Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Hoàn thiện công tác trả công lao động tại công ty cổ phần Vận tải và thuê tàu

Chuyên đề tốt nghiệp
III. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp biểu bảng, thống kê
- Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Các hình thức trả công lao động
- Phạm vi nghiên cứu : Các hình thức trả công lao động tại Công ty cổ phần
vận tải và thuê tàu Vietfracht.
V. Kết cấu chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của chuyên đề được chia làm
ba phần:
Phần I : Công tác trả công lao động trong doanh nghiệp
Phần II : Phân tích và đánh giá công tác trả công lao động tại công ty cổ
phần vận tải và thuê tàu Vietfracht
Phần III : Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả công lao động tại
công ty cổ phần vận tải và thuê tàu Vietfracht
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
2
Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN I
CÔNG TÁC TRẢ CÔNG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
I. Những vấn đề chung về tiền lương
1. Khái niệm và bản chất tiền lương
1.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động, sức
lao động là hàng hoá do vậy tiền lương là giá cả của sức lao động. Khi phân tích về
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nơi mà các quan hệ thị trường thống trị mọi quan hệ
kinh tế, xã hội khác. C.Mác viết: "Tiền công không phải giá trị hay giá cả của lao
động mà chỉ là một hình thức cải trang giá trị hay giá cả sức lao động". Tiền lương
phản ánh nhiều quan hệ kinh tế, xã hội khác nhau. Tiền lương trước hết là số tiền mà
người sử dụng lao động (mua sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức
lao động). Đó là quan hệ kinh tế của tiền lương. Mặt khác, do tính chất đặc biệt của
loại hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà
còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội. Đó
là quan hệ xã hội.
Trong quá trình hoạt động nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với chủ
doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất - kinh doanh.
Vì vậy tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối
với đại đa số lao động trong xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ.
Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của hết thảy người lao động. Mục đích này
tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.
Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế. Tiền lương danh nghĩa là số tiền
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ
thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ
thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc… ngay trong quá trình lao động. Tiền
lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ
cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh
nghĩa của họ. Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương danh
nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch
vụ cần thiết mà họ muốn mua.
1.2. Bản chất về tiền lương
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế xã hội khác nhau và được thể hiện
trên hai phương diện chính là kinh tế và xã hội. Về nặt kinh tế, tiền lương là phần đối
trọng của sức lao động mà người lao động đã cung cấp cho người sử dụng lao động. Qua
hợp đồng lao động, người lao động và người sử dụng lao động đã cam kết trao đổi hàng
hoá sức lao động: người lao động cung cấp sức lao động của mình trong một khoảng
thời gian nào đó và sẽ được nhận một khoản tiền lương theo thoả thuận từ người sử dụng
lao động.
Về mặt xã hội, tiền lương là khoản thu nhập của người lao động để bù đắp nhu
cầu tối thiểu của người lao động ở một thời điểm kinh tế – xã hội nhất định. Khoản tiền
đó phải được thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động có tính đến
mức lương tối thiểu do nhà nước ban hành. Trong đó, mức lương tối thiểu là khoản tiền
lương trả cho người lao động ở mức đơn giản nhất, không phải đào tạo, đủ để tái sản
xuất sức lao động cho họ và một phần cho gia đình họ. Nói rõ hơn, đó là số tiền bảo đảm
cho người lao động này có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất
sức lao động của bản thân và có dành một phần để nuoi con cũng như bảo hiểm lúc hết
tuổi lao động. Ngoài tiền lương cơ bản, người lao động còn có phụ cấp lương, tiền
thưởng và các loại phúc lợi. Ngày nay, khi xã hội càng phát triển ở trình độ cao, thì cuộc
sống con người đã và đang được cải thiện rõ rệt, trình độ văn hóa chuyên môn của người
lao động được nâng cao không ngừng, thì ngoài tiền lương cơ bản, phụ cấp, thưởng và
phúc lợi, người lao động còn muốn có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, được thực sự
kính trọng và làm chủ trong công việc… thì tiền lương còn có ý nghĩa như là một khoản
đầu tư cho người lao động để không ngừng phát triển con người một cách toàn diện.
2. Các nguyên tắc cơ bản trong công tác trả công
2.1.Nguyên tắc trả lương ngang nhau cho lao động như nhau
Nguyên tắc này rất quan trọng, xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động,
đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong trả lương. Những người lao động có mức hao phí
sức lao động ngang nhau thì được trả tiền lương như nhau không phân biệt tuổi tác, giới
tính hay trình độ. Nguyên tắc này giúp cho người lao động yên tâm làm việc, cống hiến
cho doanh nghiệp.
2.2.Nguyên tắc đảm bảo tốc độ tăng tiền lương bình quân phải nhỏ hơn tốc độ
tăng năng suất lao động
Để cho hoạt động sản xuất kinh doanh có thể phát triển tốt doanh nghiệp cần phải
tăng năng suấtt lao động bình quân, hệ quả tất yếu của việc tăng năng suấtt lao động bình
quân là việc tăng tiền lương bình quân cho người lao động. Tiền lương bình quân tăng phụ
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
4
Chuyên đề tốt nghiệp
thuộc chủ yếu vào trình độ tổ chức và quản lý người lao động ngày càng có hiệu quả còn
năng suất lao động tăng không chỉ do những nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các
nhân tố khách quan như đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ trang thiết bị…Như vậy tốc
độ tăng năng suet lao động có điều kiện khách quan để lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình
quân và đây cũng là mong muốn của người sử dụng lao động.
2.3.Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa người lao động
làm các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
Giữa các ngành khác nhau thì trình độ lành nghề bình quân của người lao động
khác nhau do đặc điểm và tính chất phức tạp về công nghệ ở mỗi ngành nghề khác nhau.
Sự khác biệt này cần phải phân biệt trong trả lương với những người lao động làm việc
trong các ngành đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao phải trả lương cao hơn những người làm
việc trong những ngành có yêu cầu kỹ thuật thấp hơn.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác trả lương
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trả lương rất đa dạng, phong phú bao gồm
Sơ đồ1.1: Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền công lao động
Bản thân công việc
Độ phức tạp của vị trí
đảm nhiệm
Xã hội và thị trường
lao động
Sự phát triển của nền
kinh tế xã hội
Chi phí sinh oạt
Luật pháp Lđ và lương
tối thiểu
Lương trung bình trên
thị trường lao động…
Tình trạng nịn kinh tế
Bản thân người lao
động
Khả năng hiện tại
(kiến thức, tay nghề)
Tiềm năng cá nhân
trong tương lai
Thâm niên và mức độ
trung thành với doanh
nghiệp
Mức độ hoàn thành
công việc…
Tiền công hay tiền
lương của người lao
động
Doanh nghiệp
Khả năng tài chính
Hiệu quả kinh doanh
Chính sách tiền lương
trong từng gia đoạn
Văn hóa doanh
nghiệp…
4. Vai trò quản lý tiền lương trong doanh nghiệp
Tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động, là yếu tố để đảm bảo
tái sản xuất sức lao động, một bộ phận đặc biệt của sản xuất xã hội. Vì vậy, tiền
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp
lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình.
Trước hết, tiền lương phải đảm bảo những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người lao
động như ăn, ở, đi lại. Tức là tiền lương phải đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu của
người lao động. Chỉ có khi được như vậy, tiền lương mới thực sự có vai trò quan
trọng kích thích lao động, và nâng cao trách nhiệm của người lao động đối với quá
trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Đồng thời, chế độ tiền lương phù hợp với sức
lao động đã hao phí sẽ đem lại sự lạc quan và tin tưởng vào doanh nghiệp, vào chế độ
họ đang sống. Như vậy có thể nói tiền lương đã góp phần quan trọng giúp nhà tổ
chức điều phối công việc dễ dàng thuận lợi. Trong doanh nghiệp việc sử dụng công
cụ tiền lương ngoài mục đích tạo vật chất cho người lao động, tiền lương còn có ý
nghĩa lớn trong việc theo dõi kiểm tra và giám sát người lao động. Tiền lương được
sử dụng như là thước đo hiệu quả công việc bản thân tìn lưong là một bộ phận cấu
thành bên chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Với
nhũng vai trò to lớn như trên của tiền lương trong sản xuất và đời sống thì việc lựa
chọn hình thức trả lương phù hợp với điều kiện, đặc thù sản xuất của từng ngành,
từng doanh nghiêp sẽ có tác dụng tích cực thúc đẩy người lao động quan tâm đến kết
quả lao động, hiệu quả sản xuất của kinh doanh. Đây luôn luôn là vấn đề nóng bỏng
trong tất cả các doanh nghiệp một chế độ tiền lương lý tưởng vừa đảm bảo lợi ích
người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội.
II. Công tác trả công lao động trong doanh nghiệp
1. Hình thức trả công lao động theo thời gian
Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương mà tiền lương của người lao
động được xác định theo trình độ kỹ thuật nghiệp vụ, chức vụ và theo thời gian làm
việc của người lao động.Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những
người làm công tác quản lý. Đối với công nhân sản xuất thì hình thức trả lương này
chỉ áp dụng ở những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công
việc không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất
của sản xuất nếu thực hiện trả công theo sản phẩm sẽ không đảm bảo được chất
lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực.
Hình thức trả lương theo thời gian gồm 2 chế độ bao gồm hình thức trả lương
theo thời gian giản đơn và theo thời gian có thưởng.
1.1. Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản
Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn là chế độ trả lương mà tiền lương
nhận được của mỗi người công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
6
Chuyên đề tốt nghiệp
thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định. Chế độ trả lương này chỉ áp dụng ở những
nơi khó xác định mức lao động chính xác, khó đánh giá công việc chính xác.
Tiền lương được tính như sau:
L
TT
= L
CB
x T
Trong đó: L
TT
: Tiền lương thực tế người lao động nhận được
L
CB
: Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian của người lao động
T : Thời gian thực tế người lao động làm việc (giờ, ngày, tháng)
Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính.
Nhược điểm: Mang nặng tính bình quân, chưa gắn với năng suất lao động của
người lao động.
1.2. Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng
Chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian giản
đơn với tiền thưởng, khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng và chất lượng đã quy
định. Chế độ này chủ yếu áp dụng đối với những công nhân phụ làm công tác phục
vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị, những công nhân chính làm việc ở
những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc những công việc
tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng.
Cách tính
Lương thời gian có thưởng = Lương thời gian giản đơn + Tiền thưởng.
Chế độ trả lương này phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực
tế, gắn chặt với thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ tiêu thưởng đã
đạt được. Nó khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả
công tác của mình.
2. Hình thức trả công lao động theo sản phẩm
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động dựa trên
trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm ( hay dịch vụ) mà họ đã hoàn thành.
2.1. Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân được áp dụng rộng rãi đối
với người trực tiếp sản xuất trong điều kiện quá trình lao động của họ mang tính chất
độc lập tương đối, có thể định mức, kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách cụ
thể và riêng biệt. Tiền lương trong kỳ mà một công nhân hưởng lương theo chế độ trả
lương sản phẩm trực tiếp cá nhân được tính như sau
TL
SPCN
= Đ
G
* Q
TT
Trong đó: TL
SPCN
: tiền lương thực tế mà công được nhận.
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
7
i = 1
i = 1
n
Chuyên đề tốt nghiệp
Q
TT
: Số lượng sản phẩm thực tế hoàn thành.
Đ
G
: Đơn giá tiền lương sản phẩm
Đơn giá được tính như sau Đ
G
= L
cb
* T = L
cb
: Q
Trong đó: Đ
G
- đơn giá tiền lương trả cho một sản phẩm.
L
cb
: Mức lương cấp bậc của công nhân trong kỳ.
Q : Mức sản lượng của công nhân trong kỳ.
T : Mức thời gian hoàn thành một đơn vị sản phẩm.
Ưu điểm
- Dễ dàng tính được tiền lương trực tiếp trong kỳ.
- Khuyến khích công nhân tích cực làm việc để nâng cao năng suất lao động
tăng tiền lương một cách trực tiếp.
Nhược điểm
- Dễ làm công nhân chỉ quan tâm đến số lượng mà ít chú ý đến chất lượng sản
phẩm.
- Nếu không có thái độ và ý thức làm việc tốt sẽ ít quan tâm đến tiết kiệm vật
tư, nguyên liệu hay sử dụng hiệu quả máy móc thiết bị.
2.2. Chế độ trả lương sản phẩm tập thể
Chế độ trả lương sản phẩm tập thể là chế độ tiền lương cho người lao động
căn cứ vào số lượng và chất lượng sản phẩm mà tổ lao động hoàn thành. Chế độ trả
lương sản phẩm tập thể áp dụng cho những công việc đòi hỏi nhiều người cùng tham
gia thực hiện, mà công việc của mỗi cá nhân có liên quan đến nhau.
Đơn giá tiền lương được tính như sau
+ Nếu tổ hoàn thành nhiều sản phẩm trong kỳ

ĐG = Σ LCBI : Q
+ Nếu tổ hoàn thành một sản phẩm trong kỳ ta có :

ĐG = Σ LCBI x T
Trong đó: Đ
G
: Đơn giá tiền lương sản phẩm trả cho tổ.
L
CB
: Tiền lương cấp bậc của công nhân i.
n : Số công nhân trong tổ
Q : Mức sản lượng của cả tổ
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
n
8
Chuyên đề tốt nghiệp
T : Mức thời gian của tổ
=> Tính tiền lương thực tế : L = Đ
G
* Q
Trong đó: L : Tiền lương thực tế tổ nhận được
Q : Sản lượng thực tế tổ đã hoàn thành.
Chia lương cho cá nhân trong tổ
Việc chia lương cho từng cá nhân trong tổ rất quan trọng trong chế độ trả lương
sản phẩm tập thể. Có hai phương pháp chia lương thường được áp dụng. Đó là phương
pháp dùng hệ số điều chỉnh và phương pháp dùng giờ - hệ số.
+ Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh: phương pháp này được thực hiện theo
trình tự như sau:
- Xác định hệ số điều chỉnh (h
dc
)
H
dc
= L
1
: L
0
Trong đó: H
dc
: hệ số điều chỉnh
L
1
: tiền lương thực tế cả tổ nhận được
L
0
: tiền lương cấp bậc của tổ
+ Tính tiền lương cho từng công nhân. Tiền lương của từng công nhân được
tính theo công thức:
L
i
= L
CB
x H
dc
Trong đó: L
1
: lương thực tế công nhân i nhận được
l
CB
: lương cấp bậc của công nhân i
+ Phương pháp dùng giờ - hệ số. Phương pháp này được thực hiện theo trình tự
sau:
- Quy đổi số giờ làm việc thực tế của từng công nhân ở từng bậc khác nhau ra
số giờ làm việc của công nhân bậc i theo công thức sau:
T
qd
= T
i
x H
i
Trong đó: T
qd
: Số giờ làm việc quy đổi ra bậc I của công nhân bậc i.
T
i
: Số giờ làm việc của công nhân i
H
i
: Hệ số lương bậc i trong thang lương.
- Tính tiền lương cho một giờ làm việc của công nhân bậc i:
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
9
Chuyên đề tốt nghiệp
L
bậci
= L
1
: T
qd
L
1
: Tiền lương thực tế của cả tổ
L
bậc i :
Tiền lương thực tế 1 giờ của công nhân bậc i
Ưu điểm: trả lương sản phẩm tập thể có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm,
tinh thần hợp tác và phối hợp có hiệu quả giữa các công nhân làm việc trong tổ để cả
tổ làm việc hiệu quả hơn, khuyến khích các tổ lao động làm việc theo mô hình tổ
chức lao động theo tổ tự quản.
Nhược điểm: chế độ trả lương sản phẩm tập thể cũng hạn chế khuyến khích
tăng năng suất lao động cá nhân, vì tiền lương phụ thuộc vào kết quả làm việc chung
của cả tổ chứ không trực tiếp phụ thuộc vào kết quả làm việc của bản thân họ v.v
2.3. Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Chế độ trả lương sản phẩm gián tiếp được áp dụng để trả lương cho những lao
động làm các công việc phục vụ hay phụ trợ, phục vụ cho hoạt động của công nhân
chính.
- Tính đơn giá tiền lương
Đ
G
= L
PV
/(M
PV
* Q)
Trong đó: Đ
G
: Đơn giá tiền lương của công nhân phụ, phụ trợ
L
PV
: lương cấp bậc của công nhân phụ, phụ trợ
M
PV
: Mức phục vụ của công nhân phụ, phụ trợ
Q: Mức sản lượng của một công nhân chính
- Tính tiền lương thực tế
L
1
= Đ
G
* Q
1
Trong đó: L
1
: tiền lương thực tế của công nhân phụ
Đ
G
: đơn giá tiền lương phục vụ
Q
I
: Mức hoàn thành thực tế của công nhân chính
Ưu điểm: chế độ trả lương ngày khuyến khích công nhân phụ - phụ trợ phục
vụ tốt hơn cho hoạt động của công nhân chính, góp phần nâng cao năng suất lao động
của công nhân chính.
Nhược điểm: Tiền lương của công nhân phụ - phụ trợ phụ thuộc vào kết quả làm
việc thực tế của công nhân chính, mà kết quả này nhiều khi lại chịu tác động của các yếu
tố khác. Do vậy có thể làm hạn chế sự cố gắng làm việc của công nhân phụ.
2.4. Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng
Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng là sự kết hợp trả lương theo sản phẩm
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
10
Chuyên đề tốt nghiệp
(theo các chế độ đã trình bày ở phần trên) và tiền thưởng. Chế độ trả lương theo sản
phẩm có thưởng gồm hai phần: Phần trả lương theo đơn giá cố định và số lượng sản
phẩm thực tế đã hoàn thành. Phần tiền thưởng được tính dựa vào trình độ hoàn thành và
hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu thưởng cả về số lượng và chất lượng sản phẩm.
L
th
= L + L(m*h)/100
Trong đó: L
th
: tiền lương sản phẩm có thưởng
L: tiền lương trả theo sản phẩm với đơn giá cố định
m: tỷ lệ phần trăm tiền thưởng
h: tỷ lệ phần trăm hoàn thành vượt mức sản lượng được tính thưởng.
Ưu điểm : của chế độ trả lương này là khuyến khích công nhân tích cực làm
việc hoàn thành vượt mức sản lượng
Nhược điểm: việc phân tích tính toán xác định các chỉ tiêu tính thưởng không
chính xác có thể làm tăng chi phí tiền lương, bội chi quỹ tiền lương
2.5. Chế độ trả lương sản phẩm khoán
Chế độ trả lương sản phẩm khoán áp dụng cho những công việc được giao
khoán cho công nhân. Chế độ này được thực hiện khá phổ biến trong ngành nông
nghiệp, xây dựng cơ bản, hoặc trong một số ngành khác khi công nhân làm các công
việc mang tính đột xuất, công việc không thể xác định một định mức lao động ổn
định trong thời gian dài được
Tiền lương khoán được tính như sau:
L
I
= Đ
GK
* Q
I
Trong đó: L
I
: tiền lương thực tế công nhân nhận được
Đ
GK
: đơn giá khoán cho một sản phẩm hay công việc
Q
I
: số lượng sản phẩm được hoàn thành.
Ưu điểm: trả lương theo sản phẩm khoán có tác dụng làm cho người lao động
phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình làm việc,
giảm thơi gian lao động, hoàn thành nhanh công việc giao khoán.
Nhược điểm: Việc xác định đơn giá giao khoán phức tạp, nhiều khi khó chính
xác, việc trả sản phẩm khoán có thể làm cho công nhân bi quan hay không chú ý đầy đủ
đến một số việc bộ phận trong quá trình hoàn thành công việc giao khoán.
PHẦN II
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TRẢ CÔNG LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI VÀ THUÊ TÀU VIETFRACHT
Đỗ Hồng Thắm Lớp: QTNL 48
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét