Chuyên đề tốt nghiệp
một số loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ, trong đó có ít nhất 1 hay 1 số loại
hàng hóa dịch vụ đặc trưng thu hút đại bộ phận lao động hoặc hộ gia đình
tham gia đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỷ trọng lớn so với thu nhập
dân cư được tạo ra trên địa bàn.
1.2 Quan niệm về làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống được hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài
trong lịch sử nối tiếp từ đời này sang đời khác, kiểu cha truyền con nối, truyền
trong dòng họ. Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều người tay
nghề giỏi và một số nghệ nhân tài hoa. Đó là các hạt nhân phát triển làng
nghề.Sản phẩm các làng nghề làm ra có tính thẩm mỹ cao, nét nghệ thật độc
đáo, mang đậm nét văn hóa dân tộc. Quá trình phát triển của làng nghề truyền
thống là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.
Có quan niệm cho rằng làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư
cư trú trong phạm vi một địa bàn tại các vùng nông thôn, tách rời khỏi sản
xuất nông nghiệp làm một hay một số nghề thủ công có truyền thông lâu đời.
Quan niệm về làng nghề truyền thống có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng để
làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có các tiêu chí:
- Thời gian: lâu đời. Làng nghề truyền thống tồn tại và phát triển từ rất lâu,
qua nhiều thế hệ truyền lại đến ngày nay.
- Ngành nghề: phi nông nghiệp, người dân trong làng làm nghề thủ công
truyền thống, tách rời với sản xuất nông nghiệp.
- Số hộ, số lao động làm nghề truyền thống đạt 50% so với tông số hộ, số
lao động trong làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống đạt trên 50%
tổng giá trị thu nhập và sản xuất của làng trong năm, sản phẩm làm ra có
tính thẩm mỹ cao, mang đậm yếu tố văn hóa và bản sắc dân tộc Việt
Nam.
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ đó ta có thể định nghĩa làng nghề truyền thống là làng có một nghề
hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để
sản xuất kinh doanh đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong
năm. Những nghề đó được truyền từ nhiều đời này sang đời khác.
2. Phân loại các làng nghề truyền thống
2.1 Phân loại theo tính chất sản phẩm
- Làng nghề truyền thống sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ: gốm,
sứ, tơ tằm, chạm khắc…Đây là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ rất được ưa
chuộng trong và ngoài nước, có tiềm năng xuất khẩu to lớn và có khả năng
phát triển mạnh.
- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản
xuất và đời sống như rèn, mộc, hàn, đúc…
- Sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng: dệt, may mặc,
làm nón, dệt cói, chiếu… Đây là các làng nghề mà sản phẩm của nó bị chèn
ép lớn do phát triển của khoa học công nghệ về vật liệu mới tốt hơn, bền,
đẹp, sản phẩm mới, mẫu mã đẹp, ngoài ra còn bị cạnh tranh với hàng nước
ngoài
- Làng nghề truyền thống chuyên chế biến lương thực thực phẩm: bánh,
bún, chế biến hải sản…
- Nghề khác: xây dựng, trồng hoa, cây cảnh…Làng nghề này ngày càng
phát triển do đời sống vật chất của con người phát triển, đời sông tinh thần
cũng được cải thiện.
2.2 Phân loại theo sự tồn tại và phát triển
- Làng nghề truyền thống: là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong
lịch sử và và vẫn còn tồn tại và phát triển đến tận ngày nay.
- Làng nghề mới: xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các ngành nghề
truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác. Một số làng nghề
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
mới được hình thành do chủ trương của địa phương nhằm tạo công ăn việc
làm cho người dân, cho thợ đi học nơi khác rồi về dạy lại cho người dân địa
phương.
3. Đặc điểm của làng nghề truyền thống
3.1 Làng nghề tồn tại ở nông thôn, gắn liền chặt chẽ với nông nghiệp
Các làng nghề truyền thống ở nước ta ra đời và tách dần từ nông nghiệp.
Ban đầu người lao động ở nông thôn do nhu cầu về việc làm và thu nhập đã
làm nghề thủ công bên cạnh làm ruộng. Nghề chính là làm ruộng nghề phụ là
nghề thủ công. Khi lực lượng sản xuất phát triển thì thủ công nghiệp tách ra
thành ngàn độc lập, vươn lên thành ngành sản xuất chính ở trong làng. Nhưng
để đảm bảo cuộc sống người dân bao giờ cũng làm thêm nghề khác. Sự kết
hợp đa nghề này thường được thể hiện trong một làng hoặc từng gia đình. Từ
đó hàng loạt nghề thu công ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người
dân. Trong những năm qua làng nghề thủ công thành phố Hà Nội có sự phát
triển đáng kể, nhất là từ 1992 trở lại đây, có những làng nghề phát triển thành
xã nghề và sản phẩm của nó đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
3.2 tay nghề của thợ thủ công cao, khéo léo
Lao động của làng nghề truyền thống là những người có trình độ kỹ
thuật cao, tay nghề tinh xảo khéo léo có tính thẩm mỹ cao, đầu óc sáng tạo. Ở
các làng nghề phát triển, lao động là những người có trình độ kỹ thuật cao, tay
nghề giỏi, sản phẩm làm ra mang tính mỹ thuật độc đáo, đáp ứng được nhu
cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Những năm gần đây một số làng
nghề đã hình thành trên cơ sở lan tỏa của làng nghề truyền thống tạo thành xã
nghề hoặc trên một vùng lãnh thổ. Từ đó có sự liên kết giữa các làng nghề với
nhau
Mặt khác lao động của các làng nghề truyền thống chủ yếu là các hộ gia
đình nên phương thức dạy nghề chủ yếu là truyền lại trong gia đình, dòng họ,
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
làng xã. Các làng nghề truyền thống thường có bí quyết gia truyền và có một
vị tổ nghề riêng. Trước đây phương thức truyền nghề chủ yếu là ở phạm vi
gia đình theo những quy định nghiêm ngặt. Tuy nhiên từ sau khi thực hiện cải
cách công thương nghiệp phương thức dạy nghề và truyền nghề trở nên đa
dạng và phong phú hơn. Theo kết quả khảo sát của Trung tâm dân số và
nguồn lao động tại vùng Đồng bằng sông Hồng cho thấy phương thức truyền
nghề trong phạm vi gia đình chiếm 31,81%, tự học 27,24%, tự nhận đào tạo
13,28% địa phương (huyện xã) đào tạo chiếm 10,16% Nhà nước đào tạo
chiếm 0,78%.
Thời gian dạy nghề đối với các nghề rất khác nhau một số nghề có thời
gian đào tạo ngắn như nhóm các nghề mây tre đan, chế biến lương thực thực
phẩm các nghề cần thời gian học việc dài hơn là nghề mộc chạm bạc, gốm
sứ
Một nét chung trong đào tạo thợ cho các làng nghề truyền thống là hầu hết
người thợ phải vừa học vừa làm và thông qua việc đó mà học hỏi được kỹ
thuật, củng cố tay nghề cho mình.
3.3 Công nghệ, kỹ thuật sản xuất chủ yếu là thô sơ, giản đơn
Kỹ thuật mang tính truyền thống, gia truyền, bí quyết dòng họ. Công cụ
sản xuất thô sơ do họ tự chế ra. Công nghệ của người thợ thủ công phụ thuộc
vào tay nghề kỹ năng, kỹ xảo của người thợ. Sản phẩm làm ra phụ thuộc một
phần vào công cụ lao động họ làm ra.
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, các làng nghề ứng dụng khoa
học kỹ thuật vào sản xuất như gốm sứ, thực phẩm… nhưng có những loại yêu
cầu quy trình sản xuất đảm bảo theo phương pháp cổ truyền để giữ gìn giá trị
truyền thống. Về cơ bản kỹ thuật, công nghệ sản xuất thường thô sơ, giản
đơn.
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
3.4 Làng nghề truyền thống có khả năng giải quyết việc làm cho người
lao động
Lao động trong các làng nghề chủ yếu là trong các hộ gia đình (chiếm
90%) còn lại là trong các doanh nghiệp (chiếm 10%). Các hộ các cơ sở sản
xuất ngành nghề trong làng nghề truyền thống thường có quy mô nhỏ. Mỗi hộ
gia đình bình quân 3-4 lao động thường xuyên và 2-3 lao động thời vụ.
Để phát triển làng nghề truyền thống việc sử dụng công nghệ nhằm thu
hút lao động là phương hướng cơ bản tăng thu nhập, doanh thu cho người lao
động ở nông thôn. Ngoài số lao động được sử dụng tại chỗ còn thuê mướn
thêm nhân công bên ngoài rất nhiều, làm thị trường lao động thêm sôi động
hơn.
Vậy làng nghề truyền thống có khả năng giải quyết việc làm cho người
lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất phát
triển thành các doanh nghiệp để thu hút thêm lao động ở nông thôn hiện nay.
3.5 Hinh thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống ở nước ta, bên cạnh nghề truyền thống còn có
những nghề thủ công nghiệp tồn tại từ lâu đời. thời kỳ hình thành, qui mô sản
xuất trong các làng nghề truyền thống chủ yếu là hộ gia đình gắn với các
phường nghề, hội nghề. Khi bước vào cơ chế mới, qui mô sản xuất của làng
nghề truyền thống vẫn là mô hình truyền thống hộ gia đình, nhưng đồng thời
xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, cac hình thức hợp tác
các doanh nghiệp, các hợp tác xã có bước phát triển và được pháp luật thừa
nhận. Cơ chế mới tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích đa dạng hóa các hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong làng nghề truyền thống. Tuy nhiên
trong các năm qua hình thức đầu vẫn chiếm ưu thế trong làng nghề truyền
thống.
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay trong quá trình phát triển đi lên sản xuất cơ giới hóa, các hộ
sản xuất kinh doanh trong làng nghề truyền thống vẫn tiếp tục đẩy mạnh, đẩy
nhanh trang bị cơ sỏ vật chất cho sản xuất. tuy nhiên trong qua trình vận động
để phát triển các hộ gia đình sẽ xảy ra nhiều vần đề bất cập như quy mô sản
xuất không được mở rộng, không có điều kiện đầu tư vốn cho sản xuất
3.6 Sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính mỹ thuật cao
Mỗi sản phẩm của làng nghề truyền thống là một tác phẩm nghệ thuật.
Vì thế quá trình sản xuất tuân theo công nghệ truyền thống và thương năng
động trong việc đổi mới mẫu mã sản phẩm, chất lượng sản phẩm. Nhờ bám
sát thị trường am hiểu thị hiếu người tiêu dùng mà các mặt hàng của làng
nghề truyền thống được cải biến nhanh chóng và đáp ứng được nhu cầu người
tiêu dùng. Sản phẩm họ làm ra ngày càng chiếm được ưu thế trên thị trường
cả trong và ngoài nước.
Các sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam vừa phản ánh những nét
văn hóa chung của dân tộc vừa có nét riêng của làng nghề. Người Việt Nam
khi sinh sống và làm việc tại nức ngoài khi nhớ về quê hương là nhớ đến dấu
ấn đậm nét của những làng nghề với bao sản phẩm độc đáo. Như vậy làng
nghề truyền thống không chỉ là những đơn vị kinh tế thực hiện những mục
tiêu sản xuất mà còn mang nét đặc sắc, biểu trưng của nền văn hóa dân tộc,
văn hóa cộng đồng trong làng xã Việt Nam.
Các sản phẩm của nghề gốm sứ, chạm khắc dệt vải dệt lụa trước hết
đó là những vật phẩm nhằm thoả mãn yêu cầu sử dụng của con người nhưng
trên đó là giá trị về bản sắc văn hoá của cả một dân tộc. Sản phẩm thủ công
truyền thống Việt nam bao giờ cũng phản ánh sâu sắc tư tưởng tình cảm và
quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Việt nam. Một đặc thù khác quan trọng của
hàng thủ công truyền thống là tính cá biệt, tính riêng mang phong cách của
mỗi nghệ nhân và nét địa phương tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng.
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
Yếu tố văn hoá đậm nét của hàng thủ công truyền thống đã tạo nên vị trí
quan trọng của các sản phẩm này trên thương trường và giao lưu quốc tế.
Trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay sự cạnh tranh
ngày càng khốc liệt nếu phải xem xét để tìm ra được những sản phẩm có sức
cạnh tranh trên thị trường quốc tế của những nước đang phát triển như Việt
nam thì trên hết phải kể đến sản phẩm các làng thủ công truyền thống.
Làng nghề truyền thống ở nước ta là một bộ phận quan trọng của kinh tế
nông thôn. Những làng nghề, vùng nghề là điểm nổi bật của công nghiệp vừa
và nhỏ ở nông thôn. Các cụm nông nghiệp công thôn được hình thành. Đây là
kết quả quan trọng và thuận lợi trong việc phát triển công nghiệp nông thôn
theo hướng CNH- H ĐH.
Làng nghề truyền thống là sự kết tinh của văn hóa văn minh lâu đời của
dân tộc.
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của làng
nghề truyền thống.
1.Thị trường
Sự tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống phụ thuộc rất lớn
vào thì trường và sự biến động của nó. Sản xuất càng phát triển càng thể hiện
sự chi phối của quan hệ cung, cầu và quy luật cạnh tranh trên thị trường.
Những làng nghề có khả năng thích ứng với nhanh với sự biến đổi của thị
trường thì có khả năng phát triển nhanh. Đó là những làng nghề mà sản phẩm
của nó có khả năng cành tranh trên thị trường và phù hợp với nhu cầu thị hiếu
của người tiêu dùng. Ngược lại những làng nghề không có khả năng thích ứng
với sự biến động của thị trường sẽ không phát triển được, dần bị mai một
thậm chí có nguy cơ biến mất vì không cạnh tranh được trên thị trường.
Nhu cầu thị trường luôn biến đổi do vậy trong quá trình sản xuất các
làng nghề cũng phải thay đổi kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc, chât lượng sản
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
phẩm cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội. vì vậy bất cứ một hình thức sản
xuất kinh doanh trên bất xứ một lĩnh vực nào cũng phải coi trọng nhu cầu thị
trường. Mà nhu cầu thị trường luôn biến đổi theo không gian thời gian. Nó là
nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của tất cả các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
2.Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng nông thôn như: giao thông, điện, nước, thủy lợi, giáo dục,
y tế, thông tin liên lạc có ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề. Không
phải ngẫu nhiên mà hầu hết các làng nghề đều phát triền gần các đầu mối giao
thông, gần sông nước. Hàng làm ra cần tiêu thụ tại các tỉnh xa, tại hầu hết các
địa phương trong cả nước, thậm chí ra nước ngoài. Cha ông ta đã thấy được
tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng từ ngày xưa nên đã quan tâm đến các yếu tố
đó để chọn nơi lập nghiệp. Ngày nay khi giao lưu kinh tế phát triển rộng
khắp, nhu cầu hệ thống giao thông vận tải phát triển thuận lợi đối với các làng
nghề là hết sức quan trọng. Nó giúp vần chuyển nguyên vật liêu và hàng hóa
một cách nhanh chóng tiết kiêm sức lực, thời gian và chi phí. Hệ thống thông
tin liên lạc cũng góp phần nắm bắt nhanh chóng thông tin của thị trường để
kịp thời đưa ra chính sách hợp lý. Ngoài ra các cơ sở giáo dục y tế còn giúp
đảm bảo sức khỏe cho người dân và đào tạo các thế hệ sau này.
3.Kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động, chất
lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường. Nó ảnh hương đến sự tồn tại và mất đi của làng nghề. Do sự thiếu
thốn, nghèo khó của cuộc sống ở nông thôn nên vốn đầu tư cho sản xuất là
không nhiều, phần lớn những cơ sở sản xuất của làng nghề sử dụng thiết bị
thủ công, công nghệ cổ truyền, chủ yếu dựa vào các kỹ thuật có tính cha
truyền con nối trong từng hộ gia đình. Bởi vậy sản phẩm sản xuất ra với năng
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
suất và số lượng thấp. Về kỹ thuật hầu hết các làng nghề đều sử dụng kỹ
thuật truyền thống lâu đời của Việt nam trong sản xuất. Mỗi nghề đều có kỹ
thuật sản xuất riêng, kỹ thuật ấy bao gồm nhiều công đoạn, từ khâu khai thác
chế biến nguyên liệu đến khâu cuối cùng là hoàn thành sản phẩm để bán ra thị
trường cho người tiêu dùng, tuy các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật chung,
nếu các làng nghề ấy đều làm một nghề nhưng từng công đoạn kỹ thuật thì
mỗi nơi một khác. Làng nghề nào cũng biến cách ứng dụng kỹ thuật chung ấy
theo cách tiêng của mình. Điều đó giải thích tại sao làng nghề cụ thể này
không thay thế được làng nghề kia, nghệ nhân này không thay thế được nghệ
nhân khác mặc dù các làng ấy các nghệ nhân ấy đều làm một nghề và sản xuất
ra những sản phẩm cùng loại sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay
vô cùng nhanh chóng thay thế sức lao động của con người ở nhiều công việc
nặng nhọc làm tăng hiệu quả của các làng nghề. Ví dụ: máy móc trong nghề
mộc, vi tính trong thiết kế mẫu và vẽ hoạ tiết nghề thêu
Các sản phẩm của làng nghề truyền thống lại phải cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại sản xuất trong nước, cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu
từ nước ngoài. Để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng suất chất lượng sản
phẩm, giảm giá thành, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề cần đổi
mới trang thiết bị, sử dụng nhửng tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật vào
sản xuất, cải tiến phương pháp sản xuất, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và ổn
định cho các làng nghề. Áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật cũng góp phần
làm giảm ô nhiểm môi trường. Hạn chế sử dụng các nguyên liệu, chất đốt:
than, dầu , xăng… thay thế bằng điện, ga…
4. Nguồn vốn sản xuất kinh doanh
Vốn là yếu tố sản xuất kinh doanh, là nguồn lực quan trọng trong tất cả
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn lực không thể thiếu được
đối với các làng nghề, với bất cứ một quá trình sản xuất kinh doanh nào. Bởi
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Chuyên đề tốt nghiệp
nếu không có vốn thì không thể đầu tư cơ sở hạ tầng, ứng dụng khoa học công
nghệ, mua các yếu tố đầu vào…Vốn là một yếu tố quan trọng của 1 nền sản
xuất hàng hoá trong các làng nghề nhu cầu về vốn phát triển sản xuất kinh
doanh cũng rất khác nhau giữa các đối tượng, các thành phần kinh tế thông
thường các doanh nghiệp càng lớn thì nhu cầu về vốn càng nhiều, các hộ gia
đình và cá thể người lao động thì nhu cầu về vốn không lớn lắm.
Trước đây vốn của các hộ gia đình trong làng nghề rất ít thường là vốn
tự có của từng gia đình hoặc vay mượn nên không được mở rộng.Mặc dù
những năm gần đây chúng ta có một số loại vốn cho vay để phát triển sản
xuất và giải quyết việc làm như vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, vốn
cho địa phương thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vốn xoá đói giảm
nghèo. Nhưng số lượng và tỷ lệ các hộ được vay vốn trong các làng nghề còn
ít ỏi trong khi nhu cầu vay vốn là rất lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc
phát triển chỗ làm việc mới như đầu tư theo chiều sâu của các doanh nghiệp
trong các làng nghề.
Ngày nay nhu cầu vốn được mở rộng. Ngoài nguồn vốn đầu tư tự có, vay
mượn anh em bạn bè, các hộ sản xuất còn được vay vốn của các ngân hàng:
ngân hàng người nghèo, ngân hàng chính sách… với lãi suất ưu đãi. Do vậy
mà các hộ sản xuất có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, đưa máy móc vào
sản xuất tao thêm công ăn việc làm và nhiều sản phẩm đa dạng đáp ứng được
nhu cầu của thị trường.
Thực tiễn trong một số nghề cho thấy nếu đáp ứng được nhu cầu về vốn và
có chính sách hỗ trợ hơn nữa đối với người sản xuất thì chắc chắn sẽ phát
triển mạnh được sản xuất, giải quyết tốt được công ăn việc làm cho người lao
động của các địa phương và cơ sở.
5.Nguồn nguyên vật liệu
Lê Duy Bình - Kinh tế NN&PTNN 47
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét