Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Huy dong von ngan hang vietcombank




mà cần phải có một thời gian đủ lớn với số lượng vốn đầu tư không nhỏ. Thông qua
việc xác định cơ cấu vốn đầu tư cho từng Ngành, từng vùng kinh tế, Ngân hàng chủ
động cung cấp các khoản tín dụng trung, dài hạn theo các dự án, các chương trình phát
triển, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và hợp lý và từ đó khai thác
triệt để mọi thế mạnh của từng ngành, thúc đẩy tốc độ CNH-HĐH đất nước.
1.2. Góp phần xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng:
Hiện nay, Việt nam bị đánh giá là nước có cơ sở hạ tầng tương đối yếu kém.
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là sự thiếu hụt trầm trọng vốn
đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Mặc dù hàng năm, Chính phủ đã trích một phần
lớn ngân sách quốc gia để xây dựng và phát triển các công trình trọng yếu như hệ
thống giao thông, hệ thống thông tin liên lạc Chính vì vậy, công tác huy động vốn
đầu tư từ tất các nguồn là giải pháp tốt để nhanh chóng xây dựng một cơ sở hạ tầng
vững chắc, hợp lý, tạo điều kiện cho kiến trúc thượng tầng phát triển.
1.3. Góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Nguồn vốn đầu tư có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển năng lực
công nghệ của quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, những nước có trình độ
phát triển công nghệ thấp kém như nước ta. Nguồn vốn đầu tư một mặt tạo điều kiện
cho nước ta tiến nhanh, tiến kịp trình độ của các nước phát triển trên thế giới bằng
cách đi tắt, đón đầu, tạo ra bước nhảy vọt thông qua con đường chuyển giao công
nghệ, hiện đại hoá trang thiết bị, áp dụng phương pháp quản lý tiên tiến nhằm giải
phóng sức lao động, giải phóng năng lực sản xuất, mặt khác góp phần củng cố và phát
triển năng lực công nghệ nội sinh.
1.4. Góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Cùng với việc thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nguồn vốn đầu tư còn góp
phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế.
Thực tế cho thấy, đối với các thành phần kinh tế, việc cung cấp các nguồn vốn
này chính là sự đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu trên cơ sở cung cấp tín dụng cho
các doanh nghiệp mua sắm thêm máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, cải tiến và
nâng cao năng lực quản lý. Nhờ đó các doanh nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả quản lý sản



xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế
1.5. Góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Nguồn vốn đầu tư còn được sử dụng vào việc phát triển giáo dục, y tế, thực
hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường đảm bảo mục tiêu kinh tế - xã hội của đất
nước.
Như vậy vốn đầu tư có vai trò quyết định đối với toàn bộ sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế xã hội, tạo ra mối quan hệ tương quan, ràng buộc, phụ thuộc giữa tốc độ
tăng trưởng - phát triển của nền kinh tế với khả năng huy động - sử dụng vốn đầu tư.
Vì thế các Ngân hàng thương mại cần nắm bắt ngay nhu cầu cấp thiết này để từ đó có
thể điều chỉnh cơ cấu huy động vốn mà trong đó nguồn vốn huy động từ khu vực dân
cư chiếm tỷ trọng lớn.
2. Nguồn vốn trong dân cư và ý nghĩa của công tác huy động vốn trong dân

2.1. Đánh giá chung về nguồn vốn trong dân cư.
2.1.1. Tiềm năng của nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư
Theo điều tra và ước tính của bộ Kế hoạch - Đầu tư và Tổng cục thống kê,
nguồn vốn trong dân cư hiện nay có khoảng 14 đến 15 tỷ USD, con số này một mặt
khẳng định tiềm năng to lớn về nguồn lực vốn có thể huy động trong dân cư, mặt khác
lại cho thấy khả năng yếu kém về công tác huy động vốn trong dân cư ở Việt Nam,
dẫn tới việc lãng phí một lượng vốn đáng kể để dùng cho đầu tư phát triển kinh tế đất
nước. Muốn xoay chuyển tình thế, khai thác triệt để nguồn lực sẵn có này thì phải tìm
tòi, phân tích và đưa ra các biện pháp khuyến khích dân chúng bỏ tiền đầu tư dưới
nhiều hình thức khác nhau.
2.1.2 Tính vững chắc và ổn định của nguồn vổn trong dân cư
Đây là một ưu điểm vượt trội mà các nguồn vốn khác không thể có được. Nó
cho phép huy động vốn một cách liên tục, thường xuyên và lâu dài. Thêm vào đó,
nguồn vốn trong dân cư không ngừng tăng lên theo thời gian do nền kinh tế ngày càng



phát triển, thu nhập bình quân đầu người ngày càng cao, chất lượng cuộc sống ngày
càng được nâng lên rõ rệt. Điều đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu về vốn đầu tư của
quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
2. 2. ý nghĩa của việc tăng cường huy động vốn trong dân cư.
Trên phương diện lý luận chung, bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển bền
vững, độc lập tự chủ thì phải dựa vào sức mình là chính. Muốn vậy phải có những cơ
chế, chính sách khuyến khích và huy động tối đa nguồn tiềm năng sẵn có của đất nước
cho đầu tư phát triển với phương châm “đầu tư nước ngoài là quan trọng, đầu tư trong
nước là quyết định”. Công tác huy động trong nước cho đầu tư phát triển kinh tế có thể
xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó việc khơi tăng nguồn vốn từ khu vực dân
cư đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa
đất nước và cần được nâng lên tầm chiến lược quốc gia vì những lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất: Việc khai thác vốn nhàn rỗi trong dân cư sẽ tránh được tình trạng lãng
phí một nguồn lực được coi là khan hiếm bậc nhất của nền kinh tế.
Thứ hai: Đối với người dân, khi nguồn vốn của họ được khơi thông sẽ mang lại
cho họ nhiều lợi ích như số vốn gốc được bảo toàn, được hưỏng lãi, được hưởng các
dịch vụ của Ngân hàng. Hơn nữa, khi số vốn này được đưa vào đầu tư sẽ tạo ra sự tăng
trưởng của nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và mức sống của họ.
Thứ ba: Đối với toàn bộ nền kinh tế, việc khơi thông nguồn vốn sẽ giúp cho việc
cân đối giữa cung và cầu về vốn, giúp cho cỗ máy kinh tế được bôi trơn, hoạt động
một cách nhịp nhàng và có hiệu quả, đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội như đã nêu
tại mục 1 chương này.
3. Ngân hàng thương mại với hoạt động huy động vốn trong dân cư
3.1. Vài nét khái quát về Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là một lĩnh vực không thể thiếu của mỗi quốc gia, vì sự phát triển của
ngành Ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Có thể nói, ngành
Ngân hàng ra đời là sự kết tinh của nền sản xuất hàng hoá, chính ngành Ngân hàng lại
là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển.



Trong thời kỳ đầu, các ngân hàng xuất hiện và hoạt động một cách độc lập,
không chịu sự ràng buộc lẫn nhau với các nghiệp vụ chủ yếu là đổi tiền và giữ hộ tài
sản, tiền bạc. Hoạt động này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu phát tiển và giao lưu
thương mại. Sản xuất phát triển đã đưa hoạt động thương mại vượt ra ngoài phạm vi
mỗi lãnh địa, mỗi vùng, gây ra sự khó khăn cho thương gia do sự lưu hành các loại
tiền khác nhau. Vì vậy các tổ chức ngân hàng sơ khai xuất hiện do những thương gia
giàu có thành lập để thực hiện chức năng đổi tiền. Lúc này, ngân hàng phải là nơi an
toàn để cất giữ các loại tiền, là nơi có khả năng đảm bảo chất lượng các loại tiền được
đưa vào lưu thông, vì thế nó nơi được dân chúng tin tưởng gửi tài sản, tiền bạc của
mình. Theo đó dịch vụ giữ hộ tài sản, dịch vụ thanh toán hộ dần phát triển. Lúc này
các ngân hàng nhận thấy họ không cần nhất thiết phải duy trì 100% số tiền mà khách
hàng ký gửi vì luôn tồn tại một số dư tiền tệ nhất định. Đây là cơ sở để ngân hàng mở
rộng thêm nghiệp vụ triết khấu và cho vay, phát hành giấy bạc ngân hàng Như vậy
ngân hàng đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế với tư cách là một trung gian tài chính
liên kết giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Ngành Ngân hàng ngày càng chiếm
vị trí quan trọng trong nền kinh tế và Chính phủ mỗi nước thấy cần phải can thiệp vào
ngành Ngân hàng nhằm định hướng vĩ mô cho phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội.
Hệ thống ngân hàng ngày nay là hệ thống ngân hàng hai cấp, bao gồm:
- Ngân hàng Nhà nước: làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô, thanh tra, kiểm soát toàn bộ
hoạt động của toàn bộ ngành, định hướng chiến lược, đưa ra các chính sách tiền tệ, tín
dụng và thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền tệ.
- Các Ngân hàng thương mại: là các ngân hàng với chức năng chủ yếu là kinh
doanh tiền tệ thu lợi nhuận, thực hiện các nghiệp vụ trung gian và chấp hành sự quản
lý, điều tiết của Ngân hàng Nhà nước. Nói một cách đầy đủ và chính xác hơn: “Ngân
hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó
để cho vay, thực hiện triết khấu và làm phương tiện thanh toán” (Pháp lệnh Ngân hàng
ngày 23/5/1990).
3.2. Nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng thương mại



3.2.1. Vốn tự có
3.2.2.1. Vốn điều lệ
Là số vốn lớn hơn hoặc bằng số vốn pháp định (vốn tối thiểu để thành lập một
ngân hàng), được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Đối với Ngân hàng Quốc
doanh thì nguồn vốn này do Nhà nước cung cấp. Nếu là Ngân hàng cổ phần thì nguồn
vốn được hình thành từ sự đóng góp từ các cổ đông.
3.2.1.1 Vốn tích luỹ (quỹ dự trữ)
Là số vốn do ngân hàng tạo ra từ kết quả kinh doanh tổng hợp và các hoạt động
của ngân hàng. Theo pháp lệnh của Ngân hàng và dự thảo luật Ngân hàng thì mọi
Ngân hàng thương mại hoạt động ở Việt Nam đều phải thành lập quỹ dự trữ sau:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Theo quy định của Nhà nước, hàng năm ngân
hàng phải trích 5% trên lợi nhuận ròng để lập quỹ này. Quỹ được lập cho đến khi bằng
50% vốn điều lệ tại thời điểm trích lập quỹ.
- Quỹ dự trữ đặc biệt: Là bộ phận quỹ dùng để dự phòng bù đắp cho các rủi ro
trong quá trình hoạt động, được trích lập hàng năm bằng 10% lợi nhuận ròng. Quỹ này
được trích lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ thực có tại thời điểm trích lập quỹ.
Ngoài ra vốn tích luỹ còn bao gồm: lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do
đánh giá lại tài sản, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
3.2.2. Vốn huy động
Vốn huy động là phương tiện tiền tệ do các ngân hàng quản lý và huy động từ
chức năng và nghiệp vụ nhận tiền gửi của các đối tượng giao dịch với ngân hàng. Vốn
huy động là nguồn vốn chủ yếu và chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn ngân
hàng (khoảng 70-80%). Tuy nhiên các Ngân hàng thương mại không được phép huy
động quá 20 lần vốn tự có.
Nguồn vốn huy động của một Ngân hàng thương mại được thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau: qua việc mở tài khoản thanh toán, huy động tiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn, huy động thông qua phát hành trái phiếu, kỳ phiếu,
huy động từ các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư



3.2.3. Vốn vay
Vốn vay là nguồn vốn được hình thành bởi mối quan hệ giữa các tổ chức tín
dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước thể hiện ở các
hình thức sau:
- Vay các Ngân hàng hương mại: Đó là khoản vốn vay giữa các Ngân hàng
thương mại trên thị trường liên ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán giữa các
ngân hàng với nhau.
- Vay Ngân hàng Nhà nước: Các Ngân hàng thương mại vay vốn của Ngân
hàng Nhà nước thông qua các hình thức như: vay bổ sung vốn tín dụng ngắn hạn; thực
hiện tái triết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá trị chưa đến hạn thanh toán của
Ngân hàng thương mạI, vay bổ sung thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng thương
mại


3.2.4. Vốn trong thanh toán
Vốn trong thanh toán là vốn do ngân hàng tạo lập được khi thực hiện làm trung
gian thanh toán cho nền kinh tế. Quá trình thanh toán giữa các doanh nghiệp, các cá
nhân đã hình thành các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời.
3.2.5. Vốn khác
Ngoài những nguồn vốn nêu trên, ngân hàng còn có thể nhận được những
nguồn vốn khác như: vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư và các nguồn vốn khác trong quá
trình hoạt động kinh doanh của mình.
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, ta có thể kết luận rằng nguồn vốn của ngân
hàng chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn huy động trong quá trình tập trung một bộ
phận tiền tệ của khu vực dân cư, của các tổ chức kinh tế. Nguồn vốn này là nền tảng
cơ bản nhất để ngân hàng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Do đó ngân hàng cần có những
biện pháp thích hợp để huy động được nhiều nhất, đặc biệt từ khu vực dân cư, với chi
phí bỏ ra là thấp nhất mà vẫn đem lại hiệu quả cao.



3.3. Vai trò của ngân hàng trong công tác huy động vốn từ khu vực dân cư:
Hiện nay tiền mặt được tích trữ trong dân để phục vụ cho chi tiêu rất lớn. Do
nhiều nguyên nhân khác nhau mà người dân không muốn gửi tiền vào ngân hàng. Có
những nguyên nhân chính sau:
- Hầu hết các khoản chi tiêu hàng ngày đều dùng tiền mặt.
- Người ta muốn giữ một lượng tiền mặt để chi tiêu trong các trường hợp đột xuất
cần thiết như ốm đau, tai nạn
- Các công cụ thanh toán chuyển khoản chưa được phổ biến rộng rãi và bộc lộ
nhiều yếu kém.
- Sự hiểu biết và lòng tin của người dân đối với ngân hàng còn hạn chế nên họ
không muốn gửi tiền vào ngân hàng.
Để thu hút được lượng tiền mặt nhàn rỗi trong dân cư, ta cần phải tìm cách tác
động làm thay đổi quan niệm của người dân đối với việc giữ tiền mặt trong nhà. Trong
những nguyên nhân kể trên, quan tâm chủ yếu của của chúng ta là nguyên nhân thứ ba,
thứ tư nêu trên. Chúng ta cần phải xây dựng được niềm tin của người dân đối với hệ
thống ngân hàng và làm cho dân chúng hiểu được lợi ích của việc gửi tiền ở ngân hàng
và vai trò của ngân hàng trong việc huy động tiền gửi là thoả mãn cao nhất yêu cầu của
người dân có tiền và yêu cầu của nền kinh tế.
Xét trên phương diện người gửi tiền, ngân hàng phải đảm bảo giữ được những
vai trò sau đây khi huy động vốn trung và dài hạn trong dân cư:
3.3.1. Đảm bảo khả năng sinh lời của đồng vốn:
Trong kháng chiến, về công tác vận động nhân dân gửi tiền tiết kiệm chúng ta
nêu khẩu hiệu “ ích nước, lợi nhà ”, “ Một đồng gửi vào quỹ tiết kiệm là một viên đạn
bắn vào quân thù, là một viên gạch xây dựng Chủ nghĩa xã hội”. Lợi ích cá nhân đặt
vào hàng thứ yếu.
Nay trong nền kinh tế thị trường, người gửi tiền luôn quan tâm đến lãi suất tiền
gửi, chỉ một sự khác biệt nhỏ về lãi suất huy động cũng khiến cho họ chuyển sang gửi
tiền ở ngân hàng có lãi suất cao hơn. Vì vậy phải đảm bảo cho người gửi tiền một mức



lãi suất hợp lý. Mức lãi suất áp dụng đối với các khoản tiền gửi bằng tỷ lệ lạm phát
cộng với một tỷ lệ lãi suất thực. Do đó, ngoài phần vốn gốc mà người gửi tiền được
đảm bảo, họ còn được hưởng một tỷ lệ lãi suất nhất định. Ngoài ra, đối với các khoản
tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì mức lãi suất càng cao.
3.3.2. Đảm bảo tính thuận tiện cho người gửi tiền.
Thuận tiện là một tiêu chí mà nhiều khi người gửi tiền còn quan tâm hơn cả
mức lãi suất, vì ai cũng muốn mình được phục vụ nhanh nhất và tiết kiệm thời gian
nhất. Tiền gửi của người dân phải được rút ra bất kỳ lúc nào và tại bất kỳ chi nhánh
nào của ngân hàng khi họ có nhu cầu. Các ngân hàng thương mại cần phải tổ chức lại
hoạt động, cung ứng các dịch vụ một cách tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản
của người gửi tiền, phát huy tính tự nguyện của khách hàng, khuyến khích khách hàng
sử dụng các tiện ích của ngân hàng có lợi cho cả hai bên. Ngân hàng thì có nguồn vốn
để cho vay thu lãi còn người dân có nơi cất giữ tài sản an toàn, sử dụng linh hoạt tài
sản của mình nhằm mục đích sinh lợi tối đa.
3.3.3. Đảm bảo tiêu chí an toàn cho đồng tiền.
Dân gian có câu “ Đồng tiền liền khúc ruột ” và “ Chọn mặt gửi vàng ”
nên khi đặt tiền vào bất cứ nơi nào thì nơi đó phải thực sự an toàn, không bị mất mát,
hao mòn, suy giảm giá trị. Cần hiểu tính an toàn ở đây còn bao hàm cả yếu tố giá trị
của đồng tiền được ổn định năm này qua năm khác, lúc rút ra, tiền vẫn bảo tồn giá trị,
không bị thiệt do mất giá. Ngân hàng luôn cố gắng thỏa mãn các tiêu chí này.
Chính những bảo đảm nêu trên đã giúp ngân hàng ngày càng phát huy được thế
mạnh của mình - một trung gian tài chính lớn nhất của nền kinh tế đưa những nguồn
vốn nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH- HĐH đất
nước.
4. Các hình thức huy động vốn trong dân cư của các Ngân hàng thương mại
4.1. Tài khoản cá nhân
Chủ tài khoản được quyền sử dụng toàn bộ số tiền trên tài khoản và tuỳ theo
yêu cầu của việc chi trả, chủ tài khoản có thể thực hiện các khoản thanh toán qua ngân



hàng hoặc rút tiền mặt để sử dụng. Tài khoản này còn có tên gọi khác nữa là tài khoản
séc cá nhân vì đa số các giao dịch của người chủ tài khoản đều được thực hiện bằng
séc.
Đối tượng mở tài khoản cá nhân bao gồm tất các cá nhân có năng lực hành vi
và năng lực pháp lý có nhu cầu mở tài khoản.
Lý do chủ yếu để khách hàng mở tài khoản cá nhân là để đảm bảo tính “thế
năng” của đồng vốn khi cần đến. Đối với hầu hết các khách hàng, việc hưởng lãi suất
từ tài khoản này chỉ là thứ yếu mà chủ yếu là họ được hưởng các dịch vụ của ngân
hàng mà không phải trả phí.
Nhìn chung, tiền gửi của khách hàng qua tài khoản cá nhân là một nguồn vốn
mà ngân hàng có được với chi thấp vì người gửi tiền sẵn sàng bỏ qua một số tiền lãi để
có được một tài sản lỏng nhằm dễ dàng sử dụng trong thanh toán. Tuy nhiên, cũng có
những bất lợi phát sinh trong việc sử dụng nguồn này vì tính ổn định thấp, hoàn toàn
phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh cũng như tin dùng của khách hàng. Do đó ngân
hàng kém chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này. Dù thế nào chăng nữa, có một
điều không thể phủ nhận được là nguồn tiền gửi này sẽ làm tăng đáng kể quy mô vốn
của ngân hàng và có ý nghĩa rất lớn trong việc mở rộng uy tín và nâng cao hiệu quả
hoạt động của ngân hàng.
4.2. Tiền gửi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư
Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dành của cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng trong
tương lai nhưng tạm thời gửi vào ngân hàng để hưởng lãi. Đây là một nguồn vốn quan
trọng của ngân hàng phục vụ chủ yếu nhu cầu cho vay đối với mọi thành phần kinh tế.
Mục đích chính của tiền gửi tiết kiệm không phải để để sử dụng trong giao dịch
mà để hưởng lãi qua các khoản tích luỹ được.
Tiền gửi tiết kiệm gồm các khoản sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn



+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có đặc trưng chung giống như các loại
tiền gửi khác. Ngoại trừ người gửi tiền có thể rút tiền ra một phần hoặc toàn bộ
vào bất kỳ lúc nào.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những người chưa
xác định chính xác nhu cầu chi tiêu trong tương lai, hoặc không mấy tin tưởng
vào sự ổn định của đồng tiền. Họ gửi tiền vào ngân hàng để mong được hưởng
một chút lãi và được ngân hàng giữ hộ tiền mà vẫn có thể rút ra khi cần thiết.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có một bất lợi riêng vì sự biến động của
nó. Do vậy ngân hàng không thể sử dụng toàn bộ lượng tiền này cho các chương
trình của mình. Trên thực tế có thể khảo sát và tính toán được tỷ lệ ổn định
tương đối mà ngân hàng có thể sử dụng thông qua chuyển hoán kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
+ Đây là loại tiền gửi dựa trên cơ sở thoả thuận giữa ngân hàng và khách
hàng về thời hạn gửi tiền cũng như lãi suất. Thông thường người gửi tiền chỉ
được phép rút tiền khi đến hạn. Nhưng để khuyến khích người dân gửi tiền, các
ngân hàng vẫn cho phép ngươì dân rút tiền trước kỳ hạn với điều kiện là họ chịu
một mức lãi suất bằng lãi suất của tiết kiệm không kỳ hạn.
+ Do tính kỳ hạn của loại tiền gửi này mà nó trở thành nguồn vốn mang
tính ổn định của ngân hàng. Ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng,
thuận lợi trong việc cho vay nhất là cho vay với thời hạn tương ứng. Ngân hàng
cũng có thể sử dụng một phần từ nguồn tiền này giành cho tín dụng dài hạn.
+ Với loại hình tiết kiệm này, mục đích chính của người gửi là sinh lời,
cho nên lãi suất là vấn đề quan trọng. Muốn thu hút được nhiều từ nguồn này, các
ngân hàng cần phải sử dụng đòn bẩy lãi suất để kích thích mục đích lợi ích của
dân chúng. Ngân hàng cần đưa ra nhiều thời hạn gửi tiền tiết kiệm khác nhau để
người gửi có điều kiện lựa chọn thời hạn phù hợp nhất đối với mình (3, 6, 9
tháng; 1, 2, 3, 5 năm ). Với mỗi loại kỳ hạn, có một mức lãi suất tương ứng theo
nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
- Tiền gửi tiết kiệm có đảm bảo bằng vàng, bằng Ngoại tệ mạnh:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét