Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Bắc Mỹ

Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
nhất nhu cầu. Marketing quốc tế chính là chìa khoá giúp các doanh nghiệp
đạt đợc mục tiêu kinh doanh : đó là lợi nhuận và mở rộng thị trờng tiêu thụ.
Đặc trng của Marketing quốc tế (khác với Marketing quốc gia) chính
là sự di chuyển qua biên giới quốc gia của các sản phẩm (Object), sự khác
nhau về quốc tịch của các chủ thể mua bán (Subject), đồng tiền thanh toán là
ngoại tệ đối với ít nhất một trong các bên, hành trình phân phối kéo dài cả về
không gian và thời gian, vòng đời sản phẩm phải đợc kéo dài hơn so với trong
nớc và sự việc xây dựng kế hoạch chiến lợc phải đợc cụ thể hoá cho từng
quốc gia cụ thể. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động dù vơn ra thị trờng quốc tế nh-
ng Marketing quốc tế vẫn phải đảm bảo những nội dung cơ bản, đó là:
Thứ nhất, phân tích và dự báo thị trờng trên cơ sở phân tích nhu cầu
khách hàng, tình hình cạnh tranh, các trung gian phân phối, phân tích môi tr-
ờng chính trị, kinh tế, công nghệ.
Thứ hai, hoạch định chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp
với nhu cầu và đIều kiện thị trờng, tác động đến nhu cầu thị trờng bằng các
chính sách sản phẩm giá cả, phân phối, yểm trợ.
Marketing quốc tế cũng không có nghĩa là Marketing trong nớc trên
một phạm vi rộng hơn, vì Marketing trong nớc thì chỉ liên quan đến những
yếu tố môi trờng (không kiểm soát đợc) trong nớc, còn Marketing quốc tế
liên quan đến hàng loạt các yếu tố không kiểm soát đợc của nhiều nớc khác
nhau: môi trờng văn hoá, hệ thống tiền tệ, môi trờng chính trị, pháp luật.
Marketing quốc tế đợc xét trong phạm vi đề tài này sẽ đi sâu hơn vào
Marketing xuất khẩu: sản xuất những sản phẩm thích ứng theo những tiêu
chuẩn, những đòi hỏi của thị trờng nớc ngoài. Đó là trong giai đoạn hiện nay.
Còn với tầm nhìn chiến lợc xa hơn, Marketing quốc tế sẽ đi sâu vào những
mảng nghiệp vụ khác nhau, nghiên cứu dự đoán thị trờng, các nhà quản lí
Marketing vạch ra chiến lợc không những chỉ xuất khẩu mà còn nhiều loại
hình kinh doanh khác nh lập xí nghiệp liên doanh, trao đổi khoa học công
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 5 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
nghệ, đại lý, bán bản quyền, sản xuất và gia công. Với xu hớng quốc tế hoá
đời sống kinh tế nh hiện nay, các hoạt động Marketing quốc tế của doanh
nghiệp hớng tới giai đoạn " Marketing toàn cầu" mà thị trờng thế giới đợc
xem nh một thị trờng thống nhất, tơng đồng về văn hoá, sở thích, xu hớng
tiêu dùng ở thị trờng các nớc khác nhau. Đó chính là xu hớng phát triển
trong nội dung của Marketing quốc tế.
1.3 Chức năng cơ bản của Marketing quốc tế.
Thị trờng nớc ngoài và thị trờng trong nớc dĩ nhiên có sự khác biệt rất
lớn. Nếu các doanh nghiệp muốn sử dụng "chìa khoá" kinh doanh quốc tế thì
phải chú trọng những chức năng cơ bản sau của Marketing quốc tế.
Nghiên cứu thị trờng thế giới để nhận biết và dự báo một cách
chính xác biến động của thị trờng.
Xây dựng các chiến lợc Marketing quốc tế có hiệu quả trên cơ sở
đánh giá toàn diện các yếu tố khách quan về môi trờng và thị trờng
cũng nh các yếu tố chủ quan của bản thân doanh nghiệp.
Tổ chức thực hiện thành công các chiến lợc Marketing quốc tế nói
trên thông qua cơ chế quản lí điều hành năng động và hệ thống
thông tin nhanh nhạy.
Kiểm tra điều chỉnh kịp thời hoạt động kinh doanh sao cho giảm
thiểu những rủi ro và khai thác tối đa những cơ hội kinh doanh
nhằm đảm bảo có hiệu quả tối u.
2. Cạnh tranh quốc tế và những cơ hội, thách thức hiện nay
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 6 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
Trong cơ chế kinh tế thị trờng, ngời ta luôn luôn phải chú trọng đến ba
quy luật cơ bản: quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh,và quy luật cung cầu.
Trong đó quy luật cạnh tranh chính là động lực của quá trình phát triển. Thật
vậy, cạnh tranh là một trong những quy luật tất yếu của nền sản xuất hàng
hoá.Trên thực tế, sản xuất hàng hoá càng phát triển thì qui mô và mức độ
cạnh tranh càng cao. Đứng trên góc độ doanh nghiệp,cạnh tranh là quá trình
giành giật những lợi thế từ phía đối thủ về phía mình nhằm thực hiện thắng
lợi những mục tiêu của doanh nghiệp. Cạnh tranh là áp lực bên ngoài buộc
các nhà doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để nâng cao năng suất lao
động, đa ra thị trờng các sản phẩm có chất lợng và giá cả hợp lý, mở rộng
kinh doanh, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp. Cạnh tranh lành mạnh nh là một
động lực quan trọng để phát triển lực lợng sản xuất, tiến bộ khoa học kỹ
thuật, quản lí, là điều kiện để giáo dục tính năng động, nhạy bén và óc sáng
tạo của những nhà doanh nghiệp.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với nền kinh tế mở và xu hớng quốc
tế hoá, bất luận lĩnh vực, ngành hàng nào cũng phải đối mặt với quá trình
cạnh tranh gay gắt hơn. Bởi lẽ, thị trờng nào cũng có sự ngăn cách giữa
doanh nghiệp trong và ngoài nớc. Bản thân các doanh nghiệp cũng không bao
giờ tự bằng lòng với phần thị trờng mình chiếm lĩnh đợc (vì nh vậy có nghĩa
là chấp nhận bị tiêu diệt, mà điều này rất nguy hiểm), mà luôn tìm cách vơn
lên, mở rộng thị trờng. Để đạt đợc điều này, các doanh nghiệp phải có khả
năng cạnh tranh và phải cạnh tranh có hiệu quả. Vì vậy, xây dựng một chiến
lợc cạnh tranh với những công cụ, biện pháp thích hợp nhằm phát triển khả
năng cạnh tranh - là cơ sở đảm bảo giúp doanh nghiệp đứng vững và phát
triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trờng.
2.1. Tính chất khốc liệt của cạnh tranh quốc tế hiện nay
Bản thân câu : "Thơng trờng nh chiến trờng" - đã khẳng định tính khốc
liệt của cạnh tranh trên thơng trờng. Cạnh tranh trong thị trờng nội địa đã
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 7 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
khốc liệt, nhng cạnh tranh trên thị trờng thế giới còn khốc liệt và gay gắt hơn
rất nhiều lần. Nhng để giành giật lợi nhuận và thị trờng, các doanh nghiệp
phải chấp nhận cạnh tranh nh một quy luật tất yếu, phải ganh đua với nhau,
phải luôn không ngừng tiến bộ để giành u thế vợt trội so với đối thủ. Nếu nh
lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh thì cạnh tranh buộc họ phải tiến hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh một cách có hiệu quả nhất nhằm thu đợc lợi nhuận tối u.
Nói tới cạnh tranh là nói tới thị trờng, và ngợc lại nói tới thị trờng là
nói tới cạnh tranh. Từ thế kỷ 17, cạnh tranh kinh tế thị trờng vẫn đợc tiến
hành tập trung vào bốn trọng điểm mà ngày nay vẫn là vấn đề thời sự: bảo hộ
mậu dịch, chiếm lĩnh công nghệ, chinh phục lãnh thổ và chiến tranh giá cả.
Sau chiến tranh lạnh, cạnh tranh quốc tế trở nên quyết liệt hơn. Thế
giới từ hai cực đối đầu chuyển sang đa cực với đặc điểm là u thế của an ninh
quân sự nhờng chỗ cho an ninh kinh tế, xã hội và môi trờng. Các nớc đều u
tiên phát triển và cải thiện vị thế của mình trong trật tự kinh tế quốc tế mà
điều này chỉ có thể có đợc bằng sự thắng lợi trong cạnh tranh kinh tế quốc tế
trên thị trờng thế giới.
Cạnh tranh kinh tế quốc tế hiện nay khốc liệt hơn bởi nhiều lí do. Trớc
hết là sự suy yếu tơng đối của Mỹ (về kinh tế) so với sự nổi lên và độc lập t-
ơng đối của Nhật bản và EU cùng với các nớc NICS (Châu á). Hai là, quá
trình quốc tế hoá đang đi đến nấc thang toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới,
cung vợt quá cầu và sự cạnh tranh tất yếu sẽ trở lên khốc liệt hơn. Quá trình
này đợc đẩy nhanh từng giờ, từng phút chính từ sự bùng nổ của khoa học
công nghệ thông tin. Nền kinh tế số hoá kể từ đầu thập niên 90 với công
nghệ World Wide Web phát triển đã tác động đến mọi mặt của nền kinh tế xã
hội và đặc biệt là Marketing quốc tế. Nó không chỉ tạo ra cách thức giao tiếp,
trao đổi mới mà còn tạo ra các công ty theo mô hình và cách thức tiến hành
kinh doanh mới. Các sản phẩm giá trị gia tăng cũng nh hình thức tiêu dùng
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 8 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
mới. Ba là, tầm quan trọng của các cờng quốc kinh tế đang tăng lên, tầm
quan trọng của sức mạnh kinh tế đang đợc đẩy lên hàng đầu. Bốn là, từ sau
đại chiến thế giới thứ hai, những vòng đàm phán về thơng mại nối tiếp nhau
trong khuôn khổ GATT đã dẫn đến một sự giảm bớt đầy kinh ngạc về hàng
rào thuế quan và sự tăng trởng của nền thơng mại thế giới. Kể từ sau vòng
đàm phán Uruguay cùng với việc mở rộng dần điều kiện mậu dịch quốc tế
theo xu hớng tự do hoá thơng mại, đẩy những cuộc cạnh tranh quốc tế lên
những nấc thang cao hơn. Sân chơi "bằng phẳng" hơn và luật chơi càng
thoáng, rõ ràng hơn làm cho các cuộc cạnh tranh cũng càng trở nên quyết liệt
hơn.
2.2. Những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh quốc tế
Bất kỳ một doanh nghiệp nào,khi bớc ra khỏi thị trờng nội địa để tham
gia vào thị trờng thế giới, đều không thể phủ nhận đợc sự tồn tại cũng nh tính
khốc liệt của cạnh tranh quốc tế. Vậy thì, muốn tồn tại và đứng vững để tham
gia một "cuộc chơi" các doanh nghiệp buộc phải tìm hiểu luật chơi, mà trớc
tiên phải tìm hiểu đợc tính chất, những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh
quốc tế, để từ đó chuẩn bị cho mình vũ khí cạnh tranh có hiệu quả nhất.
Nói về khả năng cạnh tranh, hay năng lực cạnh tranh, thuật ngữ này đ-
ợc sử dụng rất rộng rãi trong các phơng tiện thông tin đại chúng, trong sách
báo chuyên môn, ngay cả trong giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh
tế, các nhà kinh doanh. Song cho đến nay vẫn cha có sự nhất trí cao trong
giới chuyên môn về khái niệm và cách thức đo lờng, phân tích năng lực cạnh
tranh cả ở cấp doanh nghiệp hay phạim vi quốc tế. Đối với một số ngời " khả
năng cạnh tranh" chỉ có ý nghĩa rất hẹp, đợc thể hiện qua các chỉ số về tỷ giá
thực trong mối quan hệ thơng mại. Trong khi đó, thực tế khái niệm khả năng
còn bao gồm khả năng sản xuất hàng hoá dịch vụ đáp ứng đòi hỏi cạnh tranh
quốc tế và yêu cầu đảm bảo mức sống cao cho ngời dân trong nớc. Theo
Micheal Porter (Đại học Havard) trong cuốn "lợi thế cạnh tranh của các quốc
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 9 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
gia" (1990): yếu tố quyết định cạnh tranh chính là năng suất. Còn theo
Krugman (1994): "khả năng cạnh tranh" chỉ phù hợp ở mức độ công ty, nếu
công ty không đủ khả năng bù đắp chi phí thì phải từ bỏ kinh doanh. Còn
theo "Quan điểm quản trị chiến lợc" cũng của Micheal Porter thì yếu tố quyết
định khẳ năng cạnh tranh dù trong hay ngoài nớc cũng đợc quy định bởi 5
yếu tố, đó là:
Số lợng các công ty mới tham gia vào một ngành (đe doạ cạnh
tranh của các doanh nghiệp sẽ gia nhập ngành)
Sự có mặt (hay thiếu vắng) những sản phẩm thay thế.
Vị thế của nhà cung ứng.
Vị thế của bên tiếp nhận (hay sự trả giá của ngời mua)
áp lực cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong
ngành.
Đây là 5 yếu tố quyết định khẳ năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trờng nhng những yếu tố này mang tính chất "ngoại vi" - hay nói cách
khác, đó là những áp lực cạnh tranh từ bên ngoài đối với khả năng cạnh tranh
của một sản phẩm. Còn nếu xét về bản thân nội tại năng lực cạnh tranh quốc
tế của một sản phẩm, thì điều trớc hết chính là lợi thế so sánh của sản phẩm
đó. Lợi thế so sánh của sản phẩm ở đây chủ yếu đợc nhắc đến là lợi thế so
sánh về chi phí sản xuất (nhân công, nguyên vật liệu ) và năng suất. Bởi lẽ
các yếu tố chi phí sản xuất thấp thờng đợc coi là điều kiện cơ bản của lợi thế
cạnh tranh. Nếu xét trên phạm vi quốc tế, lợi thế so sánh còn bao gồm cả lợi
thế về các điều kiện thuận lợi về giao thông buôn bán quốc tế, cũng nh các
biện pháp, chính sách của Nhà nớc khuyến khích sản xuất, xuất khẩu sản
phẩm, kể cả lợi thế về các chi phí bán hàng, xúc tiến yểm trợ, thuế quan v.v .
Nói chung, yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh quốc tế hay cạnh
tranh trong nớc thờng bao gồm cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Đối
với những yếu tố khách quan tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của doanh
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 10 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
nghiệp cho nên bản thân doanh nghiệp cần phải tìm hiểu và nắm bắt nhanh
nhạy để khai thác có hiệu quả thời cơ tốt nhất. Còn với những yếu tố chủ
quan thuộc phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp (nh tài chính, nhân sự, công
nghệ ) đây mới là điều quan trọng để chính bản thân mỗi doanh nghiệp tự
đánh giá và lợng sức mình trong quyết định vơn ra thị trờng thế giới. Tất
nhiên, để thắng thế trong cạnh tranh kinh nghiệm thực tế thờng cho thấy cần
phải hội tụ đủ "Thiên thời, địa lợi, nhân hoà". Tuy nhiên,đối với các doanh
nghiệp điều quan trọng là phải biết và hiểu rõ khi nào " thiên thời", khi nào
"địa lợi" và "nhân hoà", để đa ra chiến lợc thích hợp giành thắng lợi trên thị
trờng, đặc biệt là thị trờng quốc tế.
2.3. Cơ hội và thách thức chủ yếu trong cạnh tranh quốc tế hiện nay.
Trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt hiện nay, quan điểm "biết ngời
biết ta" (tri kỉ tri bỉ) lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi có hiểu rõ thị tr-
ờng mới nắm bắt đợc cơ hội cũng nh đối phó đợc với những thách thức do
cạnh tranh đem lại, giúp cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển đợc. Vậy
trong giai đoạn hiện nay, những cơ hội và thách thức chủ yếu của cạnh tranh
quốc tế là gì? Có giải đáp đợc vấn đề này, doanh nghiệp mới có thể nâng cao
đợc sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình đợc. Tuy nhiên nói đến cơ hội và
thách thức, hai diều này thờng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bởi lẽ
trong cơ hội có thách thức và trong thách thức có cơ hội. Cơ hội cho mình nh-
ng cũng đồng thời là cơ hội cho đối thủ cạnh tranh của mình, nh vậy cơ hội
cũng chính là thách thức khi cạnh tranh với đối thủ của mình trên thơng tr-
ờng. Thế nhng xét một cách tổng thể môi trờng cạnh tranh quốc tế hiện nay,
có các vấn đề cần chú ý:
Tham gia vào môi trờng cạnh tranh quốc tế sẽ tạo cơ hội chung cho
nền kinh tế, trong đó có ngành dệt may: Các nớc tham gia đợc thực sự hoà
nhập vào quĩ đạo chung của nền kinh tế thế giới, tiếp cận một môi trờng th-
ơng mại quy mô toàn cầu, có hệ thống, tiếp cận với các qui tắc pháp lí công
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 11 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
bằng và hiệu quả hơn so với việc giải quyết tranh chấp thơng mại nhằm bảo
vệ lợi ích quốc gia, đồng thời giúp ta rèn luyện, đào tạo, nâng cao năng lực và
kinh nghiệm trong công cuộc hội nhập.
Tham gia vào môi trờng cạnh tranh quốc tế cũng có nghĩa là đợc tham
gia vào "sân chơi chung", thị trờng xuất nhập khẩu đợc mở rộng và đợc hởng
các quy tắc đãi ngộ, giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo điều kiện
cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực (trong đó có dệt may) thâm nhập kịp thời
vào các thị trờngkhó tính. Bên cạnh đó, cơ hội "cọ xát" trực tiếp giữa các
hàng Việt nam với hàng hoá các nớc khác sẽ tạo cơ hội nâng cao sức cạnh
tranh của hàng Việt nam, thúc đẩy sản phẩm trong nớc cũng nh duy trì tốc độ
tăng trởng bền vững của hàng dệt may Việt nam trong nhiều năm tới.
Tuy nhiên, việc tham gia vào môi trờng cạnh tranh quốc tế chắc chắn
sẽ là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ
về trình độ công nghệ cũng nh kinh nghiệm thơng trờng. Thực tế cho thấy,
thách thức lớn nhất chính là nguy cơ tụt hậu trong điều kiện cạnh tranh nh vũ
bão hiện nay.
Đó là nét bao trùm chung của nền kinh tế. Nếu xét về mặt hàng dệt
may nói riêng thì bản thân Việt nam sẽ vấp phải sự cạnh tranh từ chính các n-
ớc trong khu vực Asean khi giá thành sản xuất của ta còn cao, còn công nghệ
và chiến lợc thông tin cũng đi sau các nớc này rất nhiều. Mặt khác, việc
chúng ta đợc hởng các qui chế đãi ngộ nhng theo nguyên tắc "có đi có lại"
chúng ta cũng phải cho hàng hoá các nớc vào nớc mình dễ dàng, do đó bản
thân thị trờng dệt may trong nớc sẽ bị tấn công. Rõ ràng với "lực" còn cha
mạnh trong cạnh tranh quốc tế nên thách thức sẽ mang tính "sống còn" thực
sự đối với các sản phẩm Việt nam tại vòng đua quyết liệt này. Tuy nhiên khi
xem xét năng lực cạnh tranh của một ngành hàng trên một thị trờng thì nhất
thiết phải đặt nó trên cơ sở của nền kinh tế quốc gia. Theo xếp hạng về năng
lực cạnh tranh của các nớc trên thế giới trong Báo cáo kinh tế toàn cầu của
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 12 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
Diễn đàn kinh tế thế giới WEF thì năm 1997, Việt Nam đứng thứ 49/53, năm
1998 thứ 39/53 năm 1999 thứ 48/59 và năm 2000 đứng thứ 53/59 [13]. Nh
vậy năng lực cạnh tranh của Việt nam vừa rất thấp lại vừa lên xuống thất th-
ờng. Chính vì vậy việc tìm hiểu năng lực cạnh tranh để nâng cao đợc sức
cạnh tranh của mình càng là vấn đề bức xúc cho không chỉ ngành dệt may
mà ở tất cả các ngành hàng của Việt Nam.
II. Tổng quan về thị trờng hàng dệt may Bắc Mỹ dới
góc độ Marketing quốc tế
Đứng dới góc độ Marketing quốc tế, việc phát triển sản phẩm luôn
phải xuất phát từ nhu cầu của thị trờng. Chính vì vậy việc nghiên cứu thị tr-
ờng mà xuất khẩu dệt may Việt nam đang hớng tới - thị trờng Bắc Mỹ là một
việc hết sức cần thiết mà chúng ta cần quan tâm. Song trớc hết, việc xem xét
một thị trờng cũng cần phải đợc đặt trong bối cảnh chung của thị trờng thế
giới, để chúng ta có một cái nhìn tổng quan trớc khi đi vào xem xét cụ thể.
1. Khái quát về thị trờng hàng dệt may thế giới và các
khu vực chủ yếu.
1.1. Đặc điểm chung.
Trong xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế hiện nay, thị trờng quốc tế càng
trở nên thống nhất hơn và ranh giới giữa các thị trờng nội địa ngày càng mờ
nhạt hơn. Trên thực tế, trong một vài thập kỉ qua, khối lợng thơng mại quốc
tế đã tăng lên đáng kể cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Các khối kinh tế, các
liên minh kinh tế đã đợc hình thành ở hầu hết các châu lục mà điển hình là
EU, ASEAN, NAFTA Nhìn chung các khối kinh tế đều có mục đích giải
quyết vấn đề sống còn của thơng mại quốc tế: đó là vấn đề thị trờng, thực
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 13 -
Marketing quốc tế và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may Việt Nam vào thị trờng Bắc Mỹ
hiện tự do hoá thơng mại và đầu t. Mục tiêu này sẽ thực hiện đợc thông qua
việc giảm dần từng bớc, tiến tới triệt tiêu hàng rào thuế quan và phi thuế
quan, đồng thời hợp tác khoa học kỹ thuật nhằm hỗ trợ nhau phát triển sản
xuất mở rộng thị trờng. Nhờ đó mà trong những năm vừa qua buôn bán nội
khối giữa các thành viên tăng rất nhanh. Các thành viên cũng tranh thủ đợc
lợi thế tập thể của các khối kinh tế để nâng cao vai trò và sức cạnh tranh của
mình trong quan hệ quốc tế.
Hàng dệt may là một trong những nhóm hàng hoá chủ yếu tham gia
vào mậu dịch quốc tế. Hàng dệt may có những đặc trng riêng biệt ảnh hởng
nhiều đến sản xuất và trao đổi nh: đối tợng tiêu dùng đa dạng theo văn hoá,
phong tục, khu vực địa lí. Sản phẩm mang tính thời trang cao, thay đổi mẫu
mã liên tục, nhãn hiệu sản phẩm đợc chú trọng và yếu tố thời vụ cũng là đặc
trng nổi bật của hàng dệt may.
Nhìn tổng quan về thị trờng hàng dệt may thế giới trong 4 năm gần
đây, chúng ta thấy kim ngạch hàng dệt may thế giới đạt khoảng 153 tỉ đô la
mỗi năm về hàng dệt, 186 tỉ đô la về hàng may, tổng cả hàng dệt và hàng
may chiếm bình quân khoảng 6% tổng kim ngạch mậu dịch trên toàn thế
giới. Trị giá quốc tế hàng dệt may có nhiều sự thay đổi qua các năm.
Bảng 1-Tình hình xuất khẩu hàng dệt, may qua các năm (1997 2001)
Đơn vị : tỷ USD
Năm 1997 1998 1999 2000 2001
Hàng dệt 155 151 148 157 159
Hàng may 177 180 186 199 201
Tỷ trọng (*) 6,2% 6,3% 6,1% 6,0% 6,1%
(*): Tỷ trọng của hàng dệt may so với tổng kim ngạch mậu dịch trên
toàn thế giới.
Nguồn : International Trade Statistics (1998,1999,2000,2001)
Đó là nét chung về tổng giá trị kim ngạch. Còn xét theo khu vực,
chúng ta thấy sản xuất và xuất khẩu chủ yếu hàng dệt may tập trung phần lớn
Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét