lịch Việt Nam và Pháp lệnh du lịch Việt Nam đã nêu rõ: "Doanh nghiệp lữ hành
nội địa có trách nhiệm xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chơng trình du lịch
nội địa, nhận uỷ thác để thực hiện dịch vụ chơng trình du lịch cho khách nớc
ngoài đã đợc các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đa vào Việt Nam". Còn "Doanh
nghiệp lữ hành quốc tế có trách nhiệm xây dựng, bán các chơng trình du lịch trọn
gói hoặc từng phần theo yêu cầu của khách để trực tiếp thu hút khách đến Việt
Nam và đa công dân Việt Nam, ngời nớc ngoài c trú ở Việt Nam đi du lịch nớc
ngoài, thực hiện các chơng trình du lịch đã bán hoặc ký hợp đồng uỷ thác từng
phần, trọn gói cho lữ hành nội địa".
I.3 Cơ cấu tổ chức của các Công ty lữ hành.
Các Công ty lữ hành khác nhau có cơ cấu tổ chức khác nhau bởi cơ cấu tổ
chức phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh phạm vi, lĩnh vực hoạt động hay cơ cấu tổ
chức truyền thống của Công ty. Hiện nay các Công ty lữ hành ở Việt Nam có quy
mô trung bình phù hợp với điều kiện Việt Nam đợc thể hiện bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Công ty lữ hành.
5
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Bộ phận du lịch
Bộ phận hỗ trợ
phát triển
Bộ phận tổng hợp
Điều
hành
Tổ chức
điều
hành
Thị trư
ờng
Hướng
dẫn
Các chi
nhánh
Đội
xe
Khách
sạn
Kinh
doanh
khác
Tài
chính
kế toán
Bộ phận du lịch là "xơng sống" trong toàn bộ hoạt động của Công ty lữ
hành, bao gồm: phòng điều hành, phòng hớng dẫn, phòng thị trờng. Mỗi phòng
có chức năng chuyên ngành riêng tạo thành thể thống nhất trong quá trình từ tạo
ra các sản phẩm của công ty, đa ra bán trên thị trờng đến việc thực hiện các chơng
trình.
-Phòng điều hành: Là bộ phận sản xuất của Công ty du lịch lữ hành tiến
hành các hoạt động nhằm đảm bảo thựch hiện các chơng trình du lịch của Công
ty. Phòng điều hành có nhiệm vụ sau:
+Là đầu mối triển khai toàn bộ các công việc điều hành các chơng trình
du lịch cung cấp các dịch vụ du lịch trên cơ sở các kế hoạch do phòng thị trờng
gửi tới.
+Lập kế hoạch và triển khai các công việc liên quan thực hiện các chơng
trình du lịch trọn gói.
+Thiết lập và duy trì mối quan hệ với các cơ quan hữu quan, ký hợp đồng
với các nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch, lựa chọn các nhà cung cấp có
sản phẩm uy tín.
+Theo dõi các quá trình thực hiện các chơng trình du lịch, phối hợp với các
bộ phận kế toán thực hiện các hoạt động thanh toán, nhanh chóng xử lý các sự cố
xảy ra trong quá trình thực hiện.
-Phòng thị trờng
+Tổ chức tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trờng, tuyên truyền quảng
cáo thu hút khách.
+Phối hợp với phòng điều hành xây dựng các chơng trình phù hợp với các
yêu cầu của khách và chủ động đa ra ý kiến.
+Ký kết hợp đồng với các hãng các Công ty du lịch nớc ngoài và tổ chức
du lịch trong nớc để khai thác nguồn khách quốc tế và nội địa.
+Duy trì các mối quan hệ của Công ty với nguồn khách.
+Đề xuất và xây dựng các chi nhánh đại diện.
+Đảm bảo hoạt động thông tin giữa Công ty du lịch lữ hành và các nguồn
khách, thông báo cho các bộ phận liên quan về kế hoạch đón tiếp đoàn khách và
nội dung hoạt động đón tiếp.
6
-Phòng hớng dẫn: đợc tổ chức theo nhóm ngôn ngữ. Đội ngũ lao động là
các hớng dẫn viên trực tiếp cùng khách hàng thực hiện các chơng trình du lịch.
Các công việc cụ thể bao gồm:
+Căn cứ vào kế hoạch khách, tổ chức điều động bố trí hớng dẫn viên cho
các chơng trình du lịch.
+Phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong công ty để tiến hành công
việc một cách có hiệu quả nhất.
+Tiến hành các hoạt động quảng cáo tiếp thị thông qua hớng dẫn.
II.Hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế.
II.1 Hệ thống sản phẩm của Công ty lữ hành.
Sự đa dạng trong hoạt động lữ hành du lịch là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới
sự phong phú , đa dạng của các sản phẩm cung ứng của Công ty lữ hành. Căn cứ
vào tính chất và nội dung, có thể chia các sản phẩm của các Công ty lữ hành
thành 3 nhóm cơ bản:
1. Các dịch vụ trung gian
Sản phẩm dịch vụ trung gian chủ yếu do các đại lý du lịch cung cấp. Trong
hoạt động này, các đại lý du thực thực hiện các hoạt động bán sản phẩm của các
nhà sản xuất tới khách du lịch. Các đại lý du lịch không tổ chức sản xuất các sản
phẩm của bản thân đại lý, mà chỉ hoạt động nh một đại lý bán
hoặc một điểm bán sản phẩm của các nhà sản xuất du lịch. Các dịch vụ trung gian
chủ yếu bao gồm:
-Đăng ký chỗ và đặt vé máy bay.
-Đăng ký chỗ và đặt vé trên các loại phơng tiện khác nh tàu thuỷ, đờng sắt
và ôtô
-Môi giới cho thuê xe ôtô.
-Môi giới và bán bảo hiểm.
-Đăng ký đặt chỗ và bán các chơng trình du lịch.
-Đăng ký và đặt chỗ trong khách sạn.
7
-Các dịch vụ môi giới trung gian khác.
2. Các chơng trình du lịch trọn gói.
Hoạt động du lịch trọn gói mang tính chất đặc trng cho hoạt động lữ hành
du lịch. Các Công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất riêng lẻ
thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với một mức giá gộp.
Có nhiều tiêu thức để phân loại các chơng trình du lịch nh: chơng trình nội địa và
quốc tế, các chơng trình du lịch dài ngày và ngắn ngày, các chơng trình tham
quan văn hoá và giải trí. Khi tổ chức các chơng trình du lịch trọn gói, các Công ty
lữ hành có trách nhiệm đối với khách du lịch cũng nh các nhà sản xuất ở một mức
độ cao hơn nhiều so với các hoạt động trung gian.
3. Các hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành tổng hợp.
Trong quá trình phát triển, các Công ty lữ hành có thể mở rộng phạm vi
hoạt động của mình trở thành những ngời sản xuất trực tiếp ra các sản phẩm du
lịch. Vì lẽ đó các Công ty lữ hành lớn trên thế giới hoạt động trong hầu hết các
lĩnh vực có liên quan đến du lịch.
-Kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
-Kinh doanh các dịch vụ vui chơi, giải trí.
-Kinh doanh dịch vụ vận chuyển du lịch: hàng không, đờng thuỷ.
-Các dịch vụ ngân hàng phục vụ khách du lịch (điển hình là American
Express).
Các dịch vụ này thờng là kết quả của sự hợp tác, liên kết trong du lịch.
Trong tơng lai, hoạt động lữ hành du lịch càng phát triển, hệ thống sản phẩm của
các công ty lữ hành sẽ càng phong phú.
II.2 Hoạt động kinh doanh lữ hành của các Công ty lữ hành.
Các Công ty lữ hành xuất hiện nhằm khắc phục và giải quyết sự mất cân
đối giữa cung và cầu du lịch, là chiếc cầu nối giữa du khách, đặc biệt là du khách
8
quốc tế, và các điểm du lịch, các cơ sở dịch vụ trong ngành du lịch và các đơn vị
dịch vụ khác.
Để thực hiện chức năng đó, các Công ty lữ hành nội địa và quốc tế tiến
hành hoạt động trên 4 mảng chủ yếu sau:
1.Hoạt động nghiên cứu thị tròng.
Thị trờng luôn là mối quan tâm hàng đầu của tổ chức kinh doanh. Bởi lẽ,
muốn tồn tại và phát triển thì tổ chức đó phải có một vị trí nhất định trên thị tr-
ờng. Để xây dựng một chiến lợc kinh doanh cho phù hợp trong một thời kỳ nhất
định, tất yếu phải có sự nghiên cứu thị trờng.
Trong mảng hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế công ty chia thị trờng
thành hai lĩnh vực là thị trờng quốc tế chủ động và thị trờng quốc tế bị động.
Trên cơ sở xác định thị trờng mục tiêu và vị trí u tiên của từng thị trờng,
công ty phải nghiên cứu kĩ lỡng từng thị tròng. Có hai phơng pháp mà Công ty sử
dụng nghiên cứu là: phơng pháp nghiên cứu tài liệu và phơng pháp điều tra trực
tiếp.
Đối với phơng pháp nghiên cứu tài liệu điều quan trọng là phải tìm kiếm
nguồn tài liệu đặc biệt là các thông tin về nhu cầu, sở thích tâm lý, trình độ văn
hoá xã hội
Còn phơng pháp điều tra trực tiếp tức là phải đi khảo sát thị trờng, ký kết
hợp đồng, thăm dò thị trờng hoặc tổ chức nói chuyện tiếp xúc với khách hàng.
Tóm lại, hoạt động nghiên cứu thị tròng là bớc đầu tiên và quan trọng nhất
trong việc công ty đề ra những mục tiêu, phơng hớng chiến lợc của công ty.
2.Hoạt động xây dựng chơng trình du lịch trọn gói.
9
Mỗi hoạt động sản xuất đều tạo ra sản phẩm đặc trng. Trong hoạt động lữ
hành quốc tế thì chơng trình du lịch là sản phẩm đặc trng. Sản phẩm của lữ hành
quốc tế đợc cấu thành từ ba yếu tố: kỹ thuật, kinh tế, pháp luật.
Yếu tố có tính chất kỹ thuật (hành trình tour, phơng tiện vận chuyển, địa
điểm cơ sở lu trú, độ dài lu trú của khách tại một điểm, ngôn ngữ đợc sử dụng
trong hành trình tour đó ). Các yếu tố có nội dung kinh tế (giá tour dựa trên cơ
sở các chi phí bỏ ra để tạo thành tour đó cộng với tỷ lệ hoa hồng Công ty lữ hành
phải trả khi bán buôn sản phẩm hay uỷ thác việc tiêu thụ sản phẩm của mình cho
các hãng lữ hành khác cộng với tỷ lệ lợi nhuận). Các yếu tố mang tính pháp luật
nh hợp đồng của Công ty lữ hành với khách, các nhà cung cấp dịch vụ du lịch
Do vậy, chơng trình du lịch khi đợc xây dựng phải đảm bảo những yêu cầu
chủ yếu nh tính khả thi, phù hợp với nhu cầu thị trờng, đáp ứng đợc mục tiêu của
Công ty lữ hành, có sức lôi cuốn thúc đẩy khách du lịch ra quyết định mua chơng
trình.
Để đạt đợc những yêu cầu đó, các chơng trình du lịch đợc xây dựng theo
quy trình, gồm các bớc sau:
* Nghiên cứu nhu cầu của thị trờng (khách du lịch).
* Nghiên cứu khả năng đáp ứng: tài nguyên du lịch, các nhà cung cấp du
lịch, mức độ cạnh tranh trên thị trờng du lịch.
*Xác định khả năng và vị trí của Công ty lữ hành.
*Xây dựng mục đích, ý tởng của chơng trình du lịch.
*Giới hạn quỹ thời gian và mức giá tối đa.
*Xây dựng tuyến hành trình cơ bản bao gồm những điểm du lịch chủ yếu
bắt buộc của chơng trình.
*Xây dựng phơng án vận chuyển.
*Xây dựng phơng án lu trú, ăn uống.
*Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung cho hành trình. Chi tiết hoá chơng trình
với những hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí
*Xác định giá thành và giá bán của chơng trình du lịch.
*Xây dựng những chơng trình của du lịch.
10
Các ph ơng pháp định giá cho một ch ơng trình du lịch
Giá thành của chơng trình bao gồm toàn bộ những chi phí thực sự mà Công
ty lữ hành phải chi trả để tiến hành thực hiện các chơng trình du lịch
- Phơng pháp tính giá thành theo khoản mục chi phí bằng cách nhóm toàn
bộ các chi phí phát sinh vaò hai khoản mục chi phí cố định và chi phí biến đổi để
xác định giá thành.
+ Chi phí cố định là chi phí tính cho cả đoàn khách hay đó là mức chi phí
cho các hàng hoá và dịch vụ mà mức giá của chúng không thay đổi một cách tơng
đối so với lợng khách trong đoàn. Trong một chơng trình du lịch, chi phí cố định
bao gồm: chi phí vận chuyển, chi phí hớng dẫn, chi phí thuê bao và chi phí cố
định khác.
+ Chi phí biến đổi là chi phí tính cho từng đoàn khách du lịch hay đó là
mức chi phí gắn liền trực tiếp tới sự tiêu dùng riêng biệt của từng du khách. Khi
tính giá thành một chơng trình du lịch, chi phí biến đổi thờng bao gồm: chi phí về
lu trữ, chi phí ăn, chi phí bảo hiểm, chi phí tham quan, chi phí visa- hộ chiếu và
chi phí biến đổi khác.
Giá thành cho một du khách đợc tính theo công thức:
Z = b +
A
N
Giá thành cho cả đoàn khách:
Z = Nìb + A
Trong đó:
N: Số thành viên trong đoàn.
A: Tổng chi phí cố định tính cho cả đoàn khách.
b: Tổng chi phí biến đổi tính cho một khách.
+ Phơng pháp xác định giá thành theo lịch trình.
11
Về cơ bản phơng pháp này không có gì khác biệt xo với phơng pháp trên,
tuy nhiên các chi phí ở đây đợc liệt kê cụ thể và chi tiết lần lợt theo từng ngày của
lịch trình.
Sau khi đã xác định giá thành của một chơng trình du lịch thì công việc
tiếp theo là xác định giá bán cho chơng trình du lịch đó.
Giá bán của chơng trình du lịch phụ thuộc vào các yếu tố: mức giá phổ
biến của chơng trình du lịch cùng lọại trên thị trờng, giá thành của chơng trình.
Khi đã xác định đợc các yếu tố trên ngời ta thờng dùng các phơng pháp sau
để tính giá bán, các khoản chi phí và lợi nhuận.
+ Xác định giá bán trên cơ sở xác định hệ số theo chi phí theo công
thức:
G = Z + P + C
b
+ C
k
+ T
= Z + Z + p + Z ì b + Z ì k + Z ì T
= Z (1 + P
+ b + k + T )
Trong đó:
P: Khoản lợi nhuận dành cho Công ty lữ hành
C
b
: Chi phí bán, bao gồm hoa hồng cho đại lý, chi phí khuếch trơng
C
k
: Các chi phí khác nh chi phí quản lý, chi phí dự phòng
T : Các khoản thuế
: Hệ số tính theo %; p; b; k; t là hệ số các khoản lợi nhuận,
chi phí bán, chi phí khác, thuế tính theo giá thành.
: Tổng các hệ số trên
+ Xác định các khoản chi phí, lợi nhuận thuế trên cơ sở giá bán theo công
thức:
G =
Z
1- p-b-k-t
= Z
1-(p+b+k+t)
= Z
1-
12
Trong đó:
: Hệ số tính theo %; p, b, k, t là hệ số các khoản lợi nhuận chi phí
bán, chi phí khác và tính thuế trên giá bán
; Tổng các hệ số trên
+ Phơng pháp hỗn hợp:
+
=
t
Cb
p
ck
Z
G
1
13
3.Tổ chức bán và thực hiện các chơng trình du lịch.
Khi đã xây dựng xong các chơng trình du lịch thì Công ty tiến hành bán
các chơng trình du lịch. Để có thể bán đợc các chơng trình du lịch thì Công ty
phải tìm kiếm, khai thác các nguồn khách tiến hành hoạt động quảng cáo và thực
hiện các hoạt động Marketing khác.
Nguồn khách là nhân tố sống còn, vì đây chính là đối tợng mua và tham
gia vào các chơng trình du lịch do Công ty chào bán. Nguồn khách là vấn đề hết
sức quan trọng đối với một Công ty lữ hành. Nguồn khách chiếm tỷ trọng lớn tại
thị trờng du lịch Vệt Nam là nguồn khách từ các Công ty lữ hành gửi khách và
nguồn khách tự đến với các Công ty lữ hành của Việt Nam.
Để thu hút khách Công ty phải tổ chức quảng cáo sản phẩm của mình
băng nhiều phơng tiện khác nhau nh thông qua tập gấp, tập sách mỏng, hội chợ
triển lãm, trên các phơng tiện thông tin đại chúng hay bằng các tuyến du lịch làm
quen. Công ty còn phải tiến hành các hoạt động Marketing khác nh: nghiên cứu
thị trờng, nghiên cứu khả năng mở rộng thị trờng và kí kết các hợp đồng trao đổi
với khách, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu đánh gia các sản phẩm.
Bán các chơng trình du lịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Các Công ty
lữ hành tiêu thụ sản phẩm của mình thông qua các kênh phân phối sản phẩm du
lịch.Kênh phân phối sản phẩm du lịch là hệ thống các dịch vụ nhằm tạo ra các
điểm bán hoặc tiếp cận sản phẩm thuận tiện cho khách du lịch ở ngoài địa điểm
diễn ra quá trình sản xuất và tiêu dùng. Việc lựa chọn các kênh phân phối phù
hợp có ý nghĩa rất lớn vì nó sẽ giúp Công ty chuyển các sản phẩm của mình cho
ngời tiêu dùng một cách hiệu quả nhất. Trên thực tế do phụ thuộc vào nhiều yếu
tố nh sản phẩm, khả năng và điều kiện của Công ty, điều kiện của thị trờng, thói
quen tiêu dùng của khách mà Công ty lựa chọn kênh phân phối dài hay nhắn,
trực tiếp hay gián tiếp. Kênh tiêu thụ trực tiếp thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa
Công ty lữ hành với khách hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm. Trong kênh tiêu thụ
gián tiếp Công ty lữ hành không trực tiếp tiêu thụ sản phẩm mà uỷ nhiệm cho các
đại lý của mình hoặc các Công ty lữ hành gửi khách bán sản phẩm. Hệ thống các
kênh phân phối đó đợc thể hiện bằng sơ đồ sau:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét