Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Những mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”

Tiểu luận triêt học
động cho nhà tư bản để kiếm sống; còn giai cấp tư sản là một số ít người nắm
trong tay một số lượng tư bản lớn, những người này xây dựng nhà xưởng,
mua máy móc,…và thuê nhân công với mục đích thu được lợi nhuận tối đa,
họ trở thành những nhà tư bản. Nếu nhà tư bản không bóc lột công nhân làm
thuê thì họ không thể trở thành giai cấp tư sản, còn người vô sản không bán
sức lao động để kiếm sống thì cũng không thể trở thành giai cấp vô sản. Vậy,
hai mặt đối lập này cùng song song tồn tại trong xã hội tư bản và mặt đối lập
này làm tiền đề cho sự tồn tại của mặt đối lập kia và ngược lại.
Các mặt đối lập không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có
nhân tố thống nhất với nhau. Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối
lập” còn bao hàm cả sự “đồng nhất” của các mặt đó. Do có sự “đồng nhất”
của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó,
các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau.
Sự thống nhất của các mặt đối lập không tách rời sự đấu tranh của các
mặt đối lập. Mỗi sự vật hay hiện tượng là một thể thống nhất của hai mặt đối
lập, hai mặt đó liên hệ với nhau, có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau,
nên chúng không nằm yên ở bên nhau mà bài trừ lẫn nhau, phủ định lẫn nhau.
Đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập. Hình thức đấu tranh của các mặt đối
lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối quan hệ qua
lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh của
chúng.
Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất của các mặt đối lập, các
mặt đối lập này luôn “đấu tranh” với nhau tạo thành mâu thuẫn. Như vậy mâu
thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “ sự thống nhất” và “sự đấu tranh” của các
mặt đối lập. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời
nhau, trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền
với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều đó có nghĩa là: sự thống
nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời; sự đấu tranh của các mặt đối
lập là tuyệt đối.
Như vậy, tính tương đối của sự thống nhất của các mặt đối lập nói lên
rằng mọi sự vật chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, có phát sinh, phát
triển rồi tiêu vong. Tính tuyệt đối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên
sự vận động, phát triển không ngừng của thế giới vật chất, quá trình chuyển
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
5
Tiểu luận triêt học
từ dạng này sang dạng khác luôn luôn diễn ra, không ngừng.
Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt
đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và
làm cho mâu thuẫn phát triển. Ban đầu, các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện
tượng mang những đặc điểm khác nhau, nhưng phát triển theo những khuynh
hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và đi đến đối
lập nhau, phủ định và bài trừ lẫn nhau. Khi điều kiện đã chín muồi các mặt
đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau và mâu thuẫn được giải quyết. Khi mâu thuẫn
được giải quyết thì thể thống nhất cũ sẽ được thay thế bằng thể thống nhất
mới; sự vật cũ mất đi nhường chỗ cho sự vật mới ra đời. Trong sự vật mới lại
tồn tại những mặt đối lập mới, những mặt đối lập này chỉ tồn tại thống nhất
với nhau và luôn luôn “đấu tranh” với nhau. V.I.Lênin viết: “ Sự phát triển là
một cuộc “ đấu tranh” giữa các mặt đối lập”. Tuy nhiên, không có thống nhất
của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện
chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn
định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định
tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc
của sự vận động và sự phát triển.
Ý nghĩa phương pháp luận
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực
tiễn.
Khi xem xét một sự vật, hiện tượng phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra
mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng để từ đó nhận thức đúng bản chất sự vật và
tìm ra phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn. Muốn vậy, phải tìm ra
những mặt đối lập trong thể thống nhất và tìm ra những mối liên hệ, tác động
qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó. Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem
xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động
qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng.
Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu
thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn. Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn
phải phù hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải
quyết khi điều kiện đã chín muồi. Phải chống thái độ chủ quan, nóng vội,
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
6
Tiểu luận triêt học
đông thời phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các
điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi. Mâu thuẫn khác nhau phải
có phương pháp giải quyết khác nhau. Phải tìm ra các phương pháp giải quyết
mâu thuẫn một cách linh hoạt, triệt để phù hợp với từng mâu thuẫn và phù
hợp với từng điều kiện cụ thể.
2. Vận dụng quy luật mâu thuẫn để phân tích những mâu thuẫn biện
chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
a. Một số vấn đề lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Những nét khái quát về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong
đó toàn bộ các yế tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua trhj
trường. Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau,
chúng khác nhau về trình độ phát triển.
Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
còn mang nặng tính tự túc tự cấp, vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá
vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển thành nền kinh tế hoàng hoá thúc đẩy sự xã
hội hoá sản xuất. Kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển.
Phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế đối với nước ta, một
nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta thành
nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con
đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm
năng của đất nước vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Thực tiễn những năm đổi mới đã chứng minh rằng, việc chuyển sang
nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chúng ta đã bước đầu khai thác được
tiềm năng trong nước và thu hút được vốn, kỹ thuật, công nghệ của nước
ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất, góp phần quyết định vào việc ổn
định tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong thời gian qua.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang
xây dựng không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cũng chưa hoàn
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
7
Tiểu luận triêt học
toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, chúng ta còn đang ở trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái
cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa có đầy đủ yếu tố xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam một
mặt có những tính chất chung của nền kinh tế thị trường, mặt khác kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được dẫn
dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có những đặc trưng:
- Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là giải
phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong và ngoài nước để thực
hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, từng bước cải thiện đời sống
nhân dân.
- Nền kinh tế thị trường ở nước ta gồm nhiều thành phần trong đó kinh tế
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế tồn tại một cách khách
quan và là những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường
ở nước ta đã quyết định thành phần kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo
trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện
nhiều hình thức phân phối trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu.
- Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa.
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng là
nền kinh tế mở hội nhập.
b. Một số mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Chúng ta không thể phủ nhận những vai trò to lớn của nền kinh tế thị
trường định trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã
xuất hiện những mâu thuẫn. Mà việc giải quyết những mâu thuẫn này có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiếp tục đưa công cuộc đổi mới của nước
ta tiến lên. Có thể chia các mâu thuẫn này thành hai nhóm như sau:
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
8
Tiểu luận triêt học
Một số mâu thuẫn phát sinh từ bản thân nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
• Một là, mâu thuẫn trong sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế
với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Khi chúng ta nói tới thời kỳ quá độ là chúng ta nói đến giai đoạn lịch
sử giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã nắm được chính quyền, đưa
đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nhưng cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa lại
chưa xác lập hoàn chỉnh, chưa giữ được địa vị thống trị trong xã hội. Trong
thời kỳ đó, có sự đan xen của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa và thành
phần kinh tế tư bản chủ nghãi. Đó chính là thời đấu tranh của những xu
hướng tư bản chủ nghĩa và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những xu
hướng và mục tiêu này tạo thành một cuộc đấu tranh xuyên suốt thời kỳ quá
độ. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Nghị quyết Đại hội Đảng IX chỉ rõ: chúng ta chấp nhận sự tồn tại của
nhiều thành phần kinh tế, của nhiều hình thức sử hữu về tư liệu sản xuất, tức
là chấp nhận thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, thừa nhận các hình thức sở
hữu và kinh doanh có thuê mướn lao động và có sự bóc lột sức lao đông. Điều
này mâu thuẫn với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là xoá bỏ bóc lột. Mâu
thuẫn này mang tính khách quan, vốn có của nền kinh tế thị trường. Đi sau nó
là mâu thuẫn gữa chủ- thợ, giữa các thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư
nhân với các thành phần kinh tế dựa trên sở hữu công cộng,…Đảng và Nhà
nước ta đã sử dụng những chủ trương, chính sách, chế độ theo định hướng xã
hội chủ nghĩa để một mặt phát huy vai trò của mọi thành phần kinh tế, gắn kết
các thành phàn kinh tế, một mặt hạn chế những điểm tiêu cực của các thành
phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu, và giữa bản chất bóc lột của thành phần
kinh tế tư bản với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế đều bình
đẳng trước pháp luật, nhưng lại chưa có vai trò, vị trí như nhau trong quá
trình hình thành và xây dựng chế độ kinh tế - xã hội mới. Bên cạnh quan hệ
thống nhất có liên quan mật thiết đến nhau của các thành phần kinh tế còn tồn
tại những mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế như: thiếu bình đẳng trong
cấp phát vốn, trong tìm thị trường tiêu thụ; trong quá trình cạnh tranh,…
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
9
Tiểu luận triêt học
Những mâu thuẫn này một mặt tạo động lực và tiền đề cho sự phát triển của
nền kinh tế, mặt khác chúng tạo ra bước cản trở đối với các thành phần kinh
tế. Mâu thuẫn trong các thành phần kinh tế của nước ta hiện nay được biểu
hiện giữa một bên là lực lượng và khuynh hướng phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa với một bên là khuynh hướng tự phát, không theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Các chủ thể kinh tế vì quyền lợi kinh tế của mình đã
lợi dụng các kẽ hở của pháp luật để làm giàu một cách không chính đáng.
Một bộ phận các doanh nghiệp vì lợi ích kinh doanh đã bỏ qua “định hướng
xã hội chủ nghĩa” khi tham gia vào thị trường. Bằng mọi thủ đoạn, họ sẵn
sàng làm mọi việc để thu được lợi nhuận tối đa kể cả việc vi phạm pháp luật.
Mặt khác, cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế còn là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến sự độc quyền và phá sản, mà tình trạng độc quyền lại
thường xảy ra trong bộ phận doanh nghiệp Nhà nước-thành phần kinh tế vốn
chưa có khả năng cạnh tranh cao. Điều này đi ngược với mục tiêu xoá bỏ độc
quyền, xoá bỏ cạnh tranh trái pháp luật. Đây là một trong những bài toán nan
giai trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
• Hai là, mâu thuẫn trong quá trình phân phối thu nhập
Xuất phát từ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, và từ đặc
điểm kinh tế - xã hội của đất nước, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập. Sở dĩ có điều đó là vì
nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, có nhiều hình
thức sở hữu khác nhau nên tất yếu phải có các hình thức phân phối thu nhập
phù hợp; nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều phương thức kinh doanh khác
nhau, các chủ thể kinh tế đều có sự khác nhau về sở hữu vốn, tư liệu sản xuất,
trình độ chuyên môn,…Theo quan điểm của Đảng ta: “ kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và
hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác
vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”. Như vậy, việc phân
phối ở đây được thực hiện theo hai nguyên tắc cở bản: bình đẳng và hiệu suất.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữa bình
đẳng và hiệu suất thường mâu thuẫn với nhau. Nó tạo ra mâu thuẫn trong
phân phối thu nhập của xã hội. Phân phối theo lao động về nguyên tắc vẫn là
sự bình đẳng trong khuôn khổ “ pháp quyền tư sản”, tức là sự bình đẳng trong
xã hội sản xuất hàng hoá, theo nguyên tắc sự trao đổi hoàn toàn ngang giá và
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
10
Tiểu luận triêt học
lợi ích của người sản xuất là tỷ lệ với sức lao động mà người ấy đã bỏ ra trong
quá trình lao động. Sự bình đẳng đó còn thiếu sót vì với một công việc ngang
nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội
thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu
hơn người kia. Hơn nữa, trong xã hội luôn có một bộ phận dân số “ăn bám”;
đó là những người già không có khả năng lao động, đó là những thiếu niên
chưa có khả năng lao động và thậm chí có rất nhiều người thất nghiệp. Do đó,
họ không thể có được lợi ích như những người lao động bình thường khác.
Chúng ta sử dụng phân phố theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế để tạo
yếu tố thúc đẩy tính năng động, tích cực của người lao động. Nhưng chính
việc phân phối này lại tạo ra khoảng cách ngày một lớn giữa các chủ thể kinh
tế, tạo nên sự bất bình đẳng giữa họ.Thực trạng này dẫn đến sự phân hoá giàu
nghèo giữa các bộ phận dân cư trong xã hội, giữa thành thị và nông thôn. Nếu
chúng ta giữ sự phân hoá này ở một mức độ phù hợp nhất định thì sẽ là yếu tố
kích thích các chủ thể kinh tế, các vùng miền cạnh tranh lành mạnh cùng phát
triển. Nhưng nếu để hố phân hoá giàu nghèo ngày một sâu thì sẽ gây nên các
xung đột xã hội làm cho xã hội mất ổn định, dẫn đến suy thoái kinh tế.
Để khắc phục tình trạng ngày, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra các chủ
trương, biện pháp nhằm tạo ra tính công bằng trong phân phối, dần dần thu
hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân lao động, giữa các
vùng miền như ưu tiên cho hiệu quả có chiếu cố đến công bằng khi phân phối
lần đầu, còn khi phân phối lại thì thẻ hiện công bằng nhiều hơn. Cụ thể đó là:
loại bỏ khuynh hướng bình quân chủ nghĩa; thực hiện phân phối theo lao
động với phương châm làm nhiều hưởng nhiều, mức lương và cơ cấu lương
do đơn vị tự quyết định, mức thù lao trả cho người lao động chủ yếu do cơ
chế cạnh tranh thị trường quyết định; thận trọng cải cách động bộ các chính
sách giá cả, nhà ở chữa bệnh và bảo hiểm xã hội, từng bước nâng cao mức
lương; đồng thời chuyển thu nhập ngoài lương thành thu nhập lương, chuyển
thu nhập hiện vật thành thu nhập tiền tệ, công khai mức lương và mức thu
nhập xã hội.
• Ba là, mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ
của lực lượng sản xuất.
Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của
đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Phương thức sản xuất
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
11
Tiểu luận triêt học
chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và
quan hệ sản xuất tương ứng. Trong phương thức sản xuất thì lực lượng sản
xuất là yếu tố năng động nhất, phát triển không ngừng, quyết dịnh quan hệ
sản xuất. Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy, suy cho cùng lực lượng sản xuất
quyết định mọi mặt đời sống xã hội, quyết định mọi sự biến đổi từ thấp đến
cao của lịch sử loài người, của các hình thái kinh tế - xã hội. Sự biến đổi và
phát triển lực lượng sản xuất là nguyên nhân sâu xa nhất, là nguyên nhân cuối
cùng quyết định mọi biến đổi và phát triển của xã hội.
Do nguyên nhân khách quan, nước ta tuy có xuất phát điểm là một
nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu nhưng hoàn toàn có thể tiến thẳng lên
xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sau
hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, nền kinh tế
đã bắt đầu đi vào ổn định và bước đầu phát triển. Tuy nhiên, trình độ của lực
lượng sản xuất vẫn còn kém phát triển, khoa học kỹ thuật còn lạc hậu; năng
suất lao động thấp; người lao động mang nặng tâm lý thích ổn định, ngại thay
đổi, thụ đông, phản ứng tiêu cực với cái mới,…Biểu hiện là nông nghiệp vẫn
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân, thị trường hàng hoá sức lao
động chưa hình thành đồng bộ, các quan hệ kinh tế chưa phát triển,…Đó
chính là những cản trở chủ yếu của việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa, mà quan hệ sản xuất này vốn mang bản chất xã hội hoá nền sản xuất xã
hội. Do đó, chúng ta chưa tạo được sự thay đổi căn bản đời sống nhân dân,
chưa tạo được thuận lợi cho việc củng cố quan hệ sản xuất mới đã xây dựng
nhiều năm trên phạm vi cả nước. Đại hội X của Đảng đã xác định một trong
những nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội là: giải phóng và phát triển
mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực,…
Đồng thời với việc phát triển lực lượng sản xuất, chúng ta cần phải phát
triển quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất. Một phương thức sản xuất bao giờ cũng gồm hai mặt đó, cùng tồn
tại song song trong mối quan hệ biện chứng lẫn nhau. Vì thế đường lối của
Đảng ta là vừa phát triển lực lượng sản xuất vừa phải chăm lo xây dựng quan
hệ sản xuất, nghĩa là phải luôn luôn quan tâm đến cả hai mặt đó. Mục đích
trực tiếp của phát triển lực lượng sản xuất là tạo cơ sở cho sự phát triển của
quan hệ sản xuất tương ứng; mục đích trực tiếp của xây dựng quan hệ sản
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
12
Tiểu luận triêt học
xuất là để phát triển lực lượng sản xuất ngày một tiên tiến.Vận dụng đúng đắn
chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đường lối
phát triển kinh tế của Đảng ta đã chỉ rõ: ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất,
đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi bắt ta vào xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì lực lượng sản xuất luôn tỏ
ra mâu thuẫn với quan hệ sản xuất. Tính cạnh tranh năng động là một trong
những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường thì ngược lại chúng ta lại
chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo động lực và điều
kiện cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò tích
cực trong nền kinh tế quốc dân. Đại hội X của Đảng đã mạnh dạn chỉ ra
những yếu kém như: việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc và chưa thật đồng bộ. Thị trường tài
chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ phát triển
chậm, chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Quản lý nhà nước đối với từng loại thị
trường còn nhiều bất cập. Một số nguyên tắc của thị trường bị vi phạm…
Trong tình hình giá cả thế giới có nhiều biến động, công tác quản lý giá
cả thị trường, lưu thông tiền tệ có mặt chưa phù hợp, lúng túng, để xảy ra đầu
cơ gây đột biến giá một số mặt hàng thiết yếu, bất lợi cho hoạt động sản xuất
kinh doanh và đời sống. Đây là những vật cản rất lớn đối với sự phát triển của
lực lượng sản xuất, minh chứng cho sự mất cân đối giữa quan hệ sản xuất và
lực lượng sản xuất.
• Bốn là, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi
ích xã hội.
Để thực hiện được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững nền
kinh tế chúng ta cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể,
lợi ích xã hội. Trong đó, thì lợi ích cá nhân là động lực số một để các thành
phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tham gia hoạt động
kinh tế.
Trong thời kỳ quá độ và kể cả trong chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn giữa
lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chẳng những không mất đi mà còn có những
diễn biến phức tạp hơn. Điều này có thẻ chứng minh một cách dễ dàng. Bởi
vì, trong chủ nghĩa xã hội mọi cá nhân sẽ có điều kiện tốt hơn để phát triển về
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
13
Tiểu luận triêt học
năng lực và nhu cầu. Sự phát triển nhu cầu và lợi ích cá nhân tất yếu có mặt
trái của nó. Mối quan hệ có mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
nếu không được giải quyết một cách đúng đắn sẽ biểu hiện thành những hiện
tượng bất công xã hội. Trong mối quan hệ này nếu lợi ích cá nhân bị vi phạm
thì xã hội sẽ mất đi một động lực to lớn của sự phát triển xã hội. Còn ngược
lại, nếu cá nhân có lợi ích nhưng lợi ích xã hội bị vi phạm thì nạn nhân của sự
mất công bằng lại là cộng đồng xã hội. Chẳng hạn, vì lợi ích cá nhân ích kỷ
mà trong sản xuất kinh doanh và trong các hoạt động xã hội khác, người ta có
thể phá hoại môi trường sống, có thể làm tất cả các việc phi pháp, phi nhân
tính,…miễn là đem lại thu nhập cao cho họ. Trong trường hợp này, khi một
số ít cá nhân được hưởng lợi ích thì cộng đồng xã hội lại phải gánh chịu
những thiệt hại do cá nhân đó gây ra. Chúng ta cần phân biệt lợi ích chính
đáng và lợi ích ích kỷ của các nhân. Lợi ích chính đáng của cá nhân là động
lực phát triển của xã hội, là cái mà xã hội phải tôn trọng và phát huy; còn lợi
ích ích kỷ của cá nhân là nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá
nhân là nguyên nhân dẫn đến sự thoái hoá, biến chất, tham nhũng của một số
không ít cán bộ trong bộ máy nhà nước. Nếu xã hội không có những biện
pháp tích cực và có hiệu quả thì những tệ nạn ngày chẳng những không giảm
đi mà trái lại sẽ càng gia tăng, vì cùng với sự tăng trưởng kinh tế, của cải xã
hội, phúc lợi tập thể sẽ tăng lên và những thứ này lại được giao cho những cá
nhân trực tiếp quản lý. Ở đây, cần chỉ ra một đặc điểm của thị trường ở nước
ta là thị trường chưa phát triển toàn diện, chưa phát triển vững chắc, trong
nhiều trường hợp nó chưa đánh giá đúng chất lượng sản phẩm và chất lượng
của lao động. Nhiều khi làm hàng giả có lợi chó người sản xuất hơn làm hàng
thất, kể cả trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá tinh thần.
Như vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường, mâu thuẫn giữa lợi ích các
nhân và lợi ích xã hội đề có khả năng xảy ra và trên thực tế, đã xảy ra ở một
bộ phận nhất định trong xã hội. Chủ nghĩa cá nhân là biểu hiện tiêu cực của
mâu thuẫn đó. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội cũng có thể
xuất hiện do những sai lầm trong chủ trương, chính sách của nhà nước làm
hạn chế, ngăn cản sự phát triển đa dạng, phong phú của nhu cầu lợi ích cá
nhận làm suy giảm một cách đáng kể tính tích cực, sáng tạo của cá nhân. Đó
cũng là một nguyên nhân của bất công bằng xã hội là tình trạng diễn ra trong
mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội. Để giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá
Nguyễn Thị Thanh Huyền - CH16Q
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét