Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty ArtExport sang thị trường Nhật Bản.DOC

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Đối với ArtExport, là một công ty xuất nhập khẩu, một mặt nhập các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ các cơ sở sản xuất hay các đơn vị khác. Mặt
khác, thực hiện hoạt động xuất khẩu để tiêu thụ sản phẩm. Do đó, vai trò
xuất khẩu đối với công ty:
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng và phát triển thị trường,
tranh thủ tìm kiếm các thị trường mới, củng cố và phát triển thương hiệu của
doanh nghiệp.
Giúp doanh nghiệp có được một nguồn tài chính để trả lương cho cán
bộ, công nhân viên làm việc cho doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có thể đẩy mạnh hoạt đông xuất khẩu thì sẽ giúp
cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường để từ đó có thể tồn
tại và phát triển.
Doanh nghiệp xuất khẩu được sản phẩm điều đó chứng tỏ là sản phẩm
của doanh nghiệp đã được thị trường chấp nhận. Đây là vấn đề quyết định
đến sự tồn tại hay diệt doanh của doanh nghiệp.
II. Những nội dung chính của xuất khẩu.
1. Điều tra nghiên cứa nhu cầu thị trường .
Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên và cũng là công việc vô
cùng quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào. Công
việc này đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian và chi phí của doanh nghiệp. Đối với
các doanh nghiệp lớn thì khâu nghiên cứu thị trường được giao cho phòng
kinh doanh còn đối với các doanh nghiệp nhỏ thì khâu nghiên cứu thị trường
do cán bộ kinh doanh đảm nhận. Quá trình nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho
doanh nghiệp trả lời các câu hỏi “ cần sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu,
bán với giá như thế nào ” để doanh nghiệp có thể trả lời được câu hỏi này thì
công việc nghiên cứu thị trường không phải làm cho qua loa và lấy lệ, nó đòi
hỏi trình độ và kinh nghiệm của phòng kinh doanh bởi nếu doanh nghiệp
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
không thể trả lời được câu hỏi này thì doanh nghiệp không thể tồn tại trong
nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt và ác liệt này. Trong nền
kinh tế thị trường này thì doanh nghiệp cần sản xuất và bán cái mà thị
trường cần chứ không phải sản xuất và bán mà cái mình có, chỉ khi nào
doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu và sở thích của thị trường thì doanh
nghiệp mới có thể đứng vững trên thị trường. Khi nghiên cứu nhu cầu thị
trường thì doanh nghiệp cần phải giải đáp rất nhiếu câu hỏi như : “đâu là thị
trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp, với mức giá nào thì phù hợp…:”
Khi đã trả lời được các câu hỏi đó thì doanh nghiệp cần tập trung cao độ
vốn, nhân lực để có thể sản xuất và tiêu thụ đạt hiệu quả cao nhất phục vụ
cho mục đích thu hồi vốn, tạo lợi nhuận và mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh.
2. Lập kế hoạch xuất khẩu sản phẩm.
Lập kế hoạch xuất khẩu là một trong các khâu quan trọng của quá
trình xuất khẩu sản phẩm. Doanh nghiệp muốn chủ động, muốn xuất khẩu
được nhiều sản phẩm với lợi nhuận cao nhất thì doanh nghiệp cần có một kế
hoạch xuất khẩu cụ thể cho từng thời kỳ và cho cả một giai đoạn dài trong
hoạt động sản xuất và kinh doanh. Doanh nghiệp muốn có được một kế
hoạch xuất khẩu tốt thì doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch dựa vào công
tác điều tra nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp, dựa vào các nguồn
thông tin như báo chí, truyền thông, dựa vào kế hoạch của chính đối thủ
cạnh tranh trực tiếp… có như vậy thì doanh nghiệp mới có được một kế
hoạch xuất khẩu tốt được. Kế hoạch xuất khẩu sản phẩm là cơ sở quan trọng
đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
một cách nhịp nhàng, liên tục theo kế hoạch đã định. Ngoài ra nó còn là căn
cứ để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch hậu cần vật tư và các kế hoạch khác
của doanh nghiệp.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp trong quá trình xây
dựng kế hoạch xuất khẩu như: Phương pháp cân đối, phương pháp quan hệ
động…Trong đó phương pháp cân đối được doanh nghiệp sử dụng là chủ
yếu và thường xuyên.
3. Chuẩn bị hàng hóa để xuất khẩu.
Trong quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa. Doanh nghiệp muốn giữa
uy tín của mình với bạn hàng và khách hàng thì doanh nghiệp phải luôn luôn
chuẩn bị để có đủ hàng hóa về số lượng, chất lượng và kịp thời gian để đáp
ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu của khách hàng có như vậy doanh nghiệp
mới tạo được vị thế và chỗ đứng vững chắc trên thị trường đặc biệt trong
lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa thì công tác đảm bảo có đủ hàng hóa kịp thời
đúng về chất lượng,số lượng, kịp thời gian lại càng trở lên quan trọng đối
với doanh nghiệp do vậy làm tốt công tác chuẩn bị có ảnh hưởng rất lớn đến
vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Để cho công tác này được tiến hành một
cách liên tục không bị gián đoạn thì các doanh nghiệp phải chú trọng đến các
nghiệp vụ ở kho như: Tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu sản phẩm, bao gói,
sắp xếp hàng hóa ở kho - bảo quản và ghép đồng bộ để xuất khẩu cho bạn
hàng. Tiếp nhận đầy đủ về số lượng và chất lượng hàng hóa từ các nguồn
nhập kho ( Từ các phân xưởng, tổ đội sản xuất của doanh nghiệp) theo đúng
mặt hàng quy cách, chủng loại hàng hóa. Thông thường, kho hàng hóa của
doanh nghiệp đặt gần nơi sản xuất sản phẩm. Nếu kho hàng đặt xa nơi sản
xuất ( Có thể gần nơi tiêu thụ ) thì doanh nghiệp phải tổ chức tốt công việc
tiếp nhận hàng hóa bảo đảm kịp thời, nhanh chóng, góp phần giải phóng
nhanh phương tiện vận tải, bốc xếp, an toàn sản phẩm, tiết kiệm chi phí lưu
thông.
4. Lựa chọn các hình thức xuất khẩu sản phẩm.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Có rất nhiều cách để doanh nghiệp có thể đưa hàng hóa của doanh
nghiệp mình ra thị trường và đến tay người tiêu dùng. Để hoạt động xuất
khẩu sản phẩm có hiệu quả cần phải lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm một
cách hợp trên cơ sở tính đến các yếu tố như đặc điểm sản phẩm, các điều
kiện vận chuyển, bảo quản, sử dụng…
Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và bạn hàng mà doanh
nghiệp có thể lựa chọn kênh xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp.
Kênh xuất khẩu trực tiếp là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu trực
tiếp sản phẩm của mình đến bạn hàng mà không qua một khâu trung gian.
Kênh xuất khẩu này có ưu nhược điểm là.
Ưu điểm: Giảm được chi phí lưu thông, thời gian sản phẩm đến tay
bạn hàng nhanh hơn, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với
người tiêu dùng…
Nhược điểm: Doanh nghiệp phải tiếp xúc với nhiều bạn hàng, phải
dành nhiều công sức, thời gian vào quá trình xuất khẩu, nhiều khi làm tốc đọ
chu chuyển của vốn lưu động chậm hơn.
Kênh xuất khẩu gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán sản
phẩm của mình cho bạn hàng có qua khâu trung gian. Sự tham gia nhiều hay
ít của các trung gian trong quá trình xuất khẩu sẽ làm cho kênh xuất khẩu
gián tiếp dài, ngắn khác nhau. Kênh xuất khẩu này có ưu, nhược điểm là.
Ưu điểm: Doanh nghiệp có thể xuất khẩu với một khối lượng sản
phẩm của mình, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm chi phí bảo quản, hao hụt
trong quá trình xuất khẩu, …
Nhược điểm: Kênh xuất khẩu này làm cho thời gian lưu thông hàng
dài hơn, tăng chi phí xuất khẩu và đặc biệt là doanh nghiệp khó có thể kểm
soát các khâu trung gian.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Như vậy mỗi kênh tiêu thụ sản phẩm đều có ưu, nhược điểm nhất
định, nhiệm vụ của phòng kinh doanh là phải lựa chọn hợp lý các hình thức
xuất khẩu sản phẩm sao cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
5. Tổ chức các hoạt động xúc tiến yểm trợ cho xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu có thể tiến hành được một cách nhanh chóng đạt
hiệu quả thì hoạt động xúc tiến yểm trợ có một vai trò đặc biệt quan trọng.
Xúc tiến là hoạt động thông tin Marketing tới khách hàng tiềm năng của
doanh nghiệp. Các thông tin bao gồm thông tin về doanh nghiệp, về sản
phẩm, về phương thức phục vụ và những lợi ích mà khách hàng sẽ thu được
khi mua sản phẩm của doanh nghiệp, cũng như các tin tức cần thiết từ phía
khách hàng, qua đó để doanh nghiệp tìm ra cách thoả mãn tốt nhất nhu cầu
của khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh có các hoạt động xúc tiến mua
hàng và bán hàng.
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm
và thúc đẩy cơ hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Xúc tiến bán
hàng chứa đựng trong đó các hình thức, cách thức và những biện pháp nhằm
thúc đẩy mạnh khả năng bán ra của doanh nghiệp.Xúc tiến bán hàng có ý
nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh thị trường và nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hóa trên thương trường, nhờ đó quá trình tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp được đẩy mạnh cả về số lượng và thời gian. Yểm trợ là
hoạt động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt
hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng các mối quan hệ với khách hàng, củng cố phát triển thị trường.
Những nội dung chủ yếu của hoạt động xúc tiến, yểm trợ bán hàng phải kể
đến là: quảng cáo, chào hàng, khuyến mại, tham gia hội trợ, triển lãm…
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
6. Lựa chọn đối tác để xuất khẩu.
Việc lựa có ảnh hưởng lớn đến quá trình xuất khẩu của doanh nghiệp
do vậy doanh nghiệp chọn đối tác nào để xuất khẩu thì doanh nghiệp cần
phải bỏ thời gian và chi phí để nghiên cứu về đối tác có như vậy chúng ta
mới có được các thông tin về đối tác điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ
dàng hơn khi đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác .Theo binh pháp Tôn Tử
thì “ Biết người, biết ta trăm trận trăm thắng. Biết ta mà không biết người thì
cầm chắc phần thua”. Nghiên cứu đối tác ta cần thu thập thông tin từ phía
đối tác, thông tin có thể lấy từ các bạn hàng đã làm việc với đối tác, cần phải
nghiên cứa về sở thích, nhu cầu cũng như các quy định, điều lệ của đối tác.
Việc lựa chọn đối tác nào, bỏ đối tác nào tùy thuộc vào hợp đồng cũng như
quy định của doanh nghiệp.
7. Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu sản phẩm.
Đàm phán là sự bàn bạc, thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên để cùng
nhau nhất trí hay thỏa hiệp giải quyết những vấn đề về lợi ích có liên quan
đến các bên.
Sau khi doanh nghiệp đã lựa chọn được đối tác phù hợp với hợp đồng
thì doanh nghiệp cần phải tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác.
Để đàm phán và ký kết hợp đồng thành công thì doanh nghiệp cần phải
chuẩn bị thông tin về phía đối tác, phải có các chuyên gia đàm phán và tổ
chức đoàn đàm phán cho phù hợp với đoàn đàm phán của bạn. Đặc biệt với
các bạn hàng là người ngoài nươc thì doanh nghiệp càng phải chuẩn bị một
cách cẩn thân và kỹ lưỡng có như vậy đàm phá mới diễn ra một cách thuận
lợi và đạt kết quả cao nhất.
8. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Tổ chức hoạt động xuất khẩu là khâu cuối cùng của quá trình xuất
khẩu, sau khi các doanh nghiệp đã ký kết được các hợp đồng với đối tác về
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
mẫu mã, chất lượng, giá cả … thì doanh nghiệp cần tổ chức xuất hàng cho
đối tác theo đúng như quy định đã ký kết với đối tác trong hợp đồng. Trong
quá trình tổ chức hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp cần chú ý đến tâm lý,
nhu cầu, sở thích của đối tác cũng như các yêu cầu từ phía đối tác đề ra có
như vậy thì doanh nghiệp mới giữa uy tín của mình với bạn hàng tạo điều
kiện thuận lợi cho những hợp đồng làn sau với đối tác và có được những hợp
đồng mới với những đối tác mới thông qua sự giới thiệu của đối tác cũ của
chúng ta. Doanh nghiệp muốn xuất khẩu được nhiều hàng thì doanh nghiệp
cần tìm hiểu các thông tin về đối tác như phong cách làm việc, thái độ từ
phía đối tác… doanh nghiệp cần phải làm tốt khâu công tác này tạo điều
kiện cho những hợp đồng sau sẽ thuận lơi hơn.
III. Khái quát chung về thị trường Nhật Bản và quan hệ thương mại
giữa Việt Nam –Nhật Bản.
1. Vài nét về Nhật Bản.
Nhật Bản là quốc gia nghèo tài nguyên, dân số đông, kinh tế bị tàn
phá kiệt quệ trong chiến tranh. Nhờ có các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật
Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973).
Từ năm 1974 đến nay, tốc độ phát triển kinh tế tuy chậm lại, song Nhật Bản
tiếp tục là một nước có tiềm năng lớn thứ 2 trên thế giới về kinh tế, KHKT,
tài chính.
Chính sách đối ngoại: Từ sau chiến tranh lạnh, Nhật Bản điều chỉnh
chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường tính độc lập, chủ động nhằm
vươn lên thành cường quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế, phát
huy vài trò và ảnh hưởng trên thế giới và Châu Á-Thái Bình Dương. Đường
lối đối ngoại của chính quyền mới thể hiện qua các khái niệm “ngoại giao
giá trị: thúc đẩy chủ nghĩa dân chủ, tự do và pháp trị” của Thủ tướng Abe và
“xây dựng vành đai tự do và thịnh vượng” của Ngoại trưởng Aso.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Hiện nay, các mặt hàng XK chính của VN sang thị trường này gồm:
may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ, hải sản, dầu thô, dây điện, đồ gỗ nội thất,
than đá, và giày dép Đặc biệt, phải kể đến mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Đây là mặt hàng mới nổi lên và được khách hàng Nhật Bản rất ưa thích bởi
tính chất văn hoá đậm đà, truyền thống của Việt Nam.
1.1. Đặc điểm chung của thị trường Nhật Bản.
Nhật Bản không chỉ là một thị trường với khả năng tiêu dùng lớn mà
còn là một thị trường gần gũi về mặt địa lý và có nhiều điểm tương đồng về
văn hoá đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trao đổi về việc xuất khẩu
hàng hoá Việt Nam sang thị trường này, ông Nguyễn Trung Dũng: Quan hệ
giữa Việt Nam và Nhật Bản từ trước tới nay vốn là quan hệ đối tác tin
tưởng, ổn định lâu dài nhưng từ năm 2006, sau chuyến thăm của Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng, quan hệ này đã được nâng lên một tầm cao mới: Đối tác
chiến lược. Điều này đã tạo ra nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp của hai
nước.
Thị trường Nhật Bản từ trước tới nay vẫn là một thị trường có nhiều
hứa hẹn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trong nhiều năm liền, Việt Nam
luôn là quốc gia xuất siêu sang Nhật Bản. Theo thống kê, năm 2004 kim
ngạch xuất khẩu của hai nước đạt 4,5 tỷ USD thì trong năm 2006 đã tăng lên
đến 9,9 tỷ USD, trong đó tỷ trọng xuất khẩu luôn nghiêng về phía Việt Nam.
Đây là một thị trường mang nhiều tính đặc thù, truyền thống và ổn định. Các
doanh nghiệp Việt Nam đang có ý định xuất hàng sang Nhật Bản cần quan
tâm đến điểm này.
Hiện nay, Nhật Bản vẫn là quốc gia có nền kinh tế phát triển thứ hai
thế giới. Tổng mức tiêu dùng trong nước tăng nhanh, trong tổng mức tăng
trưởng GDP, thì mức tăng nội nhu (Tiêu dùng trong nước) đạt khoảng 55%.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Chính chỉ số này không chỉ là động lực thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản mà
còn có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường này.
Một điều cần lưu ý nữa là, mức độ lão hoá dân số của Nhật Bản cao
(số người dân trên 65 tuổi chiếm khoảng 20%). Cùng với việc dân số lão hoá
đạt mức cao (cao nhất thế giới hiện nay) kéo theo lao động thiếu, nhất là lao
động trong lĩnh vực nông nghiệp trong khi nhu cầu về thực phẩm vẫn liên
tục tăng, chỉ trong năm 2006 đã tiêu thụ hết 55 tỷ USD. Chính đặc điểm này
không chỉ chi phối nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản mà còn
cho thấy tiềm năng xuất khẩu lao động và các mặt hàng thực phẩm vào thị
trường này.
1.2. Chính sách thương mại Nhật Bản.
1.2.1. Chính sách ngoại thương.
Về chính sách kinh tế đối ngoại: Nhật Bản đang có nhiều thay đổi
trong năm 2006, nhất là mấy tháng gần đây. Nhật Bản từ nhiều năm liền là
đồng minh thân cận của Mỹ nhưng xuất khẩu hàng hoá của nước này vào
Mỹ chiếm 22% trong khi nhập khẩu thì Trung Quốc mới là nước dẫn đầu
với tỷ lệ 25% (tổng mức xuất khẩu của tất cả các nước ASEAN chỉ chiếm
khoảng 14%, riêng Việt Nam khoảng 1%. Dự kiến, trong năm 2007, xuất
khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản sẽ đạt khoảng 12 tỷ USD).
1.2.2. Những quy định của Nhật Bản về xuất xứ hàng hóa.
Hiện nay, với cuộc sống văn minh, hiện đại trong tiêu dùng của Nhật
Bản thì đi kèm với nó là các yêu cầu đối với hàng hoá nhập khẩu vào thị
trường Nhật Bản. Do đó, có rất nhiều các hàng rào thuế quan và phi thuế
quan được dựng lên. Các hàng rào về thuế quan chủ yếu được dựng lên
nhằm bảo hộ các nhà sản xuất trong nước. Còn các hàng rào phi thuế nhằm
bảo vệ người tiêu dùng trong nước. Những hàng hoá nhập khẩu vào Nhật
Bản phải đảm bảo những tiêu chuẩn về chất lượng, xuất xứ hàng hoá, … Đối
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
với mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì vấn đề về xuất xứ hàng hoá có vai trò rất
quan trọng. Bởi xuất xứ hàng hoá quy định nơi sản xuất ra hàng hoá đó mà
chỉ nơi đó mới sản xuất được hàng hoá đó hoặc nó mang đậm bản sắc riêng
của nơi đó, vùng đó. yếu tố văn hoá kết tinh trong hàng hoá là ưu thế của các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Chính vì vậy, đối với khách hàng nước ngoài
nói chung và khách hàng Nhật Bản nói chung rật quan tâm đến vấn đề này.
Một số kiến nghị với doanh nghiệp Việt Nam trong hợp tác với
doanh nghiệp Nhật Bản:
Doanh nghiệp Nhật Bản tương đối khó tính trong việc lựa chọn đối
tác làm ăn. Thường họ chú trọng công tác thẩm định trực tiếp. Khi chọn đối
tác để cung cấp hay nhập khẩu hàng hoá họ thường có nhu cầu thẩm định
hàng hoá trực tiếp. Mặt khác, người Nhật có thói quen đến tận doanh nghiệp
mua hàng để xem cơ sở đối tác, vì thế chúng ta phải phát triển sản xuất.
Những mặt hàng thường phải nhập từ nhiều nguồn, nhiều công đoạn sản
xuất, khó tập trung một điểm như thủ công mỹ nghệ phải có các kho hàng,
showroom,… để họ tin tưởng hơn.
Đặc biệt, người Nhật Bản cũng rất chú trọng đến môi trường. Người
Nhật đặt yêu cầu rất cao đối với vệ sinh an toàn thực phẩm. Như vấn đề tôm
xuất khẩu vào Nhật Bản vừa qua, cùng với việc thông báo cho phía Việt
Nam, họ cũng tiến hành nhiều biện pháp điều tra, nếu phát hiện tôm Việt
Nam được nuôi thả không đảm bảo vệ sinh môi trường thì rất dễ bị cẩm
nhập khẩu.
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần tìm hiểu kỹ thông tin về các hội
chợ để thu được hiệu quả cao nhất.
2. Quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Trong năm 2006, những mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu vào thị
trường Nhật Bản như: may mặc xuất được 850 triệu USD, thuỷ sản 650 triệu
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét