Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Tư tưởng giải thoát trong triết học phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với người dân huế

THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
Theo truyền thuyết của Đạo Phật thì Thích Ca Mâu Ni là vị giáo
chủ sáng lập ra Đạo Phật . Tên thật của Ngài là Cù Đàm Tất Đạt Đa
(Gautama Siddhattha). Thân phụ là vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và
thân mẫu là hoàng hậu Ma-da (Màỳa), dòng dõi Thích Ca (Sakaya),
giai cấp Sát-đế-lợi (Khattya), ở kinh đô Ca-tỳ-la-vệ (Kapilaratthu)
thuộc xứ Nepal Therai, Đông Bắc Ấn Độ .
Sau khi sinh Thái tử được bảy ngày thì bà Màỳa từ trần. Thái tử
được dì Mẫu là Ba-xà-Ba-Đề (Prajàpati) chăm sóc, nuôi nấng và giáo
dục nên người. Lớn lên, Thái tử Tất Đạt Đa tỏ ra là một người thông
minh lanh lợi. Đồng thời cũng luôn bộc lộ rõ vẻ trầm tư về cuộc sống
dương gian. Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thấy cậu con trai như vậy
nên rất lo lắng, ông cung phụng cho Thái tử đầy đủ mọi thứ hằng
mong con mình vợi và mất đi nét trầm tư. Song cuộc sống vương giả
trong cung vẫn không làm cho Thái tử cảm thấy hạnh phúc.
Một lần, Thái tử được phép của vua cha ra khỏi bốn cửa thành
dạo chơi, quan sát trạng thái dân gian xã hội, Thái tử đã mục kích
được những cảnh sanh, già, bệnh, chết, lòng Thái tử trở nên u buồn
dao động đến cực độ. Thái tử cảm thấy cuộc đời không có chi là vui
sướng, là bền vững, là giải thoát, hết thảy đều là vô thường. Lần khác
cũng nhân lúc ra ngoài cổng thành Thái tử gặp một vị Samôn tướng
mạo đoan trang, đi đứng ung dung trông có vẻ tiêu giao giải thoát, từ
đó trong lòng Thái tử xuất hiện ý tưởng xuất gia. Vua cha lo sợ, nên
năm mười chín tuổi vua cha đã cưới công chúa Da-Da-Đà-La
(Yasoddhara) cho Thái tử. Tuy sống trong giàu sang quyền quý với sự
yêu chiều của người vợ trẻ xinh đẹp, nhưng Thái tử luôn nghĩ về sự
khổ của sinh – lão – bệnh – tử và những phiền não của những bụi trần
ô trược. Tất Đạt Đa suy niệm: “Chính ta phải chịu sinh, già, bệnh, tử,
phiền não và ô nhiễm. Tại sao ta vẫn mãi mê chạy theo những điều mà
bản chất không như vậy. Vì chịu sinh, lão, bệnh, tử, phiền não và ô
nhiễm, ta đã nhận thức được sự bất lợi của những điều ấy. Ta thử đi
tìm cái chưa thành đạt, cái tối thượng và tuyệt đối chu toàn là Niết
Bàn“[22; 193]. “ Đời sống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náu
của bụi trần ô trược, nhưng đời của bậc xuất gia quả thật là cảnh trời
mênh mông bát ngát ! Người đã quen với nếp sống gia đình thấy khó
5
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
mà chịu được đời sống đạo hạnh, thiêng liêng với tất cả sự hoàn hảo
và trong sạch của nó”[22; 193]. Sau nhiều lần thuyết phục vua cha
không thành, năm 29 tuổi, khi đã sinh hạ được cậu con trai La Hầu La
(Rabula), Thái tử đã rời bỏ cung vàng ra đi tìm chân lý cho sự cưú độ
chúng sinh.
Ban đầu Thái tử vào khu rừng xanh thuộc nước Ma-Kiệt-Đà gặp
đạo ông Tiên Bụt-Già-bà (Bhagarà). Ông đã đưa ra giáo lý của mình
cho Thái tử nhưng những giáo lý ấy Thái tử không mãn nguyện, thế là
Thái tử lại ra đi. Thái tử nghĩ rằng: “ Phải chính mình tu thì mới tìm
được chính đạo“[4; 33]. Vì thế Thái tử quyết định đi sâu vào khu rừng
thuộc tây ngạn sông Ni-Liên-Thuyền (Nairanjanà) để làm chốn tu
hành khổ hạnh. Ở đây, Thái tử tu khổ hạnh ép xác suốt sáu năm trời,
mỗi ngày chỉ ăn cầm hơi một chút gạo, chút vừng, thân thể trở nên khô
héo, gầy còm, chỉ còn da bọc xương mà vẫn chưa đắc đạo. Thái tử
nhận ra rằng đây là một con đường tu hành lầm lẫn, nên rồi một mình,
một bóng ra đi. Vào một buổi trưa, Thái tử đến duới cây Tất-Bà-La
(Pippala, tức là cây Bồ Đề - Bodhydnima) ở Già-Da (Yàyà) ngồi kết
già phu, hướng mặt về phía Đông. Khi bắt đầu ngồi, Thái tử thề rằng:
“Nếu ta tọa thiền-tịnh lần này mà không chứng được đạo vô thượng
Bồ Đề thì thân này dù nát cũng không chịu đứng dậy” [4; 35]. Sau đó,
Thái tử lặng lẽ vào thiền-tịnh suy nghĩ liên tục trong 49 ngày đêm.
Ngài suy nghĩ biết được kiếp trước của mình, của người, của mọi
chúng sinh. Đến nửa đêm thứ 49, nhằm vào ngày 08 / 12 / 528 tcn, lúc
sao mai mọc thì trong tâm Thái tứ tự nhiên đại ngộ, trừ sạch hết phiền
não, chứng được đạo quả Vô-Thượng Đại-Bồ-Đề, hiệu là Phật Thích-
Ca-Mâu-Ni, khi đó Thái tử 35 tuổi.
Khi Thích-Ca-Mâu-Ni đã tìm được chân lý giác ngộ cho chúng
sinh và tìm ra phương pháp giải thoát cho chúng sinh, ngay lập tức
Ngài bắt đầu truyền đạo, giảng đạo của mình cho chúng sinh. Song,
Ngài còn phân vân một điều: Giáo lý giải thoát thì tế nhị, thâm sâu, ly
dục, vô ngã, đi ngược với tập quán ham muốn và suy tư chấp ngã của
con người, làm sao để con người chấp nhận giáo lý của mình ?. Giữa
lúc ấy, Phạm Thiên Sahampati xuất hiện thỉnh cầu ngài cứu thế
6
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
chuyển bánh xe Pháp vì hạnh phúc của loài người. Đầu tiên, Ngài
truyền đạo cho năm người bạn cùng tu khổ hạnh trước đây với mình,
và Ngài đã thâu nhận năm người đó làm đệ tử đầu tiên. Thích Ca Mâu
Ni giảng tiếp vô ngã rằng ngũ uẩn là vô thường, nếu ai thoát khỏi tham
ái, thì sẽ ra khỏi tái sinh, được giải thoát. Tại đây, Ngài còn tiếp độ
cho bốn vị nữa, tất cả đều đắc Alahán. Thế là tại Benares, Phật giáo đã
có 10 vị sư đầu tiên (trong đó có Ngài ), và mỗi người đi về mỗi
phương để hoằng hóa.
Trong kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacak - kappavata -
nasutta) Đức Phật nói: “Hỡi này các Tỳ Khưu, có hai cực đoan (Antâ)
mà người xuất gia (pabbajitena) phải tránh. Đó là các cực đoan: Một
là đắm mình trong dục lạc (kâmasukhallikanuyoga) thấp hèn, thô bỉ,
phàm tục, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc thánh nhân là vô ích.
Hai là sự tha thiết gắn bó trong lối tu khổ hạnh ép xác
(Attakilamathanuyoga) là đau khổ, không xứng đáng phẩm hạnh của
bậc thánh nhân và cũng không ích lợi…”[22; 195]. Tư tưởng triết lý
của Đạo Phật không những được truyền bá cho dân chúng mà ngay cả
phụ vương của Ngài và các hàng vương tử cũng được học, tu tập theo
đạo của Ngài.
Từ khi Đức Phật thành đạo (528 tcn) đến lúc nhập Niết bàn là 45
năm. Trong 45 năm ấy, Ngài đi khắp nơi truyền đạo, hóa độ chúng
sinh không mấy lúc gián đoạn. Cách thức truyền đạo của Đức Phật là
đối thoại và thí dụ, còn nội dung thì Ngài tùy cơ mà thuyết giảng về
Ngũ giới,Thập thiện, Bát chính đạo (đối với phật tử tại gia) và về Tứ
đế,Thập nhị nhân duyên, Ngũ uẫn (đối với phật tử xuất gia). Năm 80
tuổi, trước lúc nhập Niết bàn, Ngài triệu tập các thống lĩnh, các đệ tử
đến giảng giải những điều còn hồ nghi. Giảng xong bộ kinh Đại-Bát-
Niết bàn, Ngài lên tòa Thất-Bảo nằm nghiêng sườn bên phải, đầu
hướng về phía Bắc, chân duỗi về phương Nam, mặt ngoảnh về phía
Tây rồi vào Đại-Diệt-Độ (Mahavirvàna), lúc ấy nhằm vào ngày 15
tháng 2. Trước khi nhập Niết bàn (vô dư ý ), Ngài đã truyền lại tất cả
những giáo lý nhà Phật của mình cho tôn giả MaHa Ca Diếp - vị đệ tử
tối cao của Ngài.
7
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
Tóm lại, con đường đến chân lý của Phật là con đường gian khổ,
khó khăn: Từ một Hoàng tử sống trong vương giả, Ngài đã từ bỏ giàu
sang phú quý, quyền uy, trãi qua biết bao năm khổ hạnh, thậm chí ép
xác làm cho tinh thần trở nên suy giảm. Nhưng nhờ nhận thức được
phương pháp này là sai lầm nên Ngài quyết định từ bỏ nó mà đi theo
phương pháp thiền định, nhờ đó mà chứng quả, đã trở thành Thích Ca
Mâu Ni. Tư tưởng Phật giáo là một học thuyết nhân sinh đạo đức có
tính triết lý sâu sắc.
1.2. Khái quát về sự phát triển của Đạo Phật .
Từ khi Phật Giáo hình thành đến nay đã trãi qua bốn lần Đại Hội
để hoàn thiện tư tưởng của Phật giáo:
Lần 1, tiến hành vào thế kỷ V tcn do chính các đệ tử trực tiếp của
Phật (Đại-Ca-Diếp giảng về những lời Phật dạy, A-Nan-Đa giảng về
những giới luật, Ưu-Bà-Ly giảng về những lời luận giải của Phật về
giáo lý và giới luật) tổ chức và thuyết giáo. Tam tạng của Phật Giáo
(kinh, luật và luận) đã được hình thành từ đây nhưng chưa in thành
văn tự.
Lần 2, tiến hành vào khoảng thế kỷ IV tcn. Ở đại hội này, Phật
giáo chủ yếu bàn về việc nên hay không nên cách tân kinh luật và kinh
luận. Tại đây Phật giáo đã tách thành hai trường phái khác nhau: Phái
Thượng Tọa Bô, bao gồm chủ yếu là các tỳ kheo già, phái này chủ
trương bảo vệ Phật giáo như cũ. Phái Đại Chủng Bộ, bao gồm chủ yếu
là các tỳ kheo trẻ, phái này chủ trương cách tân. Về sau hai phái này
lại chia thành nhiều phái nhỏ khác. Hai phái này là tiền thân của Đại
Thừa vàTiểu Thừa sau này.
Lần 3, được tiến hành dưới triều vua A-Sô-Ka (thế kỷ III tcn), do
chính nhà vua triệu tập. Được sự bảo trợ của nhà vua, Phật giáo đã
thành lập các tăng đoàn và truyền bá Phật giáo rộng rãi khắp thế giới.
Lần 4, được tiến hành dưới triều vua Ka-Nis-Ka (125-150 scn).
Đại hội này đã hoàn chỉnh kinh điển Phật giáo, kinh Phật được in
thành hai thứ tiếng Paly(Nam Phạn) và Sankrit(Bắc Phạn) và tồn tại
cho đến ngày nay. Từ Đại hội này, Phật giáo chính thức chia thành hai
phái Đại Thừa và Tiểu Thừa.
8
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
Từ thế kỷ III tcn, Phật giáo phát triển thành tôn giáo chiếm địa vị
độc tôn ở Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ VI. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ thứ
XII, Phật giáo suy yếu dần ở Ấn Độ do sự phát triển cạnh tranh của
Đạo Hin Đu và Hồi Giáo. Năm 1193 Hồi giáo đã đập phá tất cả các
chùa, đuổi tất cả sư sãi Phật Giáo ra khỏi Ấn Độ. Cho mãi tới thời cận
hiện đại Phật Giáo mới phát triển trở lại ở Ấn Độ. Trên thế giới, kể từ
thế kỷ thứ III tcn Phật giáo phát triển nhanh ở nhiều nước, nhất là khu
vực Đông Nam Á. Ngày nay, Phật Giáo có mặt hầu hết ở năm châu và
là tôn giáo thế giới lớn đứng thứ hai sau Công Giáo .
Ở Việt Nam, Phật Giáo truyền đến bằng nhiều con đường: Trực
tiếp từ các nhà buôn Ấn Độ, hoặc gián tiếp qua các nhà buôn
Malaixia, hoặc qua giao lưu với các nền văn hóa Lào, Cămpuchia,
Thái Lan, Miến Điện v.v. Phật giáo Trung Quốc truyền sang Việt Nam
muộn hơn nhưng lại ảnh hưởng sâu sắc hơn trong tín ngưỡng Phật
Giáo của Việt Nam.
Vào thế kỷ thứ I, Phật Giáo Việt Nam đã rất phát triển, Việt Nam
đã có trung tâm Phật học lớn tại Luy Lâu. Theo cụ Trần Văn Giáp,
trong “Thuyền Uyển tập anh ngữ lục” do thượng tọa Mật Thể dịch, thì
từ thế kỷ thứ II đến thế ký thứ VII Phật giáo Việt Nam hưng thịnh hơn
Phật Giáo Trung Quốc, Ở thế kỷ thứ V, các vua Trung Quốc phải mời
các thiền sư giỏi ở Việt Nam sang giảng đạo và dạy dỗ cho các thái tử
Trung Quốc, trong đó nổi bật là các Thiền sư Thích Đạo Hiền, Thích
Huệ Thắng. Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIII Việt Nam chịu ảnh
hưởng nhiều của Phật Giáo Trung Quốc với các phái Thiền Tỳ Ni
ĐaLưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường. Từ thế kỷ XIII trở đi Việt
Nam có thiền phái riêng của dân tộc mình là thiền phái Trúc Lâm ở
Yên Tử do vua Trần Nhân Tông sáng lập và là sơ tổ. Ngoài ra đến thế
kỷ XVII - XVIII, Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của Phật giáo
Trung Quốc bởi hai thiền phái Tào Động và Lâm Tế. Trong “Việt
Nam Phật giáo sử luận” tác giả Vân Thanh còn chỉ ra ở thế kỷ XVIII
nước ta có tiếp nhận phái thiền Liên Tôn của Trung Quốc, thật ra Liên
Tôn là trá hình của Trúc Lâm Yên Tử [xem 19;].
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Phật giáo Việt Nam luôn có
những đóng góp không nhỏ cho sự vận động, phát triển của đất nước.
9
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
Thời Lý, Trần Phật giáo gần như chiếm địa vị độc tôn trong đời sống
tinh thần người Việt, và đã xuất hiện những vị sư giỏi, có đạo hạnh
cao và có công với đất nước như: Quốc sư Vạn Hạnh, Thiền sư Pháp
Thuận, Thiền sư Khuông Việt, Cư sỹ Tuệ Trung Thượng Sỹ, vị vua
thiền sư Lý Thánh Tông, vị vua thiền sư Trần Nhân Tông [xem 3;
70]. Qua hai ngàn năm thâm nhập, Phật giáo ở Việt Nam đã được coi
như là tín ngưỡng truyền thổng của ngưòi Việt.
Ở Huế và Đàng Trong, rất có thể trước đó đã có Phật giáo truyền
bá ở đây, do chưa có tư liệu chính xác nên chưa thể khẳng định là phái
nào. Từ khi là lãnh thổ của Việt Nam do người Việt Nam làm chủ
quyền, thì Huế và Đàng Trong tiếp nhận trực tiếp từ Trung Quốc hai
phái thiền: Lâm tế (1665-1712), Tào động (khoảng 1695 trở đi). Giống
như Đàng Ngoài, vào năm 1733 Đàng Trong có phái thiền của người
Việt do người Việt làm sơ tổ. Đó là phái Liễu Quán[xem 3; 46, 47].
Phái này phát triển mạnh từ Huế vào Phú Yên và tồn tại cho đến ngày
nay.
Thời các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn, họ đưa Nho giáo lên
vị trí độc tôn nhưng luôn sử dụng Phật giáo với tư cách là ngọn cờ để
thu phục nhân tâm.
Thời thuộc Pháp và Mỹ xâm lược, Phật giáo Việt Nam bị bọn xâm
lược kỳ thị, o ép. Nhưng chính vậy mà phong trào Phật giáo yêu nước
vì hòa bình và độc lập dân tộc luôn sống mãi trong lòng nhân dân Việt
Nam và nhân loại tiến bộ. Ngày nay đồng bào theo đạo Phật đang thi
đua hoằng dường Phật pháp và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa giàu mạnh, văn minh và phát triển.
II 1.3. TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT
GIÁO .
1.3.1 Căn nguyên tư tưởng giải thoát trong triết lý nhà Phật.
Có thể nói, không một tôn giáo nào trên thế giới lại có giọng
thiết tha thâm trầm đối với nổi đau khổ của thế gian như ở Phật giáo:
”Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới đem chứa tích lại còn
nhiều hơn nước trong bốn bể “[ Xem 21;]. Phải chăng cảnh tượng lúc
bấy giờ đầy rẫy những bất công đau khổ đã khiến cho mọi người đều
10
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
cảm thấy nổi đau khổ của nhân loại ?. Điều này cũng đòi hỏi Phật giáo
phải hướng đến tư tưởng giải thoat cho mình và cho chúng sinh.
Theo “Phật học từ điển“ của Đoàn Trung Còn, quyển nhứt, Phật
học Tòng thơ, Sài Gòn 1966 thì “Giải thoát“ (Morksha) cần được hiểu
như sau: Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây trói
của nghiệp lầm. Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (Dục, Sắc, Vô
Sắc). Chẳng hạn như giải thoat đối với kết (thắt, buộc), hệ phược (trói
buộc). Giải thoat có các nghĩa:
- Giải thoát là niết bàn, là thể niết bàn, vì lìa tất cả sự trói buộc
(giải thoát khỏi ngũ uẩn cũng gọi là năm loại niết bàn);
- Giải thoát cũng là thiền định, vì nhờ thiền định mà thoát khỏi
vòng trói buộc, trở nên tự tại (Chẳng hạn như Tam giải thoát, Bát giải
thoát, Bất tư nghị giải thoát);
- Giải thoát là một phần trong Ngũ phần pháp thân.
Chính vậy Đạo Phật cũng gọi là Giải thoát đạo, Giải thoát hạnh,
Giải thoát giới. Áo cà sa cũng gọi là giải thoát phục, giải thoát y.
Giải thoát có hai loại:
1) Tính tịnh giải thoát, tức bản tính của chúng sinh vốn là thanh
tịnh không có cái hướng hệ phược (trói buộc), ô nhiễm.
2) Chủng tận giải thoát, tức bản tính của chúng sinh nói chung là
thanh tịnh, nhưng vì từ vô thượng đến nay chúng sinh luôn bị phiền
não làm mê hoặc, chẳng thể hiện được bản tính của mình, vậy nên mới
phải đoạn tuyệt với cái hoặc chướng ấy mà được giải thoát, tự tại.
Giải thoát cũng có hai cách về sự và lý:
1) Về sự tức là giải thoát khỏi vòng khổ não, tai nạn đương trói
buộc cái thân (chẳng hạn giải thoát khỏi địa ngục, ma quỷ, súc sinh);
Giải thoát khỏi mọi pháp luật (quy luật của mọi vạn pháp).
2) Về lý tức là giải thoát tất cả mọi nỗi phiền não, những duyên
luyến ái đã từng trói buộc cái tâm (chẳng hạn giải thoát luân hồi để đạt
quả thánh: Alahán, Bồ tát, Phật, Giác ngộ).
Về lý giải thoát cũng có hai lẽ:
1) Tâm thiện giải thoát, tức tâm - ý khéo giải thoát thì lìa khỏi các
trói buộc Tham –Sân –Si.
11
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
2) Huệ thiện giải thoát, tức trí huệ khéo giải thoát không bị
chướng ngại bởi một pháp nào cả, biết rõ và thông hiểu tất cả. Hai lẽ
này là giải thoát cúa Bồ tát.
Như vậy, giải thoát theo triết lý Phật giáo tức là trạng thái tinh
thần con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục,
là sự “diệt“ hết mọi dục vọng, dập tắt ngọn lưả duc vọng để đạt tới cõi
Niết bàn (Nirvana) với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh. Giải thoát tức là
giải thoát tất cả những mối phiền não, những dây phiền não đã trói
buộc cái tâm, làm mê tâm mờ tính do nhục dục quyến rũ. Khi con
người ta được giải thoát cũng chính là con người ta đạt tới sự siêu
thoát, nghĩa là họ vượt sự trỏi buộc của thế giới trần tục, thoát khỏi sự
chi phối của dục vọng, sinh tử, phiền não, sống hoàn toàn thanh thoát
tự tại. Giải thoát là thấu suốt lý nhân sinh để đạt tới thể “không tịch”.
Song đạt tới thể không tịch không có nghĩa là trở về với cái hoàn toàn
hư vô, mà thưc ra là để xóa bỏ thành kiến chấp ngã hẹp hòi bởi thế
giới đang tồn tại là thế giới vô ngã, để từ đó có thể thấu đạt tư tưởng:
“chư hành vô thường, vạn pháp vô ngã, hết thảy đều là không“ của
pháp ân. Triết lý Phật giáo cho rằng xuất phát điểm của tư tưởng giải
thoát là từ nỗi khổ của cuộc đời con người. Vì vậy muốn được giải
thoát thì cần dập tắt mọi dục vọng, trở về với chân bản tính của mình.
Những nỗi khổ đè nặng lên cuộc đời con người lại được quan
niệm nằm ngay trong thân thể, trong ý trí, tình cảm, trong kiếp người
và trong cả thế giới hiện tượng biến đổi vô thường. Từ những nổi khổ
của cuộc đời nó thôi thúc con người vươn lên mơ ưóc một cõi hạnh
phúc lý tưởng tuyệt đối. Triết lý giải thoát Phật giáo không chỉ có trên
con đường hướng đến mục đích thoát khổ. Giải thoát trong Phật giáo
còn đặt ra câu hỏi khiến con người luôn khát khao tìm kiếm như: Bản
chất và ý nghĩa tối cao của cuộc đời là gì?. Cái gì là giá trị cao cả và
là cứu cánh của cuộc sống con người ?. Điều đó đã làm cho mọi quan
niệm của thế tục lấy vật chất, của cải, danh lợi, sinh tử làm thước đo
đời sống trở nên hết sức nhỏ bé và tầm thường. Chính thế, trong xã
hội Thừa Thiên - Huê, khi đến chùa người ta không cầu trở thành
triệu phú, mà chỉ mong có người giải đáp cho họ những thắc mắc về
bản chất và ý nghĩa đích thực của đời sống.
12
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
Tất cả những điều đã lý giải đó thực sự mang ý nghĩa sâu sắc,
nhưng có lẽ nó vẫn chưa đủ để vạch rõ ý tưởng giải thoát trong triết
học Phật giáo. Bởi thế mới chỉ dừng lại ở chỗ cho rằng, xuất phát điểm
của tư tưởng giải thoát là từ nỗi khổ của con người và từ đó dẫn con
người ta thấy được nỗi khổ của cuộc đời, nên nó thôi thúc con người ta
vươn tới khát vọng và ý hướng giải thoát. Giải thoát còn phải chỉ ra
được nổi khổ ấy bắt nguồn từ đâu ?.
Phật giáo quan niệm: Sở dĩ con người ta mắc vào vòng trói
buộc của những nổi khổ chính là do con người vô minh. Tất cả sự vật
của thế giới này, cũng như con người đều là vô thường vô ngã, luôn
trong trạng thái biến chuyển không ngừng. Không có cái gì là thường
trụ, bất biến cả. Không thật có vật, có ta, có cảnh. Tất cả chỉ là giả
tưởng. Để tránh khỏi mê lầm, thoát khỏi những phiền não, con người
ta phải dập tắt mọi dục vọng để trở về với cái tâm thanh tịnh, tịnh diệt,
không đồng vọng bằng con đường thiền định, tu luyện đạo đức, chiêm
nghiệm nội tâm lâu dài.
Kimiva TaiKen cho rằng: “đối với vạn hữu, đặc biệt là tự thân con
người, người ta cảm thấy so sánh, đối chiếu giữa cái chân tướng và giả
tướng của vạn vật. Và do cái ý hướng muốn xa lìa giả tướng để về với
chân tướng mà sinh ra giải thoát“[1; 54]. Nhưng tu luyện trí tuệ, giác
ngộ để diệt dục, phá vô minh ở đây không phải là sự nhận thức bằng
cảm giác hay lý trí. Bởi cảm giác chỉ lôi kéo con người ta sa vào sự
quyến rũ của thế giới vật dục. Còn lý trí, tuy sâu sắc nhưng lại là cái
gì hạn hẹp, nhỏ bé luôn bất lực của trí tuệ trước những cái sâu kín, vô
hạn, tuyệt đối. Trước cái thực thể sâu kín là bản chất của thiên hình
vạn trạng bề ngoài và từ mọi lương tâm tỏa ra, chúng ta cần có một cơ
quan, một cách nhận thức hoàn hảo hơn ngũ quan và lý trí. Đó là sự tri
giác trực tiếp, sự đốn ngộ hay trực giác (intuition) - một năng lực nhận
thức đặc biệt, trực tiếp nắm bắt chân lý không cần kinh nghiệm và lý
trí. “Cái giác tự thâm tâm sau khi đã tự ý hết sức khép kín cánh cửa
của ngũ giác quan” [1; 55]. Chính vì thế mà triết lý Phật giáo đề cao
“Tam học“ (giới, định, tuệ) và coi đó là phương pháp giác ngộ cơ bản.
13
THÁI THỊ KHƯƠNG, TRỊNH THỊ LIÊN, TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN – TRIẾT K22 – ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG – ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIẢI
THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN HUẾ
Như vậy, nguồn gốc của nỗi khổ - điểm xuất phát của tư tưởng
giải thoát - được các trường phái triết học Phật giáo quy về bình diện
nhận thức, hay bình diện tinh thần, tâm lý đạo đức. Đúng như Kimura
Taiken đã viết: “Đối với nhân sinh Phật giáo cho là khổ, bởi vậy mới
lấy tự do, giải thoát làm tiêu chuẩn lý tưởng. Song sự khổ não và trói
buộc ấy không phải sự thực tồn tại khách quan mà là căn cứ vào thái
độ của tâm ta cả, nghĩa là cứ khư khư chấp lấy cái “ngã” giả dối cho
cái “ta” chân thực rồi trù mưu, tính kế để làm cho nó thõa mãn mọi
ham muốn của cái ta ấy, nên mới có khổ não trói buộc. Nếu ta có thể
vượt hẳn ra ngoài vòng tham dục của cái “ngã” nhỏ nhoi âý thì không
những ta sẽ không thấy khổ, không thấy trói buộc mà trái lại, ta sẽ
thấy một cảnh giới tự do và yên vui vô hạn“[1; 55].
Nhưng thực ra, nỗi khổ của cuộc đời và khát vọng vươn lên giải
thoát con người khỏi nỗi khổ ấy là bắt nguồn từ đời sống của xã hội.
Suy cho cùng, nó chính là sự phản ánh những đặc điểm của tính chất
sinh hoạt xã hội và những mâu thuẫn, những xu thế, yêu cầu tất yếu
trong đời sống xã hội đương thời. Tư tưởng giải thoát trong triết học
Phật giáo không thể không mang đặc tính ấy. Chỉ bằng cách xem xét
như vậy mới có thể vạch ra một cách đúng đắn đích thực của tư tưởng
giải thoát trong triết lý Phật giáo. Jawaharlah Nehru khi nhận xét về
triết học Phật giáo đã nhấn mạnh rằng: “Không thể không đồng ý rằng
một nền văn hóa hay một nhân sinh quan dựa trên thuyết thế giới bên
kia hay sự vô giá trị của thế giới lại có thể sản sinh ra tất cả những
biểu hiện về cuộc sống mạnh mẽ và muôn vẽ như thế …”[1; 56] và
“Thông thường thì mỗi tư tưởng đều liên quan đến cơ cấu đời sống
đang thay đổi“[1; 56]. Điều đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm của
Karl Marx và F. Engel đã khẳng định: “Ý thức không bao giờ có thể là
cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức … không phải ý thức quyết
định đời sống ý thức …“[1; 56 và 57]. Tuy nhiên cũng cần phải nói
rằng, ý thức xã hội không bao giờ phản ánh tồn tại xã hội một cách
cứng nhắc, giản đơn trực tiếp mà nó trãi qua nhiều khâu trung gian hết
sức tinh tế và linh hoạt.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét