Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

"Nghiên cứu đề xuất các biện pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHN0&PTNTHN"

Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
đó để cho vay thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán”.
- Luật các tổ chức tín dụng 1997/QH10
“NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh
doanh khác có liên quan” trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
1.3 Những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng:
Do ngân hàng là trung gian tài chính thông qua các nghiệp vụ của mình để
điều tiết cung cấp vốn cho hoạt động của cả nền kinh tế với trình độ phát triển của
khoa học kỹ thuật hiện nay mọi hoạt động của ngành ngân hàng ngày càng trở nên
phong phú hơn nhưng ngân hàng vẫn duy trì 3 nghiệp vụ chính sau:
1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Đây là nghiệp vụ rất cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng, vốn được ngân
hàng huy động bằng mọi hình thức khác nhau và sử dụng sau khi đảm bảo một dự
trữ bắt buộc với trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi
Để thành lập NHTM theo Pháp luật Việt Nam thì ngân hàng phải có một lượng
tiền nhất định để mua sắm trang thiết bị, nhà cửa, vốn này có thể được nhà nước
cấp hoặc do các thành viên đóng góp ngoài vốn trên còn vốn bổ sung trong quá
trình hoạt động và nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần thường vốn
ngân hàng sở hữu chiếm tỷ lệ nhỏ còn nguồn vốn chủ yếu trong tổng nguồn vốn là
vốn ngân hàng huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức cộng đồng xã hội.
a) Vốn tự có của ngân hàng: Là nguồn vốn thuộc sở hữu riêng của NHTM
nguồn vốn không ngừng tăng do kết quả hoạt động kinh doanh.
b) Nghiệp vụ gửi tiền: Phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào để
thanh toán nhằm mục đích bảo quản tài sản, từ đó ngân hàng có thể huy động
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
5
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
được. Tiền gửi của khách hàng là nguồn quan trọng thường chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
Nên trong tình hình hiện nay sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thi
nhau tăng lãi suất để thu hút khách hàng gửi tiền thì việc huy động vốn với chất
lượng ngày càng cao đòi hỏi ngân hàng phải đưa ra và thực hiện nhiều hình thức
huy động khác nhau và linh hoạt nhất là NHTM thực hiện các hình thức huy động
tiền gửi cơ bản phù hợp với mục đích của từng đối tượng khách hàng, tiền gửi
thanh toán, có kỳ hạn của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, của dân cư cũng như
tiền gửi của các tổ chức khác.
c) Nghiệp vụ tiền vay
Phản ánh quá trình tạo ra nguồn vốn bằng cách vay các tổ chức tín dụng trên
thị trường tiền tệ và vay NHTW dưới các hình thức tái triết khấu vay có bảo đảm
mục đích tạo ra sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi họ không
tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ.
d) Nghiệp vụ khác
- Ngoài ra còn một số nghiệp vụ khác như nghiệp vụ huy động vốn khác.
1.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn
Ngân hàng luôn nghiên cứu các chiến lược kinh doanh của mình trong việc sử
dụng đồng vốn sao cho hiệu quả vì đây là hoạt động cơ bản truyền thống đặc
trưng nhất vì nó đem lại nguồn thu nhập chủ yếu từ nguồn tiền huy động được
ngân hàng tiến hành dự trữ tiền mặt đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định
của NHNN và khả năng thanh toán cho ngân hàng sau đó ngân hàng mới tiến hành
cho vay, đầu tư.
1.3.2.1 Những hoạt động cho vay
Qua thống kê nhiều năm cho thấy thu nhập của ngân hàng chủ yếu là từ hoạt động
cho vay. Nó cũng là hoạt động quan trọng bậc nhất sự thành công hay thất bại từ
trong kinh doanh phụ thuộc vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công
của tín dụng xuất phát từ việc cho vay của ngân hàng. Nhưng thực tế cho thấy
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
6
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
nghiệp vụ này cũng chính là mầm mống chứa đựng nhiều rủi ro mà ngân hàng
phải đối mặt, các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách như mục đích sử
dụng, hình thức bảo đảm, nguồn gốc phương hướng hoàn trả, kỳ hạn thanh toán
thì có cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Mục đích việc cho vay: Gồm cho vay bất động sản, cho vay thương mại, cho
vay cá nhân, cho vay nông nghiệp, cho vay thuê mua và khác.
Ngân hàng tài trợ dựa vào dự án, phương án có hiệu quả thông qua việc khách
hàng phải chứng minh về hiệu quả và có khả năng thanh toán cho ngân hàng
1.3.2.2 Những hoạt động đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường NHTM thực chất là một doanh nghiệp do đó hoạt
động kinh doanh của mình phải coi lợi nhuận là mục tiêu tất yếu nên việc sử dụng
nguồn vốn trong đầu tư được thể hiện dưới nhiều hình thức như nắm giữ chứng
khoán với mục đích đảm bảo thanh khoản, đa dạng hoá tài sản và đem lại lợi tức,
mua trái phiếu của chính phủ hoặc của doanh nghiệp và các nghiệp vụ liên doanh
liên kết.
+ Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân
hàng
+ Đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác.
1.3.2.3 Hoạt động ngân quỹ
Ngoài hai hoạt động cho vay và đầu tư thì ngân hàng luôn phải sử dụng một
phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và
thực hiện các quy định về dự trữ vốn tiền bắt buộc do trung ương đê ra, do ngành
ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro trong hoạt động kinh doanh vì vậy đòi
hỏi ngân hàng luôn đặt yếu tố "An toàn" là hàng đầu. Rủi ro của ngân hàng rất đa
dạng và phức tạp như rủi ro tín dụng, rủi ro về nguồn vốn, rủi ro lãi suất, rủi ro
thanh khoản, rủi ro trong thanh toán, rủi ro thuần tuý.
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
7
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
Tóm lại: Hoạt động cho vay là một trong các hoạt động lớn nhất và chủ yếu
nhất của NHTM là nơi điều khiển vốn từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu
nên lợi nhuận chủ yếu từ thu lãi cho vay.
1.3.3 Các dịch vụ của ngân hàng
Các dịch vụ mà ngân hàng đem lại không chỉ ở một quốc gia mà còn trên
phạm vi toàn thế giới tạo cho việc thanh toán trở nên nhanh hơn góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển thông qua các hình thức thanh toán như séc, thẻ thanh
toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng, hoặc dựa trên việc hạch toán vào
các tài khoản có liên quan đến đối tượng như:
Dịch vụ thanh toán hộ: Trên cơ sở khách hàng mở tài khoản, giao dịch vụ tại
Ngân hàng và gửi tiền vào tài khoản, ngân hàng có thể đứng ra thanh toán hộ cho
khách hàng của mình về các khoản tiền mua bán dịch vụ thông qua việc thu hộ,
chi hộ khách hàng bằng các hình thức trên.
Dịch vụ môi giới: Mua bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát
hành chứng khoán cho công ty
Nghiệp vụ khác: Dịch vụ uỷ thác, bảo quản hộ các chứng từ có giá cho khách
hàng thuê két sắt
* KẾT LUẬN: Các nghiệp vụ trên của ngân hàng có mối liên kết chặt chẽ và
tác động lẫn nhau là tiền đề tạo điều kiện cho nhau phát triển, nguồn vốn huy
động có ảnh hưởng tới các quyết định sử dụng đồng vốn và ngược lại đồng thời
các nghiệp vụ trung gian tạo lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời tạo điều kiện cho
việc huy động vốn nên các ngân hàng luôn luôn phát triển đồng bộ các hoạt động
để phát triển bền vững
§2 VỐN, NGUỒN VỐN VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
8
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
Sự hình thành và phát triển của ngân hàng là điều tất yếu đối với lưu thông
hàng hoá, mọi sự vật hiện tượng luôn tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, tác
động qua lại lẫn nhau, sự vật này tồn tại được là nhờ có sự vật khác mà theo triết
học là "cái chung và riêng". Bản thân ngân hàng để được coi là "bà đỡ" cho nền
sản xuất hàng hoá hay "trái tim" cung cấp "máu" cho mọi tế bào của cuộc sống
kinh tế xã hội thì hoạt động huy động vốn không thể không tồn tại và phát triển.
2.1 Khái niệm về vốn
Để một doanh nghiệp thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì
vốn là điều không thể thiếu được. Nó phản ánh nguồn lực tài chính của doanh
nghiệp. Có nhiều quan điểm khác nhau về vốn:
- Vốn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám,
tiền bạc và cả quan hệ đã tích lũy của một cá nhân, một doanh nghiệp hay một
quốc gia. Còn vốn được hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân
mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia.
- Thuyết kinh tế cổ điển và tân cổ điển quan niệm: "Vốn là một trong những
yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm đất đai, tài nguyên, lao
động nhà cửa, máy móc, thiết bị, nguyên liệu…"
- Mark quan niệm "Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư là đầu vào của quá
trình sản xuất"
- SamuelSon cho rằng: "Vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho
quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp"
- DavidBegg cho rằng: "Vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiệu
vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác.
Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp"
- Quan niệm khác cho rằng: "Vốn là số tiền do cổ đông công ty đóng góp"; "Vốn
bao gồm tất cả nguồn lực, vật lực, tài chính, chất xám và cả quan hệ tích luỹ được
sử dụng vào quá trình kinh doanh".
- Như vậy vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình
được đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi.
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
9
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
2.2 Vai trò của vốn đối với ngân hàng
Mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và phải
lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định đối với lĩnh vực đó, giá trị của vốn ban đầu
của doanh nghiệp có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô ngành nghề, loại hình
doanh nghiệp.
Vốn pháp định ở Việt Nam quy định cho một số ngành nghề liên quan đến tài
chính như bảo hiểm, kinh doanh vàng, kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng
khoán nên để có thể hoạt động ngân hàng phải có vốn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp
định để vốn có vai trò đảm bảo sự hình thành của ngân hàng trước Pháp luật và
đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được
dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác
2.3 Nguồn vốn của ngân hàng
Nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi
trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng mà chủ sở hữu để thực hiện vai trò
tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, tăng vòng quay luân chuyển
vốn tạo động lực cho kinh tế tăng trưởng.
Nguồn vốn của NHTM gồm toàn bộ các giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập
được từ các chức năng và nghiệp vụ nhận tiền gửi của ngân hàng. Thường nguồn
vốn của ngân hàng được hình thành từ kết cấu và tính chất vốn kinh doanh gồm
vốn cố định, vốn lưu động vốn chủ sở hữu…
a) Vốn cố định: Biểu hiện bằng tiền của TSCĐ. Quy mô của vốn cố định quyết
định quy mô tài sản cố định nhưng tốc độ lưu chuyển giá trị lại quyết định tốc độ
lưu chuyển vốn cố định.
b) Vốn lưu động: Biểu hiện bằng tiền giá trị của TSLĐ đảm bảo cho quá trình
SXKD được liên tục, sự vận động của vốn lưu động phụ thuộc vào sự vận động
của TSLĐ, giá trị của TSLĐ được chuyển dịch một lần vào giá trị của sản phẩm.
c). Vốn tự có: (Vốn chủ sở hữu) Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của ngân
hàng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ dưới 10% trong tổng nguồn vốn. Đây là loại
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
10
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
vốn được sử dụng lâu dài hình thành lên trang thiết bị. Nhà cửa là nguồn vốn khởi
đầu tạo uy tín cho ngân hàng đối với khách hàng tạo cơ sở thu hút nguồn vốn
khác. Vốn này được gia tăng trong quá trình hoạt động kinh doanh bằng cách trích
từ lợi nhuận hoặc bằng cách tăng mức đóng góp của các chủ sở hữu
d) Vốn tự có ban đầu: Tuỳ hình thức ngân hàng vốn này khác nhau. Ngân hàng
thuộc sở hữu Nhà nước thì vốn do ngân sách Nhà nước cấp. Ngân hàng cổ phần
vốn do các cổ đông đóng góp. Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp.
Ngân hàng tư nhân thì vốn thuộc sở hữu tư nhân.
đ) Vốn tự có bổ xung trong quá trình hoạt động: Vốn này có thể được cấp
thêm hoặc bổ xung từ lợi nhuận, từ các quỹ phúc lợi, khen thưởng, dự phòng rủi
ro, quỹ thặng dư vốn, hay bổ xung vốn từ việc phát hành thêm cổ phần để mở
rộng thêm quy mô hoạt động.
e) Các quỹ của ngân hàng: Đều thuộc sở hữu của ngân hàng có nhiều quỹ hình
thành từ thu nhập nhằm các mục đích khác nhau như dự phòng tổn thất, quỹ bảo
toàn vốn.
f) Các nguồn vay nợ trung, dài hạn: Có thể chuyển đổi thành cổ phần được coi
là một phần vốn sở hữu của ngân hàng do nguồn này có thể không phải trả khi đến
hạn.
g) Nguồn vốn tự huy động: Nếu vốn tự có để đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thì vốn huy động chính là nhân tố thúc đẩy hoạt động kinh doanh
của ngân hàng mở rộng hay thu hẹp quy mô. Tổng nguồn vốn của ngân hàng là phần vốn
chiếm tỷ trọng lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả
đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khi có nhu cầu rút vốn để chi trả. Do
vốn huy động luôn biến đổi nên ngân hàng không được sử dụng hết số vốn đó vào
kinh doanh mà phải dự trữ với tỷ lệ hợp lý đảm bảo khả năng thanh toán
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
11
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
h) Nguồn vốn bên trong ngân hàng: Là vốn huy động từ kết quả hoạt động của
ngân hàng gồm khấu hao TSCĐ, các quỹ được trích từ lợi nhuận sau thuế. Ngân
hàng được quyền sử dụng vốn mà không phải trả chi phí sử dụng vốn.
i) Nguồn vốn bên ngoài ngân hàng: Ngân hàng huy đông được từ bên ngoài
phục vụ quá trình SXKD gồm vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế, hoặc khi
phát hành trái phiếu. Nguồn vốn này tạo ra cơ cấu vốn linh hoạt nhưng phải trả lãi
vay và vốn đúng kỳ hạn nên sử dụng nguồn vốn này không hiệu quả sẽ đưa ngân
hàng gặp khó khăn và thua lỗ.
j) Nguồn vốn thường xuyên: Bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay tiền
gửi dài hạn. Nguồn này giúp ngân hàng ổn định và cho vay trung và dài hạn.
k) Nguồn vốn tạm thời: Bao gồm nguồn vốn ngắn hạn như các khoản vay ngắn
hạn, tiền gửi ngắn hạn được dùng cho vay ngắn hạn đáp ứng nhu cầu thanh toán
hàng ngày và một phần cho vay trung hạn.
l) Các nguồn vốn khác:
- Vốn tiếp nhận: Gồm vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác chương
trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hay trợ giúp cho đầu tư phát
triển những chương trình, dự án có mục tiêu kinh tế xã hội riêng, ngân hàng cho
vay theo chỉ định của chủ nguồn vốn để hưởng hoa hồng.
- Các loại nguồn vốn khác được hình thành trong quá trình hoạt động của
nghiệp vụ được sử dụng theo quy định của Nhà nước và Pháp luật
2.4 Sự cần thiết việc huy động vốn của ngân hàng:
2.4.1 Đối với nền kinh tế:
Vốn thực sự có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Nó có thể huy động qua
kênh ngân sách Nhà nước, qua thị trường chứng khoán và qua các tổ chức tài
chính trung gian.
2.4.2 Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
Mọi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh thì phải cần có vốn vì
vốn là năng lượng chủ yếu quyết định khả năng, quy mô hoạt động.
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
12
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
Vốn là điểm đầu trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng vì hoạt động kinh
doanh tiền tệ có những đặc điểm riêng. Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh
chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngoài vốn ban đầu cần thiết thì
ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn trong suốt quá trình
hoạt động kinh doanh.
2.4.3 Vốn quyết định tới quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân
hàng:
Nếu khả năng vốn dồi dào thì chắc chắn sẽ đáp ứng được nhu cầu cho vay, có
đủ điều kiện mở rộng thị trường tín dụng và các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại
ngân hàng sẽ phải đối phó mọi khó khăn khi thiếu vốn.
2.4.4 Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín cho ngân hàng
trên thị trường:
Ngân hàng hoạt động dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau vì bản chất là "đi vay và
cho vay" nên không có uy tín thì sẽ không thể tồn tại. Khả năng thanh toán của
ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng càng lớn. Với tiềm năng vốn, ngân hàng có
thể mở rộng quy mô, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả góp phần
nâng cao thanh thế và luôn giữ được chữ tín.
2.4.5. Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là tất yếu và giúp doanh nghiệp hoàn
thiện và phát triển, qui mô vốn trình độ nghiệp vụ, công nghệ tạo điều kiện cho
việc thu hút nguồn vốn, vốn lớn giúp ngân hàng chủ động mọi hoạt động và phân
tán rũi ro tốt hơn tăng sự cạnh tranh trên thương trường
2.5 Ngân hàng áp dụng các hình thức huy động vốn
2.5.1 Căn cứ vào thời gian huy động:
a) Huy động ngắn hạn: Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn được sử dụng
cho vay ngắn hạn với lãi suất thấp đối với thời gian dưới một năm.
b) Huy động trung hạn: Từ một đến năm năm, vốn chủ yếu cho doanh nghiệp
vay.
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
13
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
c) Huy động vốn dài hạn: Thường trên năm năm, là khoản vay ngân hàng huy
động chi phí cao vốn sử dụng cho vay dài hạn như đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh, xây dựng cơ bản.
2.5.2 Căn cứ vào đối tượng huy động
a) Huy động vốn từ dân cư:
Nguồn gốc là dự phòng cho tiêu dùng và rủi ro trong tương lai, vốn này luôn
tăng khi xã hội phát triển giúp ngân hàng thu được lợi nhuận.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Chính là phần thu nhập của người gửi vào
ngân hàng mục tiêu bảo toàn và sinh lời.
- Tiết kiệm không kỳ hạn: Hình thức người gửi rút bất cứ lúc nào, lãi suất
thấp.
- Tiết kiệm có kỳ hạn: Là hình thức huy động tiền nhàn rỗi của dân dựa kế
hoạch trong tương lai, nên lãi suất cao, kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao.
- Tài khoản tiền gửi cá nhân giúp khách hàng gửi tiền nhàn rỗi với mục đích
sinh lời hoặc sử dụng các phương tiện thanh toán qua ngân hàng như séc, uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi…
Vì vậy khi ngân hàng sử dụng nguồn này nhiều thì nguy cơ rủi ro cao do tính
ổn định của vốn không cao. Để sử dụng vốn có hiệu quả, ngân hàng phải có kế
hoạch dự trữ phù hợp.
b) Huy động vốn từ doanh nghiệp và tổ chức kinh tế.
- Tiền gửi thanh toán: Khoản tiền gửi này không có kỳ hạn, lãi suất thấp,
được dùng để thanh toán chi trả thường xuyên.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Khách hàng được thoả thuận với ngân hàng về thời gian
rút tiền để lấy lãi, không được dùng để thanh toán.
c) Huy dộng vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
Việc vay vốn giúp ngân hàng giải quyết tình trạng thiếu vốn. Vốn vay giữa hai
ngân hàng được thoả thuận bằng hợp đồng tín dụng, hình thức thế chấp hoặc cầm
cố bằng tài sản đi vay, các chứng từ có giá.
- Vay từ tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng khác: Thông qua nhận mở và duy
trì tài khoản tiền gửi hoặc đi vay thông qua cơ chế thị trường liên ngân hàng.
Chuyên đề tốt nghiệp Thực hiện: Ngô Anh Sơn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét