Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014
Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết WTO
5
1.1.2. Nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu của thị trường Việt Nam
Trong giai đoạn 2007-2010, thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam phát triển
cả chiều rộng lẫn chiều sâu; hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang 219 nước và nhập khẩu từ
151 nước; 165 nước cho Việt Nam hưởng Quy chế tối huệ quốc, trong đó có 151 nước là
thành viên của WTO.
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 48,38 tỷ USD, ước tính bằng USD thì
tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt 67,9%, thuộc loại cao ở châu á và thế giới, tăng
21,5% so với năm 2006.
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đều tăng, chủ yếu do giá trên
thị trường thế giới tăng, ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007. Tổng kim
ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007.
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cả năm là 57,1 tỷ USD, giảm 8,9%so với năm 2008 và
nhập khẩu là 69,95 tỷ USD, giảm 13,3%. Như vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước
năm 2009 là 127,05 tỷ USD, giảm 11,4% so với năm 2008, cán cân thương mại hàng hoá
thâm hụt 12,85 tỷ USD, bằng 22,6% xuất khẩu.
Như vậy, ngoài việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới do Việt Nam gia nhập WTO, hoạt
động xuất nhập khẩu còn xuất phát từ chính nhu cầu nội tại của bản thân doanh nghiệp và
không nằm ngoài quy luật của hoạt động thương mại quốc tế.
1.2. kháI niệm xuất nhập khẩu hàng hóa và thuế xuất nhập khẩu
1.2.1. Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa
Trong lý luận thương mại quốc tế, xuất khẩu được định nghĩa “là việc bán hàng hóa và
dịch vụ cho nước ngoài” và nhập khẩu “là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc
gia khác”.
Luật thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như sau:
“1. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa
vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy
định của pháp luật.
2. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài
hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo
quy định của pháp luật” (Điều 28)
Bên cạnh đó, Luật thuế giá trị gia tăng 2009 cũng đưa ra khái niệm về hàng hóa xuất
khẩu, bao gồm “hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, kể cả ủy thác xuất khẩu; hàng hóa bán
6
vào khu phi thuế quan; hàng bán cho cửa hàng miễn thuế; hàng hóa gia công chuyển tiếp
theo quy định của pháp luật thương mại; hàng hóa gia công xuất khẩu tại chỗ; hàng hóa xuất
để bán tại hội chợ triển lãm nước ngoài”.
1.2.2. Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về thuế tuỳ cách thức tiếp cận nghiên cứu:
Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng
quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm
thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Trên giác độ phân phối thu nhập thì thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ
chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi
tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước
Một trong các khái niệm về thuế được thừa nhận chung là: “Thuế là một khoản đóng
góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp
luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung
toàn xã hội” [11].
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu 1998 mặc dù có sửa đổi, bổ sung làm đầy đủ hơn khái niệm về xuất
nhập khẩu hàng hóa, nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
“Hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng
hóa từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong
nước, đều thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” (Điều 1).
Điều 2, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 cũng không đưa ra định nghĩa khái
quát về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà quy định cụ thể đối tượng chịu thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu bao gồm:
“Trừ hàng hóa quy định tại Điều 3 của Luật này, hàng hóa trong các trường hợp sau
đây là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam;
2. Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi
thuế quan vào thị trường trong nước”
7
Như vậy, tính đến thời điểm này thì khái niệm “thuế xuất khẩu”, “thuế nhập khẩu” vẫn
chưa được quy định chính thức trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào.
1.3. những cam kết quốc tế của việt nam về thuế xuất nhập khẩu khi gia nhập tổ chức
thương mại thế giời (WTO)
1.3.1. Cam kết chung của Việt Nam khi gia nhập WTO
Các nội dung chủ yếu của báo cáo liên quan đến thuế xuất nhập khẩu là:
- Thuế nhập khẩu, các khoản thu khác: cam kết thuế nhập khẩu trên cơ sở các kết quả
đàm phán song phương và phương án tổng hợp theo Quy chế MFN. Ngoài thuế nhập khẩu,
Việt Nam sẽ không áp dụng các khoản phụ thu đối với hàng nhập khẩu (trên thực tế đã được
Việt Nam bãi bỏ).
- Hạn ngạch thuế quan: Việt Nam chỉ cam kết sẽ áp dụng, phân bổ và quản lý hạn
ngạch thuế quan một cách minh bạch, không phân biệt đối xử và tuân theo đúng các quy định
của WTO.
- Miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Miễn, giảm thuế trên cơ sở MFN và sẽ
không gắn việc miễn, giảm thuế với yêu cầu về xuất khẩu hay nội địa hóa. Một số ưu đãi đầu
tư dưới dạng miễn, giảm thuế nhập khẩu cũng sẽ không được áp dụng nữa.
- Biện pháp hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu:
* Đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân khối lớn trên cơ sở bảo lưu quyền áp dụng các biện
pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt.
* Đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu thuốc lá điếu và xì gà nhưng kèm theo điều kiện Việt
Nam sẽ chỉ định một doanh nghiệp được quyền nhập khẩu toàn bộ.
* Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 05 năm
nhưng bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và các biện pháp quản lý kỹ thuật chặt chẽ.
* Việt Nam bảo lưu quyền cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm, chủ yếu để kiểm duyệt nội
dung nhưng bảo đảm cơ chế cấp phép nhằm mục đích kiểm duyệt này sẽ tuân theo các quy
định về minh bạch hóa của WTO và biện pháp cấm nhập khẩu thiết bị và phần mềm mã hóa
thuộc diện bí mật quốc gia.
- Xác định trị giá tính thuế hải quan: Việt Nam sẽ không áp dụng giá tính thuế tối
thiểu (thực tế đã được bãi bỏ) và sẽ tuân thủ hoàn toàn các quy định của WTO về nguyên tắc,
trình tự xác định trị giá tính thuế nhập khẩu.
- Các quy định về thuế xuất khẩu, phí và lệ phí, thuế nội địa đối với hàng xuất khẩu
và hạn chế xuất khẩu: WTO không có quy định điều chỉnh về thuế xuất khẩu. Tuy nhiên,
một số thành viên yêu cầu Việt Nam phải cắt giảm thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng.
8
Theo đó, Việt Nam cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu cho các loại phế liệu kim loại đen và kim
loại màu nhưng không phải ràng buộc toàn bộ biểu thuế xuất khẩu và cũng không xem việc
giảm thuế xuất khẩu là một phần của sự cân bằng nhân nhượng trong đàm phán gia nhập
WTO. Ngoài ra, Việt Nam chấp nhận áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu, phí và lệ phí
cũng như thuế nội địa hóa đối với hàng xuất khẩu theo đúng Hiệp định GATT của WTO.
1.3.2. Các cam kết cụ thể về thuế quan của Việt Nam
Việt Nam đồng ý ràng buộc mức thuế trần cho toàn bộ biểu thuế quan (gồm 10.600
dòng thuế). Trong đó, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chủ yếu là các
dòng có thuế suất trên 20%), ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng và ràng
buộc mức thuế trần (cao hơn mức thuế suất hiện hành) với khoảng 3.700 dòng thuế.
Mức thuế quan bình quân toàn bộ biểu thuế được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống
13,4%, thực hiện dần trong vòng 5 - 7 năm (trong đó, hàng nông sản giảm từ 23,5% xuống
20,9% và hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống 12,6%).
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng đối với 4 mặt hàng gồm:
trứng, đường, thuốc lá, muối (mặc dù muối trong WTO thường không được áp dụng hạn
ngạch, nhưng Việt Nam kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của người dân sống bằng nghề làm
muối). Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch tương đương với mức thuế MFN
hiện hành: trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50 - 60%, thuốc lá: 30%, muối ăn: 30%,
thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch.
1.4. pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết wto
1.4.1. Khái niệm pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong điều kiện thực thi
cam kết WTO
Pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO
được hiểu là quy định của pháp luật Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến thuế xuất
khẩu, nhập khẩu trong phạm vi Việt Nam đã đàm phán và ký kết khi tham gia WTO, bao
gồm: quy định pháp luật điều chỉnh về biểu khung thuế xuất nhập khẩu, thuế suất xuất nhập
khẩu của hàng hóa, hạn ngạch thuế quan, biện hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu,
miễn giảm thuế xuất khẩu và nhập khẩu… hay còn gọi là những quy định pháp luật về thuế
xuất nhập khẩu liên quan trực tiếp đến việc Việt Nam có hoàn thành nghĩa vụ theo cam kết
WTO hay không.
1.4.2. Điều chỉnh pháp luật của Việt Nam đối với thuế xuất nhập khẩu trong điều
kiện thực thi cam kết WTO
Riêng năm 2005, Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản luật, pháp lệnh, trong đó có hơn
9
20 văn bản luật, pháp lệnh là những văn bản mới có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thành
viên của Việt Nam với WTO đã được thông báo cho Ban thư ký WTO. Việc sửa đổi Luật
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi tháng 6/2005) là một bước chuẩn bị quan trọng cho
quá trình gia nhập WTO, theo đó Việt Nam đã xem xét và sửa đổi các quy định về thuế xuất
nhập khẩu trên cơ sở bước đầu phù hợp với các cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia
nhập WTO.
Những cơ sở để pháp luật Việt Nam điều chỉnh về thuế xuất, nhập khẩu trong điều kiện
thực thi cam kết WTO bao gồm:
- Nguyên tắc của WTO: Việt Nam phải thừa nhận các nguyên tắc của hệ thống thương
mại toàn cầu, chuyển hóa các quy định, nguyên tắc pháp luật đó vào các văn bản pháp luật.
Tuy nhiên, hệ thống luật lệ của WTO khá đồ sộ và phức tạp nên khi sửa đổi pháp luật cho phù
hợp với cam kết WTO thì Việt Nam cần phải chú ý đến việc hoạch định chính sách xây dựng
pháp luật cụ thể, tìm hiểu và học hỏi từ kinh nghiệm của các nước đi trước.
- Cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO: căn cứ vào các cam kết về mở
cửa thị trường hàng hóa, đặc biệt là cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu, Việt Nam cần sửa đổi,
bổ sung những quy định chưa phù hợp với điều kiện hội nhập, chưa đồng bộ với pháp luật
hiện hành; đồng thời loại bỏ mạnh các biện pháp phi thuế quan trong thương mại hàng hóa.
- Năng lực của các doanh nghiệp trong nước: Việt Nam cần căn cứ vào trình độ, năng
lực và khả năng thích ứng hiện tại của doanh nghiệp trong nước để điều chỉnh những cam kết
gia nhập WTO của mình phù hợp để vừa đảm bảo tuân thủ thực thi các cam kết WTO và đảm
bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước.
- Phạm vi bảo hộ nền kinh tế trong nước: Việt Nam cần cần nhắc việc tuân thủ cam kết
WTO với việc bảo hộ nền kinh tế trong nước, vì vậy Việt Nam có thể quy định mức thuế suất
nhập khẩu hợp lý tại mỗi thời điểm hay cơ chế chống bán phá giá, chống trợ cấp ….để đảm
bảo mục tiêu cuối cùng là sản xuất trong nước có thể đứng vững, phát triển khi thực hiện hội
nhập WTO, mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại.
Để đảm bảo việc điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu đạt được hiệu quả, quan
điểm về điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu cần thống nhất như sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần tôn trọng nguyên tắc của tổ chức thương mại quốc tế, bao gồm
ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation), nguyên tắc
đãi ngộ quốc gia (NT - National Treatment), nguyên tắc cạnh tranh công bằng (Fair
Competition).
Thứ hai, việc sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với cam kết WTO sẽ
không được hiểu là việc bắt buộc Việt Nam phải thực hiện cắt giảm thuế quan trong một thời
10
gian ngắn hay càng sớm càng tốt mà Việt Nam có quyền điều chỉnh dần dần thuế suất trong
khoảng thời gian mà Việt Nam đã đạt được để đưa ra lộ trình khi gia nhập WTO.
1.5. xu hướng phát triển của thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong giai đoạn hội nhập toàn
cầu
1.5.1. Xu hướng chung của các nước trên thế giới
Hầu hết các nước đã bãi bỏ thuế xuất khẩu hoặc nếu có đánh thì ở mức rất thấp, còn
thuế nhập khẩu mặc dù hiện nay nhiều quốc gia vẫn duy trì nhưng đang ngày càng được hạ
thấp nhằm tiến dần đến mốc xóa bỏ hoàn toàn, bởi vì:
- Xu thế hướng về xuất khẩu do khoa học và kỹ thuật phát triển nhanh chóng, trong khi
thị trường trong nước đã bão hòa, cần thiết tăng thêm sức cạnh trong cho hàng hóa xuất khẩu.
- Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đều là thuế đánh vào tiêu dùng. Trong hai cách
đánh thuế tiêu dùng phổ biến là đánh theo xuất xứ (original) và đánh theo điểm đến
(destination) thì các nước thông thường là đánh theo điểm đến (đánh vào hàng nhập khẩu,
không đánh vào hàng xuất khẩu).
- Thuế nhập khẩu có tác dụng tạo ra mặt bằng cạnh tranh tương đối bình đẳng cho hàng
hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước.
1.5.2. Chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này cũng được
thể hiện rõ nét trên các khía cạnh sau:
- Nhà nước đang xây dựng chiến lược toàn diện để khuyến khích phát triển sản xuất
nguyên liệu trong nước thay dần nguyên liệu nhập khẩu.
- Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nguyên nhiêu liệu nhập khẩu để sản
xuất hàng hóa chủ yếu tiêu thụ nội địa như: ô tô, xe máy; hàng điện tử; nước giải khát…;
đồng thời cũng có chiến lược xuất khẩu các sản phẩm hàng Việt Nam để tái tạo sự cần đối
ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu nhập khẩu của mình.
- Nhà nước tăng cường hoạt động ngoại giao, khuyến khích các nước mở cửa thị trường
thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam thâm nhập trên nguyên tắc có đi có lại
Kết luận chương 1
Qua việc nghiên cứu trên, luận văn đã làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập
khẩu của Việt Nam.
11
Thứ hai, các cam kết của Việt Nam về thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam gia nhập
WTO.
Thứ ba, cơ sở để pháp luật Việt Nam điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam thực
thi cam kết WTO bởi vì cơ sở này giúp việc điều chỉnh của Việt Nam phù hợp với yêu cầu gia
nhập WTO và tình hình hiện tại của kinh tế, xã hội Việt Nam.
Chương 2
Thực trạng pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết
wto và phương hướng, giảI pháp hoàn thiện
2.1. thực trạng pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết
wto
2.1.1. Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới (WTO)
Về xuất khẩu hàng hóa, theo số liệu thống kê của Bộ Công thương: năm 2007, xuất
khẩu của Việt Nam đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao. Kim
ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2006 (7,9 tỷ USD) và vượt 15,5% so
với kế hoạch. Năm 2008, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương đương 73%
GDP, tăng 33,9% so với năm 2007. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của năm 2008 đạt
mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước đó. Năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt
57,1 tỷ USD, giảm 8,9% so với năm 2008.
Về nhập khẩu hàng hoá: Năm 2007, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là 60,8 tỷ
USD, tăng 35,5% so với năm 2006, đứng thứ 41 trên thế giới. Kim ngạch nhập khẩu năm
2008 của Việt Nam đạt 84 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007. Tuy nhiên, năm 2009 nhập
khẩu của Việt Nam giảm khá mạnh, đạt 69,95 tỷ USD, giảm 13,3% so với năm 2008.
Dưới đây là tổng hợp một số đánh giá về tình hình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu
của Việt Nam trong thời gian 03 năm thực thi cam kết WTO:
Thứ nhất, hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam tăng mạnh, hàng hóa xuất khẩu
còn hạn chế do doanh nghiệp Việt Nam chưa tập trung vào sản xuất các mặt hàng có lợi thế
cạnh tranh và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ hai, công tác hành chính còn nhiều thủ tục rườm rà chưa tạo môi trường thuận lợi
và thông thoáng.
Thứ ba, số lượng và chất lượng nguồn cán bộ quản lý chưa đáp ứng về nghiệp vụ, ngoại
ngữ, pháp luật và có năng lực đàm phán quốc tế.
12
Thứ tư, môi trường chính sách luôn thay đổi cũng đã gây ra không ít khó khăn cho
doanh nghiệp trong công tác xuất nhập khẩu hàng hóa.
2.1.2. Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO
2.1.2.1. Nội dung quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong điều
kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO
Đến nay, sau 03 năm thực thi các cam kết WTO, Việt Nam đã liên tục ban hành văn bản
pháp luật nhằm cụ thể hóa những cam kết WTO như:
- Nghị quyết 977/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 13 tháng 12 năm 2005 về việc Ban hành
Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và
khung thuế suất đối với từng nhóm hàng;
- Nghị quyết 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 3/8/2007 về việc ban hành Biểu thuế xuất
khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu
đãi đối với từng nhóm hàng;
- Quyết định 106/2007/QĐ-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành
Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi;
- Quyết đinh 107/2007/QĐ-BTC ngày 25/12/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành
Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam;
- Quyết định 157/QĐ-BTC ngày 23/1/2008 về việc đính chính hiệu lực thi hành Danh
mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam theo Quyết định 107/2007/QĐ-BTC ngày
25/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
- Các văn bản pháp luật khác.
Bên cạnh quy định quy định về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam đã phù hợp với cam
kết của WTO, vẫn có những quy định không phù hợp với nguyên tắc chung của WTO, nhưng
do chính sách đó mang tính chất đặc trưng riêng của nền kinh tế Việt Nam nên trong quá trình
đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã nỗ lực cố gắng để các quy định này trở thành một
phần cam kết WTO của Việt Nam. Cụ thể là:
* Các loại thuế nhập khẩu khác và phụ thu thuế nhập khẩu
Tất cả phụ thu nhập khẩu đã được xóa bỏ từ tháng 12/2004. Các khoản phụ thu nhập
khẩu cuối cùng đối với nhựa PVC và ống thép hàn đã được loại bỏ theo Quyết định
81/2004/QĐ-BTC ngày 15/10/2004 và Quyết định số 102/2004/QĐ-BTC ngày 27/12/2004.
Đại diện của Việt Nam cũng xác nhận rằng Việt Nam đồng ý ràng buộc thuế nhập khẩu và
13
phụ thu thuế nhập khẩu bằng không trong Biểu Nhân nhượng và cam kết về hàng hóa.
* Hạn ngạch thuế quan
Theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, hiện nay có bốn nhóm hàng hóa thuộc diện quản lý
theo hạn ngạch thuế quan, bao gồm muối, thuốc lá nguyên liệu, trứng gia cầm và đường tinh
luyện. Khi đàm phán gia nhập WTO, mặc dù có nhiều quan ngại của các nước thành viên về
việc áp dụng hạn ngạch của Việt Nam (đặc biệt sản phẩm muối). Tuy nhiên, trước việc giải
thích về các cơ sở pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như thực tế việc quản lý hạn ngạch
của các sản phẩm này, Việt Nam đã được chấp nhận cho phép áp dụng hạn ngạch đối với bốn
loại sản phẩm đó.
* Phí và lệ phí liên quan nhập khẩu
Việt Nam cam kết rằng các loại phí và lệ phí liên quan nhập khẩu sẽ được rà soát để
điều chỉnh cho phù hợp với quy định của WTO. Việt Nam cam kết các khoản phí đặc biệt cao
hơn đối với một số mặt hàng nhập khẩu sẽ được bãi bỏ từ thời điểm gia nhập. Thông tin liên
quan đến việc áp dụng và mức phí, số thu từ phí và việc áp dụng các loại thuế đó sẽ được
cung cấp cho các thành viên WTO.
* Trị giá hải quan
Về tỷ giá tính thuế, Nghị định 149 quy định đối với các đồng ngoại tệ chưa được công
bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì xác định theo nguyên
tắc tỷ giá tính chéo giữa tỷ giá đồng USD với đồng Việt Nam và tỷ giá giữa đồng USD với
các ngoại tệ đó.
Tuy nhiên, hiện nay, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá tính chéo giữa đồng Việt Nam
với 23 ngoại tệ trên website của Ngân hàng Nhà nước theo định kỳ 10 ngày/lần.
Vì vậy, Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định bổ sung, sửa đổi Nghị định số
149/2005/NĐ-CP ngày 8/12/2005: Đối với các đồng ngoại tệ chưa được Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì xác
định theo tỷ giá tính chéo giữa đồng Việt Nam với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế. Còn
đối với các đồng ngoại tệ chưa được công bố tỷ giá tính chéo thì vẫn xác định theo nguyên tắc
tỷ giá tính chéo giữa tỷ giá đồng đô la Mỹ (USD) với đồng Việt Nam và tỷ giá giữa đồng đô
la Mỹ với các ngoại tệ đó do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế.
* Miễn, giảm thuế nhập khẩu
Bộ Tài chính đang chủ trì dự thảo Nghị định mới trên tinh thần thu hẹp chính sách miễn,
giảm thuế nhập khẩu. Bởi vì thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
14
(WTO), hiện chúng ta đã cắt giảm hàng chục ngàn dòng thuế thuế nhập khẩu, trong đó có rất
nhiều mặt hàng hiện chỉ còn phải chịu thuế nhập khẩu 0%; hầu hết các mặt hàng nằm trong
diện miễn, giảm thuế hiện chỉ còn phải chịu thuế suất thuế nhập khẩu 1-5%, nên việc miễn,
giảm thuế không còn nhiều tác dụng.
Hệ thống thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với
tình hình khi gia nhập WTO.
Thứ nhất, các văn bản pháp luật quy định về thuế xuất nhập khẩu còn thiếu tính ổn định,
rõ ràng làm cho chính sách thuế không minh bạch theo quy định của WTO và doanh nghiệp bị
động khi có sự thay đổi về thuế.
Thứ hai, quy định mức thuế suất vừa theo phân loại hàng hoá, vừa theo xuất xứ làm cho
biểu thuế quá phức tạp và dẫn đến nhiều mức thuế cho cùng một mặt hàng.
Thứ ba, chưa xây dựng được một cơ chế quản lý hàng hóa nhập khẩu rõ ràng trong khi
tồn tại song song hai biểu thuế nhập khẩu khác nhau với mức chênh lệch nhiều (AFTA và
MFN áp dụng chung).
Thứ tư, khi gia nhập WTO thì việc duy trì hàng rào thuế xuất khẩu sẽ không đưa lại
nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, không khuyến khích hoạt động xuất khẩu.Vì vậy, quy
định thuế suất xuất khẩu ngoài mức 0% là cần xem xét sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh
tế thương mại quốc tế.
Thứ năm, pháp luật về thuế xuất nhập khẩu chưa xác định cụ thể về thời hạn và lộ trình
bảo hộ để các doanh nghiệp chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy lợi thế sẵn có
của mình.
Thứ sáu, pháp luật về thuế xuất nhập khẩu chưa xác định một cơ chế phối hợp cụ thể
giữa các cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá trình tiến hành
hoạt động xuất nhập khẩu.
Thứ bảy, quy định thủ tục hành chính vẫn còn khá phức tạp, rườm rà, hiệu quả hoạt
động xuất nhập khẩu chưa cao, không ít quy định can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc đồng bộ hóa các quy định pháp luật cũng như việc ban hành các văn bản pháp luật
sau khi Việt Nam gia nhập WTO phải phù hợp, đáp ứng các điều kiện:
- Khuyến khích phát triển sản xuất và xuất khẩu, bảo hộ hợp lý các ngành sản xuất trong
nước phù hợp với tiến trình thực thi cam kết WTO;
- Cụ thể hóa cam kết về thuế xuất nhập khẩu của WTO phù hợp với tiến trình Việt Nam
cam kết theo hướng ổn định, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét