đúng đắn và đạt đến đỉnh cao của học thuyết Mác
Lý luận của chủ nghĩa Mác với tất cả các bộ phận hợp thành của nó và các nội
dung tiêu biểu nhất đã được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm với ý nghĩa đánh dấu sự
ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Thật vậy, trong Tuyên ngôn và đến Tuyên ngôn, lần đầu tiên đã trình bày một
cách sáng tỏ và thuyết phục, tập trung và cô đọng, hoàn chỉnh và đầy đủ, toàn diện và
có hệ thống những nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác: Triết học duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, kinh tế chính trị chọ mác xít và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Khái quát toàn bộ kết quả quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc công phu và
hoạt động thực tiễn chính trị sôi động nhiệt tình của mình trong suốt những năm 40
thế kỷ XIX. Mác và Ăngghen đã chỉ rõ trong Tuyên ngôn hàng loạt vấn đề cơ bản
quan trọng. Đó là việc phân tích quy luật kinh tế - xã hội cơ bản của chủ nghĩa tư bản,
từ đó rút ra chiều hướng vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chế độ xã hội
ấy; đồng thời gắn liền với điều này là thắng lợi tất yếu của cuộc cách mạng cộng sản
với sự ra đời của xã hội mới cộng sản chủ nghĩa. Đó là việc luận chứng cho vai trò
cách mạng mang tính lịch sử thế giới của giai cấp vô sản trong việc lật đổ chế độ tư
11
bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản; để hoàn thành sứ mạng cao cả tự giải phóng, đồng
thời giải phóng toàn nhân loại, giai cấp vô sản phải tự tổ chức được chính đảng cộng
sản của mình làm đội tiên phong lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản,
phải giành lấy dân chủ, trở thành giai cấp thống trị, tức là nắm chính quyền để cải tạo
xã hội cũ xây dựng xã hội mới…
Ở đây, thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mà Mác và Ăngghen
đạt được là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt tất cả các chương trình của tác phẩm. Nhờ đó, hai
ông đã phân tích sâu sắc và chính xác quá khứ, hiện tại, tương lai của xã hội loài
người.
Về sau, đến 1886, Ăngghen đã khẳng định “ Những quan điểm của chúng tôi về
sự khác nhau giữa một xã hội tương lai, không tư bản chủ nghĩa và xã hội hiện nay, là
những kết luận chính xác rút ra từ những sự thật và quá trình phát triển của lịch sử và
một khi những kết luận đó không được trình bày gắn liền với những sự thật và sự
phát triển đó thì chúng sẽ không có giá trị gì về lý luận cũng như về thực tiễn”
(C.Mác. Ph.Ăngghen: Toàn tập, Beclin,1973, t36, tr 429).
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã thể hiện hoàn toàn đầy đủ lý luận và phương
pháp luận đúng đắn đó của Mác và Ăngghen.
2) Tuyên ngôn Đảng cộng sản làm sáng tỏ sự ra đời của giai cấp vô sản như một nấc
thang quy định của lịch sử
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Ăngghen đã làm sáng tỏ sự ra đời
của giai cấp vô sản với tính cách là một nấc thang quy định của lịch sử trong tiến
trình phát triển của giai cấp và của cuộc đấu tranh giai cấp, và bắt nguồn từ trình độ
phát triển của sản xuất. Dựa trên quan niệm duy vật về lịch sử, Mác và Ăngghen nhận
thấy, xét đến cùng thì nhân tố kinh tế có vai trò quyết định sâu xa nhất của lịch sử. Dĩ
nhiên, đây không phải là nhân tố duy nhất. Các ông đã phát hiện ra quy luật phổ quát
của lịch sử là mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chính giai
cấp tư sản đã tạo nên một lực lượng sản xuất xã hội hóa cao chưa từng thấy và giai
cấp vô sản chính là con đẻ của nền đại công nghiệp cơ khí lúc bấy giờ. Nó cũng là
nhân tố hàng đầu trong lực lượng sản xuất xã hội hóa đó. Chế độ tư hữu tư sản và
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nói chung mang bản chất tư hữu chật hẹp, nó
không thể chứa đựng nổi lực lượng sản xuất xã hội hóa ngày càng rộng lớn và giai
12
cấp vô sản cách mạng chính là nhân tố vật chất, mà rốt cuộc thì lịch sử cũng đã tìm
thấy, để xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xác lập nên một chế độ sở hữu xã hội
về tư liệu sản xuất, phù hợp với lực lượng sản xuất xã hội hóa đã nêu. Chính vì thế
Mác và Ăngghen nói rằng, giai cấp tư sản đã tạo ra một thế lực giết chết mình ngoài ý
muốn: “giai cấp tư sản không những đã rèn luyện những vũ khí sẽ giết mình; nó còn
tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy, chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại,
những người vô sản” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995, tr.605); “giai cấp tư sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó”
(Sđd, tr.613). Sự xuất hiện giai cấp tư sản và giai cấp vô sản và mâu thuẫn không thể
điều hòa của hai giai cấp đó đã được luận chứng từ sự ra đời của nền sản xuất lớn
bằng máy móc và trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Các ông chứng minh rằng, sự cải biến tất yếu toàn bộ các quan hệ xã hội để giải
phóng hoàn toàn con người về mặt xã hội là sứ mệnh lịch sử cũng là lợi ích của giai
cấp vô sản. Chương đầu đã chứng minh rằng, sự thay thế xã hội bóc lột bằng xã hội
không còn bóc lột, xã hội cộng sản chủ nghĩa nhằm phát triển toàn diện con người là
một tất yếu của lịch sử.
Xã hội cộng sản chủ nghĩa – xã hội bảo đảm một sự phát triển cao của con người
– là sự tiếp nối duy nhất có triển vọng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Chủ nghĩa cộng sản không đơn giản là sự thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa, mà là sự
phủ định một kiểu sinh hoạt xã hội có đặc điểm cố hữu là sự tồn tại tình trạng áp bức,
bóc lột và sự thống trị của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Chủ nghĩa xã hội mở ra
một kiểu sinh hoạt xã hội hoàn toàn mới của con người, là sự mở đầu lịch sử thật sự
của loài người. Những tiền đề vật chất và tinh thần cho xã hội cộng sản chủ nghĩa,
trong đó con người ngày càng là người làm chủ các điều kiện sinh hoạt và đời sống
của mình, đã xuất hiện trong toàn bộ tiến trình lịch sử loài người cho đến nay.
Trong Tuyên ngôn có viết: “ Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và
đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của
mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (C.Mác và
Ph.Ăng ghen: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.628). Đây là
bằng chứng cho thấy giá trị nhân văn cao cả của chủ nghĩa xã hội khoa học được thể
13
hiện nổi bật trong Tuyên ngôn. Đây cũng chính là mục đích mà nhân loại phấn đấu để
đạt được. Sự phát triển của sản xuất, kinh tế, sự thay thế một thể chế chính trị lạc hậu,
lỗi thời bằng một thể chế dân chủ pháp quyền cũng như sự phát triển các lĩnh vực xã
hội khác và văn hóa nói chung đều là những điều kiện, những phương thức cần thiết
nhằm vào mục tiêu vì sự phát triển tự do và hạnh phúc của mỗi cá nhân và cả xã hội
loài người.
Những nhân tố tiến bộ về vật chất và tinh thần của lịch sử giờ đây đã đạt tới
trình độ phát triển mạnh mẽ, chín muồi để tạo ra một thời kỳ xóa bỏ chế độ bóc lột đã
tồn tại hàng ngàn năm, giải phóng mọi người lao động thoát khỏi ách áp bức, bóc lột.
Công cuộc giải phóng mọi người lao động thoát khỏi ách áp bức bóc lột gắn liền với
việc xây dựng một xã hội cộng sản, với cơ sở xã hội của nó là giai cấp vô sản. Đặc
trưng đó của xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa xuất phát từ sự phân tích
vị trí xã hội – chính trị của con người trong xã hội tư sản và phản ánh liên tục của quá
trình giải phóng con người mà Mác và Ăngghen đã phát hiện.
3) Tuyên ngôn Đảng cộng sản phân tích một cách khoa học và sâu sắc về giai cấp vô
sản
Trước Mác và Ăngghen, người ta chưa có khái niệm rõ về vô sản , thường hiểu
đó là những người nghèo bị áp bức, boc lột trong các công trường thủ công và trong
nền công nghiệp đang phát triển, bao gồm cả tầng lớp lưu manh, lười biếng, khổ sở…
Trong lần tái bản 1888, Ăngghen đã nói rõ: “ Giai cấp vô sản là giai cấp những
người công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc
phải bán sức lao động của mình để sống”.
Giai cấp vô sản là giai cấp lao động và là sản phẩm của nền đại công nghiệp.
Gắn liền với sự hình thành và xác lập của giai cấp vô sản, một quy luật vận động và
phát triển cơ bản của giai cấp vô sản – một điều kiện quan trọng đối với sự trưởng
thành của giai cấp đó – đã được nêu lên là: cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị. Về
sau này, Mác đã giải thích: “Giai cấp công nhân hoặc là cách mạng hoặc chẳng là gì
hết” (C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập, Béclin, t31, tr77).
Mác và Ăngghen nêu lên một nhận thức quan trọng của chủ nghĩa xã hội khoa
học là: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai
14
cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng” (C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t4, tr 610). Vấn đề là ở chỗ tại sao giai cấp vô sản cách
mạng lại có được sứ mệnh lịch sử này, chứ không phải bất kỳ một giai cấp nào khác.
Theo Mác và Ăng-ghen, giai cấp vô sản sở dĩ là một giai cấp cách mạng không phải
vì nó nghèo khổ mà vì : “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với
sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân
nền đại công nghiệp” (Sđd, tr 610). Bởi thế nó tiêu biểu cho một phương thức sản
xuất đang lên của lịch sử. Phương thức đó chính là lực lượng sản xuất xã hội hóa
rộng lớn sẽ quy định và làm xuất hiện một quan hệ sản xuất mới cũng mang tính chất
xã hội hóa tương ứng.
Việc hình thành quan điểm duy vật về lịch sử và sự vận dụng quan điểm đó đề
làm sáng tỏ vai trò lịch sử giai cấp vô sản đã tạo ra khả năng khắc phục quan niệm
của những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thường nhìn nhận giai cấp vô sản chỉ là
giai cấp nghèo khổ. Theo Mác và Ăng-ghen, nghèo khổ chỉ là trạng thái mà giai cấp
vô sản cách mạng phải xóa bỏ bằng cách mạng để tự giải phóng mình và giải phóng
cho toàn nhân loại, nhằm xóa bỏ bóc lột, áp bức, nô dịch, tức là xóa bỏ tình trạng tha
hóa, nghèo khổ không tự động dẫn đến cách mạng. Những giai cấp nghèo khổ không
đồng nhất với giai cấp cách mạng. Chỉ có giai cấp vô sản cách mạng mới tự ý thức
sâu sắc về thân phận nô lệ của mình và xóa bỏ nó, như Mác nói, là xóa bỏ cái trật tự
bất công hiện tồn. Mác và Ăngghen đã khẳng định rằng, giai cấp vô sả cách mạng
chính là giai cấp có khả năng, có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và các tàn
tích tiền tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội – chủ nghĩa cộng sản.
Tiếp tục mở rộng nhận thức đó để thấy được sự thống nhất của phong trào công
nhân với chủ nghĩa xã hội khoa học, tháng 10-1847, Ăngghen đã viết: “Chủ nghĩa
cộng sản, ở mức độ nó là lý luận, là sự biểu hiện lý luận của lập trường của giai cấp
vô sản trong cuộc đấu tranh đó (tức là cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp
tư sản) và sự khái quát lý luận về những điều kiện giải phóng của giai cấp vô sản”
(Sđd, tr 399). Nhận định đó đã làm sáng tỏ cơ sở tồn tại và bản chất của chủ nghĩa xã
hội khoa học.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét