lợi, phù hợp cho từng đối tượng. Cho nên công tác thanh toán giữa các doanh
nghiệp được thực hiện chủ yếu qua ngân hàng.
Đỉnh cao của công nghệ ngân hàng là thanh toán điện tử. Những miếng
Plastic nhỏ xíu với một vi xử lý điện tử đã được đưa vào sử dụng mà khách
hàng không cần phải đến ngân hàng vẫn có thể dùng trực tiếp tiền trong tài
khoản gửi tại ngân hàng. Như vậy tiết kiệm nhiều thời gian và chi phí.
Trên đây là quá trình ra đời và phát triển của thanh toán. Nó gắn với sự
ra đời và phát triển của tiền tệ, trao đổi, mua bán trên thị trường. Hình thức
thanh toán ngày càng tinh vi hơn, phương tiện thanh toán ngày càng đa dạng
hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
3. Đặc điểm của công tác thanh toán hiện nay.
Hiện nay công tác thanh toán rất hiện đại, quan hệ nhiều bên và rất
phức tạp nhưng quy lại thì thanh toán mang những đặc điểm chính sau đây:
3.1. Thanh toán không sử dụng tiền mặt là chủ yếu.
Khi hoạt động ngân hàng chưa đủ sự phát triển và tin cậy thì tiền mặt
trong thanh toán rất nhiều. Nhưng hiện nay xu thế thanh toán không dùng tiền
mặt ngày càng phát triển.
ở các nước phát triển, thanh toán bằng tiền mặt rất ít. Trong hoạt động
kinh doanh, thanh toán qua ngân hàng chiếm 100%, chỉ một phần nhỏ thanh
toán trong sinh hoạt hàng ngày mới sử dụng tiền mặt.
Khi các bên giao dịch với nhau, thường sử dụng các công cụ như: Séc,
UNT, UNC… để thực hiện thanh toán và người mua hoặc người bán chỉ giao
các công cụ đó cho ngân hàng của mình là được, công việc còn lại là của các
ngân hàng với nhau. Tất nhiên là khách hàng phải mất một khoản phí nhất
định.
Thực hiện như vậy sẽ hạn chế được rủi ro trong thanh toán như: cướp
giật, hỏng mất… vì công cụ thanh toán chỉ là một tờ giấy nhỏ hoặc chẳng có
gì cả. Sau khi giao nhận hàng thì giao bộ chứng từ cho ngân hàng thu hộ hoặc
chi hộ. Với hình thức này thì lượng tiền mặt trong thanh toán giảm đi rất
nhiều, nên chi phí quản lý tiền mặt sẽ giảm xuống và hạn chế được bao nhiêu
là rủi ro. Do sự tiện lợi đó mà xu thế này đang phát triển ngay ở các nước kém
và đang phát triển.
5
Theo thống kê của ngân hàng Pháp thì thanh toán bằng tiền mặt trong
kinh doanh ở Pháp, Anh, Hà Lan là 0%, ở Đức là 4.2%, ở Hoa Kỳ là 2.1%,
Đan Mạch là 7.4%… như vậy để thấy được thanh toán không dùng tiền mặt
thật sự được ứng dụng rộng rãi và phát triển như thế nào.
3.2. Công cụ và hình thức thanh toán ngày càng đa dạng.
Khi ngân hàng còn chưa ra đời thì chỉ có hình thức là trực tiếp theo
kiểu “ tiền trao cháo múc ”. Đến khi ngân hàng ra đời và phát triển cao thì
ngoài thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp với khách hàng còn có thanh toán qua
séc, UNC, UNT, các loại thẻ thanh toán rồi thanh toán điện tử …
Phương thức thanh toán cũng rât phong phú: chuyển khoản, chuyển
tiền, ghi sổ, trực tiếp, tín dụng chứng từ, .…
3.3. Rủi ro thanh toán ngày càng giảm
Nếu là trước đây sử dụng tiền mặt thanh toán gặp nhiều sự cố trong
quá trình thanh toán. Nhưng hiện nay thanh toán qua ngân hàng nên những rủi
ro đó giảm xuống rất nhiều, do các loại công cụ và phương thức thanh toán
qua ngân hàng đa dạng nên sẽ đảm bảo được khả năng trả tiền của người mua.
Do những quy định đối với công tác thanh toán hiện nay rất chặt chẽ,
áp dụng cho toàn quốc gia, toàn thế giới. Do vậy hình thức lừa đảo trong
thanh toán giảm nhiều, vì nếu vi phạm các quy định đó thì doanh nghiệp đó sẽ
mất uy tín trên thương trường, như thế sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy mà các loại rủi ro trong thanh toán
đang có xu hướng giảm dần. Cùng với sự quan tâm thống nhất giữa các quốc
gia đã làm cho công tác thanh toán ngày càng an toàn và bảm bảo hơn.
4. Phân loại thanh toán
4.1. Thanh toán nội bộ và thanh toán với bên ngoài
Thanh toán nội bộ là hoạt động thanh toán phát sinh bên trong đơn vị
kinh doanh, giữa các thanh viên và các mối quan hệ bên trong doanh nghiệp
mà thôi.
Thanh toán với bên ngoài phát sinh với các đối tượng thanh toán bên
ngoài doanh nghiệp như: Với nhà cung cấp, người mua, nhà nước, ngân
hàng…. mà không bị sự tác động nào của các đối tượng bên trong doanh
nghiệp cả.
6
4.2. Thanh toán sử dụng tiền mặt và không sử dụng tiền mặt
Thanh toán sử dụng tiền mặt là hình thức thanh toán khi giao dịch diễn
ra, bên trả tiền trực tiếp giao tiền mặt cho bên kia và nhận hàng về. Hình thức
này hiện nay ít sử dụng vì nó bất tiện và gặp nhiều rủi ro.
Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán khi có một
giao dịch kinh tế nào đó thì các bên sử dụng các công cụ như: Séc, ủy nhiệm
chi, ủy nhiệm thu… và các phương thức mà ngân hàng phục vụ các bên có thể
cung cấp. Hay nói ngắn gọn là hình thức thanh toán qua ngân hàng, không sử
dụng tiền mặt trong kinh doanh.
Đây là xu thế phát triển hiện nay không chỉ ở các nước phát triển mà
còn ở những đang phát triển.
4.3. Thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế
Thanh toán trong nước là hình thức thanh toán chỉ diễn ra trong nội bộ
một nước, các đối tượng trong giao dịch cùng ở một quốc gia. Cho nên sẽ có
những cách thức khác nhau để thanh toán.
Thanh toán quốc tế là hoạt động thanh toán vượt ra khỏi phạm vi một
quốc gia, các bên giao dịch ở những nước khác nhau thực hiện mua – bán và
thanh toán cho nhau.
Công tác thanh toán quốc tế buộc phải thanh toán qua ngân hàng giữa
các nước tham gia.
4.4. Thanh toán trước, ngay và thanh toán sau.
Thanh toán trước là thanh toán diễn ra trước khi giao dịch, giao hàng
trong một thời gian nhất định. Thời gian bao nhiêu, số lượng như thế nào tùy
thuộc vào mối quan hệ giữa các bên tham gia.
Thanh toán ngay là hình thức thanh toán diễn ra ngay lúc giao dịch và
các bên thực hiện ngay
Thanh toán sau là thanh toán diễn ra sau khi giao dịch một thời gian
theo các điều kiện trong hợp đồng. Hình thức này hình thanh các khoản phải
thu, phải trả đối với doanh nghiệp.
II. THANH TOÁN TRONG NƯỚC
1. Khái niệm:
7
Là hình thức thanh toán chỉ liên quan đến các đối tượng trong một quốc
gia.
2. Nội dung thanh toán
2.1. Thanh toán nội bộ
Là loại hình thanh toán phát sinh liên quan đến các đối tượng trong đơn
vị kinh doanh có sự phân cấp kinh doanh, quản lý và công tác kế toán.
Một doanh nghiệp dù có tư cách pháp nhân hay không, khi thực hiện
hoạt động kinh doanh cũng phải thuê lao động hoặc có các đơn vị trực thuộc
khác. Do đó mà nảy sinh nhiều mối quan hệ chính sau:
- Thanh toán giữa doanh nghiệp và nhân viên của doanh nghiệp:
Giữa doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp có mối quan
hệ ràng buộc bằng pháp lý đó là hợp đồng lao động. Do vậy doanh nghiệp
phải tuân thủ theo luật lao động mà nhà nước ban hành. Nên mọi chế độ, hình
thức trích lập các quỹ trong doanh nghiệp sẽ hình thành nên các loại thanh
toán trong doanh nghiệp
- Thanh toán giữa cấp trên và cấp dưới:
Có nhiều hoạt động thanh toán thể hiện mối quan hệ này như khi cấp
trên cấp phát vốn cho đơn vị thành viên để hoạt động kinh doanh hay thu hồi
lại một phần vốn đã cấp, có thể bằng tiền hoặc bằng tài sản nên sẽ ảnh hưởng
đến nguồn vốn của doanh nghiệp. Hoặc quyết định điều chuyển vốn từ thành
viên này sang thành viên khác.
Ngoài ra còn có các khoản chi hộ, thu hộ giữa cấp trên và cấp dưới như
trả hộ lương, thưởng cho nhân viên hoặc trong trường hợp một trong hai gặp
khó khăn tạm thời về tiền mặt hày thanh toán, thì bên kia sẽ thực hiện nên
phát sinh nghĩa vụ thanh toán.
Bên cạnh đó cấp dưới còn có nghĩa vụ nộp cho cấp trên về các quỹ:
Quỹ quản lý, quỹ khen thưởng, phúc lợi, lãi chưa phân phối…
2.2. Thanh toán với nhà nước
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào
cũng đều có nghĩa vụ thanh toán với nhà nước về những khoản nộp theo quy
định. Thanh toán với nhà nước mang tính chất bắt buộc, không hoàn trả và
8
được điều chỉnh theo luật. Thông thường doanh nghiệp phải thanh toán các
khoản thuế, phí, lệ phí và các chế độ bắt buộc khác.
a) Các loại thuế
• Thuế GTGT : Là loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa theo quy định của nhà nước.
Ở Việt Nam, thuế GTGT có thể được tính theo 2 cách sau:
- Theo phương pháp khấu trừ:
- Theo phương pháp trực tiếp
• Thuế TTĐB : Là một loại thuế tiều dùng đánh vào một số hàng hóa,
dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục nhà nước quy định.
Thuế TTĐB = Giá tính thuế * Thuế suất
• Thuế TNDN : Được hiểu là thuế đánh vào phần thu nhập của doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
• Thuế XNK : Là loại thuế đánh vào hàng hóa XNK theo quy định của
nhà nước. Thuế xuất khẩu có thuế suất = 0%
Còn thuế nhập khẩu = Giá tính thuế * Thuế suất
Ngoài ra còn có các loại thuế khác : Thuế môn bài, Thuế đất, Thuế thu
sử dụng vốn ngân sách….
b) Các loại phí, lệ phí và các chế độ bắt buộc khác
Phí và lệ phí là các khoản nộp cho cơ quan hành chính nhà nước phát
sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các chế độ bắt buộc khác là BHXH, BHYT mà các doanh nghiệp nhà
nước sử dụng lao động phải nộp cho lao động mình thuê.
c) Ngoài các loại trên, còn có hình thức thanh toán nữa đó là các khoản
miễn thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế, giảm thuế tạo nên mối quan hệ giữa
doanh nghiệp và cơ quan nhà nước quản lý mình.
2.3. Thanh toán với khách hàng trong nước
Là quan hệ phát sinh khi có mua – bán hàng hóa giữa doanh nghiệp với
nhà cung cấp hoặc người mua là khách hàng trong nước. Trong quá trình
thanh toán thì thường xảy ra ba trường hợp sau đây:
a) Thanh toán trước:
9
Khi phát sinh hình thức này doanh nghiệp sẽ ứng trước cho nhà cung
cấp một số tiền nhất định để cam kết rằng doanh nghiệp chắc chắn sẽ mua
hàng, hình thức này hình thành nên khoản trả trước cho người bán (ghi nợ tài
khoản 331). Nếu doanh nghiệp được người mua trả trước một số tiền nào đó
thì lúc đó hình thành khoản ứng trước người mua (ghi có tài 131). Nếu sau
này doanh nghiệp không giao hàng cho người mua thì buộc phải trả lại tiền và
còn bị phạt vì vi phạm hợp đồng nữa.
Thông thường thanh toán trước chỉ chiếm một phần nhỏ trong giá trị
hợp đồng bởi vì vừa bị chiếm dụng vốn vừa không biết là hàng hóa có đáp
ứng yêu cầu của mình hay không.
b) Thanh toán ngay:
Là hình thức thanh toán cùng lúc với khi 2 bên giao hàng thì giao tiền
cho nhau. Hình thức này thường chiếm tỉ lệ khá lớn trong giao dịch
c) Thanh toán sau: Là hình thức thanh toán sau một thời gian nhất định
theo sự thoả thuận giữa hai bên
• Đối với người cung cấp:
Đây là hình thức doanh nghiệp mua chịu nhà cung cấp và cam kết sẽ
thanh toán sau một thời gian nào đó, nếu số lượng lớn chứng tỏ doanh nghiệp
đã vay vốn của khách hàng và đây là một hình thức tín dụng thương mại, điều
này sẽ tác động đến cơ cấu vốn và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông thường để mua chịu được hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố:
- uy tín của doanh nghiệp : Là uy tín của doanh nghiệp về thanh toán,
về hoạt động kinh doanh trên thương trường như thế nào. Nếu doanh nghiệp
có uy tín cao thì sẽ được cho mua chịu nhiều. Còn nếu doanh nghiệp đã từng
vi phạm các điều khoản về công tác thanh toán thì người cung cấp sẽ không
cho mua chịu, mà nếu có thì cũng là một tỷ lệ rất ít.
- Là khách hàng quen hay không : Nếu mua lần đầu thì doanh nghiệp
khó mà được mua chịu, nhưng nếu thường xuyên có quan hệ mua bán thì sẽ
được lợi nhiều hơn.
- Kết quả hoạt động kinh doanh : Sẽ chẳng có ai cho DN mua chịu nếu
biết DN đang làm ăn thua lỗ, không đủ khả năng thanh toán cả.
• Đối với người mua hàng: Đó là hình thức bán chịu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp sẽ cho khách hàng trả tiền sau một thời gian và như vậy
10
doanh nghiệp đã cấp tín dụng cho khách hàng. Cho nên doanh nghiệp phải
nghiên cứu, xem xét đến khả năng thu hồi nợ sau thời gian cho phép.
Khi xem xét đến chính sách bán chịu, doanh nghiệp cũng phân tích
những yếu tố trên như ở thanh toán với người cung cấp để đánh giá khả năng
thanh toán và hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của đối tác trên thương
trường để có quyết định cho mua chịu hay không ?, nếu có thì với tỉ lệ bao
nhiêu là đủ.
Ngoài ra doanh nghiệp phải xem xét, cân đối giữa việc bán chịu với
mua chịu người cung cấp để có quyết định đúng đắn.
3. Phương thức thanh toán
3.1. Khái niệm
Là cách thức nhận trả hay thanh toán tiền giữa các đối tượng tham gia
vào một giao dịch kinh tế – tài chính nào đó.
3.2. Một số phương thức thanh toán thông dụng
a) Thanh toán giao hàng trả tiền ngay.
Đây là hình thức thanh toán ngay, khi một bên giao hàng cho bên kia,
đồng thời bên kia cũng sẽ giao tiền ngay. Như vậy giao dịch trả tiền ngay
thường thanh toán bằng tiền mặt và mang tính chất trực tiếp.
b) Phương thức chuyển tiền.
Là phương thức thanh toán trong đó người mua (người trả tiền) sau khi
nhận được hàng sẽ yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất
định cho người bán (người hưởng thụ) tại một địa điểm và thời gian nhất
định.
Đây là phương thức thanh toán qua ngân hàng và được sử dụng nhiều
nhất do có sự tiện lợi, tuy nhiên người yêu cầu phải trả một số phí nhất định
cho ngân hàng khi chuyên tiền.
c) Phương thưc ghi sổ.
Là phương thức thanh toán mang tính chất bù trừ lẫn nhau. Khi các bên
thực hiện giao nhận hàng hóa thì sẽ ghi và theo dõi vào một cuốn sổ riêng
hoặc tài khoản riêng với sự xác nhận của các bên trong giao dịch. Việc thanh
toán sẽ được thực hiện sau một thời kỳ nhất định đã được thỏa thuận trước.
11
Để thực hiện theo phương thức này thì yêu cầu các bên phải có quan hệ mua
bán thường xuyên và thật sự tin tưởng lẫn nhau, nếu không thì rủi ro sẽ rất
lớn.
4. Phương tiện thanh toán
Là công cụ mà các đối tượng thường sử dụng để trả tiền cho nhau trong
các giao dịch kinh tế – tài chính.
4.1. Thanh toán bằng tiền mặt
Tiền mặt là công cụ thanh tồn tại từ rất lâu đời, đến nay vẫn còn khá
thông dụng, nhất là ở các nước kém và đang phát triển.
Đây là phương tiện sử dụng tiền mặt trực tiếp thanh toán khi giao nhận
hàng hóa giữa các bên. Tuy nhiên chỉ sử dụng trong nước vì mỗi nước đều có
đồng tiền riêng và trong quan hệ thương mại quốc tế phải thanh toán qua ngân
hàng.
4.2. Thanh toán bằng séc
Séc được hiểu là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện được in trên giấy đặc
biệt của ngân hàng do một khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng
trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình mở tại ngân hàng để trả
cho người cầm Séc hoặc cho người được chỉ định trên tờ Séc.
Trong giao dịch thương mại thay vì trả bằng tiền mặt, khách hàng còn
có thể thanh toán cho đối tác bằng Séc, và Séc là một phương tiện khá thông
dụng cả trong thương mại lẫn trong tiêu dùng hàng ngày.
Ngoài loại Séc được chỉ định đích danh, còn có Séc có thể kí hậu: Tức
là người sở hữu có thể điền tên người hưởng thụ mới.
Trong Séc cũng có nhiều loại, sau đây là một số loại chính mà ngân
hàng sử dụng:
• Séc chuyển khoản : Là loại Séc được sử dụng rộng rãi, nó có giá trị
thanh toán trực tiếp như tiền tệ, do đó trên tờ Séc phải có đầy đủ những yếu tố
bắt buộc theo luật định và Séc chỉ có hiệu lực trong một thời gian nhất định
mà thôi.
• Séc bảo chi : Là loại Séc được ngân hàng đảm bảo khả năng thanh
toán cho từng tờ Séc. Do vậy mà khi phát hành loại Séc bảo chi, ngân hàng
thường buộc khách hàng phải ký quỹ vào tài khoản riêng và không được sử
12
dụng số tiền đó vào mục đích khác. Cho nên loại Séc này được sử dụng khi
người bán không tin tưởng vào khả năng thanh toán của người mua hoặc
khách hàng vi phạm kỷ luật phát hành Séc.
• Séc định mức : Cũng là loại Séc giống như Séc bảo chi nhưng chỉ
khác ở chỗ là Séc định mức đảm bAỏ khả năng thanh toán cho cả một quyển
Séc.
• Séc chuyển tiền : Là một loại chuyển tiền được sử dụng theo yêu cầu
của khách hàng, tức là chỉ định cụ thể người lĩnh tiền hoặc người cầm Séc sẽ
được lĩnh tiền.
• Séc cá nhân : Được áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi
đứng tiên cá nhân tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng hóa và các khoản
khác.
4.3. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (UNC)
UNC là tờ mệnh lệnh trả tiền của người chủ tài khoản ra lệnh cho ngân
hàng trích tài khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân thụ hưởng. Như
vậy UNC xuất phát từ đơn vị mua. Đây là công cụ được sử dụng nhiều trong
thanh toán hàng hóa và lao vụ, thông thường sử dụng giữa các tổ chức kinh tế
có tài khoản riêng tại ngân hàng.
4.4. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu (UNT)
Là hình thức thanh toán mà tổ chức kinh tế ủy nhiệm cho ngân hàng
của mình thu hộ tiền hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ đã cung cấp. UNT thường
áp dụng giữa các tổ chức kinh tế có sự tin cập lẫn nhau vì đã giao hàng rồi
mới lập bộ UNT gửi cho ngân hàng. Trái với UNC, UNT được bắt đầu từ bên
đơn vị bán hàng hóa.
4.5. Thanh toán bằng thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ
thuật tin học ứng dụng trong ngân hàng. Thẻ thanh toán do ngân hàng phát
hành và bán cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hóa và dịch vụ,
thanh toán nợ hoặc lĩnh tiền mặt.
Thẻ thanh toán bao gồm thẻ từ và thẻ điện tử, hiện nay có 3 loại thẻ
chính:
13
• Thẻ thanh toán không phải ký quỹ : Tức là người sử dụng thẻ không
phải lưu ký tiền vào tài khoản riêng để đảm bảo thanh toán. Loại này căn cứ
vào số dư trên tài khoản tiền gửi của người chủ sở hữu thẻ mở tại ngân hàng
với hạn mức tối đa của thẻ
• Thẻ thanh toán phải ký quỹ tại ngân hàng : Người sử dụng phải ký
quỹ một số tiền nhất định để bảm bảo thanh toán. Số tiền đó là hạn mức của
thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ.
• Thẻ tín dụng : Là loại thẻ không phải ký quỹ, được áp dụng với khách
hàng được vay vốn ngân hàng. Mức tiền cho vay coi là hạn mức tín dụng và
được ghi vào bộ nhớ của thẻ.
Do những đặc tính trên nên thẻ thanh toán chỉ hay sử dụng trong thanh
toán tiêu dùng, còn trong hoạt động giao dịch thương mại thì không sử dụng
loại này.
III. THANH TOÁN VỚI NƯỚC NGOÀI
1. Định nghĩa
Là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ mua bán
hàng hóa hay cung ứng lao vụ… giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với
các tổ chức hay cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế
thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của những nước liên quan.
Có hai loại thanh toán quốc tế:
- Thanh toán phi mậu dịch: Thanh toán không liên quan đến hàng
hóa hay cung ứng lao vụ, không mang tính chất thương mại.
- Thanh toán mậu dịch: Phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các
dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế.
2. Nội dung
Thanh toán quốc tế trong kinh doanh chỉ xẩy ra những nội dung chính
sau:
2.1. Thanh toán với nhà cung cấp nước ngoài.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét