Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần Sông Đà 1 .DOC

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
- Vốn là hàng hoá đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở
hữu nó. Khi mua các hàng hóa khác quyền sử dụng và quyền sở hữu không tách rời nhau
nhưng với vốn ta có thể vay mượn khi đó chỉ có quyền sử dung mà không có quyền sở hữu.
Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: Nó không bị khấu hao trong quá trình sử
dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó, có khả năng sinh lời. Chính vì
vậy, giá trị của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của của bất kỳ doanh nghiệp nào. Vì vậy
nhiệm vụ đặt ra là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng
dư tối đa, đủ chi trả cho chi phí đã bỏ ra mua nó nhằm đạt hiệu quả lớn nhất.
Thứ hai: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô
chủ. Tuỳ theo hình thức đầu tư mà người sở hữu và người sử dụng vốn có thể đồng nhất hay
độc lập. Song, trường hợp nào đi chăng nữa, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo
quyền lợi và quyền sở hữu vốn của mình.
Thứ ba: Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời. Một đồng hôm nay có giá trị hơn giá
trị đồng tiền ngày hôm sau, do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như:
đầu tư, rủi ro, lạm phát, chính trị
Thứ tư: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát
huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, một doanh nghiệp muốn khởi sự thì phải có một lượng vốn pháp định đủ lớn.
Muốn kinh doanh tốt thì doanh nghiệp phải tìm cách gom tiền thành món để có thể đầu tư
vào phương án sản xuất của mình. Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp quản lý vốn
kinh doanh và sử dụng vốn kinh doanh có hiêu quả là nội dung quan trọng nhất, có tính chất
quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Do vậy, để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta vần phải nắm được vốn có những loại nào, đặc biệt vận
động của nó ra sao
1.1.2 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Vốn là một yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là điều kiện vật
chất không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy,
vốn kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò quyết định trong thành lập hoạt động và phát
triển cuả doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện để
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
sắp xếp doanh nghiệp vào quy mô như : nhỏ, trung bình và cũng là một trong những điều
kiện sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở
rộng và phát triển thị trường. Vốn là điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh, nó
quyết định sự ổn định liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh.
Vốn kinh doanh thực chất là nguồn của cải của xã hội tích luỹ tập trung lại. Nó chỉ là
một điều kiện, một nguồn khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên nó chỉ
phát huy được tác dụng khi biết sử dụng quản lý chúng một cách đúng hướng hợp lý tiết
kiệm và có hiệu quả.
1.1.3 Phân loại vốn
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hay hoạt động
bất cứ ngành nghề gì, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định. Số vốn kinh
doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp phải sử dụng các loại vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả lương
nhân viên Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử
dụng vốn, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp. Cần phải tiến hành
phân loại vốn, phân loại vốn có tác dụng kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại
chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh. Có nhiều cách phân
loại vốn tùy vào mục đích nghiên cứu mà ta có thể phân loại vốn theo tiêu thức sau:
1.1.3.1 - Phân loại vốn theo nguồn hình thành :
Theo cách phân loại này, vốn bao gồm: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Nợ phải trả: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp
có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như ngân hàng, các pháp nhân
kinh tế khác, phải trả cho người bán, phải trả nhà nước, Ngoài ra, còn có khoản vốn chiếm
dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng.


Vốn chủ sở hữu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp, tức là số vốn cần
thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của nhà nước giao. Có ba nguồn cơ bản tạo nên vốn
chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là:
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
- Vốn kinh doanh: Gồm vốn góp (Nhà nước, các bên tham gia liên doanh, cổ đông,
các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chưa phân phối của kết quả sản xuất kinh doanh.
- Các quỹ của doanh nghiệp: Hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh như: quỹ phát
triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi.
- Chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là tài sản cố định): Khi nhà nước cho phép
hoặc các thành viên quyết định.
Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư XDCB và kinh phí
sự nghiệp (khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, phát không hoàn lại sao cho doanh
nghiệp chi tiêu cho mục đích kinh tế lâu dài, cơ bản, mục đích chính trị xã hội ).
1.1.3.2- Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguốn vốn của doanh
nghiệp bao gồm:

Nguồn vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn của
doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn được dùng để tài trợ cho các hoạt động đầu tư mang tính
dài hạn như đầu tư vào tài sản cố định. Trong đó:
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc phải trả sau một kỳ kinh doanh,
không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay.

Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) đáp ứng
nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh tron quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng, người mua vừa
trả tiền
Như vậy, ta có:
TS = TSNH + TSCĐ
= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
= Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên
Việc phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp thấy được yếu tố thời gian về vốn
mà mình nắm giữ, để sử dụng nguồn vốn thích hợp khi đầu tư.
1.1.3.3 - Phân loại vốn dựa trên phương thức chu chuyển của vốn
Theo đó người ta phân chia vốn thành hai loại là vốn cố định và vốn lưu động.
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt

Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ), TSCĐ tham gia
vào toàn bộ quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều
chu kỳ kinh doanh.
Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái:
- Hình thái hiện vật: Đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của các
doanh nghiệp. Nó bao gồm nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ
- Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao khi chưa
được sử dụng để sản xuất TSCĐ, là bộ phận vốn cố định đã hoàn thành vòng luân chuyển và
trở về hình thái tiền tệ ban đầu.

Vốn lưu động: là một bộ phận của vốn sản xuất được biểu hiện bằng số tiền ứng
trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được
tiến hành một cách thường xuyên liên tục, nó được chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản
phẩm. Nó là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền
lương Những giá trị này thu hồi sau khi đã bán hàng hoá. Trong quá trình sản xuất, bộ
phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương đã bị người lao động hao phí
nhưng được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá trị nguyên, nhiên vật liệu được
chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đó. Vốn lưu động ứng với
loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau.
Căn cứ vào việc xác định vốn người ta chia vốn lưu động thành hai loại:
- Vốn định mức:là vốn lưu động quy định mức tối thiểu cần thiết cho sản xuất kinh
doanh.Nó bao gồm vốn dự trữ, vốn trong sản xuất , sản phẩm hàng hoá mua ngoài dùng cho
tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến
- Vốn lưu động không định mức: là số vốn không phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nhưng không có căn cứ để tính toán định mức như: thành
phẩm trên đường gửi đi, vốn kế toán
Căn cứ vào nguồn vốn lưu động, vốn lưu động có hai loại:
- Vốn lưu động bổ xung là số vốn doanh nghiệp tự bổ xung từ lợi nhuận, các khoản
tiền phải trả nhưng chưa đến hạn như tiền lương, tiền nhà
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
- Vốn lưu động do ngân sách cấp: là loại vốn mà doanh nghiệp nhà nước được nhà
nước giao quyền sử dụng.
- Vốn liên doanh liên kết: là vốn do doanh nghiệp nhận liên doanh, liên kết với các
đơn vị khác.
- Vốn tín dụng: là vốn mà doanh nghiệp vay ngân hàng và các đối tượng khác để kinh
doanh. Mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một cơ cấu vốn lưu động hợp lý hiệu
quả. Đặc biệt quan hệ giữa các bộ phận trong vốn lưu động luôn thay đổi nên người quản lý
cần phải nghiên cứu để đưa ra một cơ cấu phù hợp với đơn vị mình trong từng thời kỳ, từng
giai đoạn.
Trong các doanh nghiệp khác nhau tỷ trọng, thành phần, cơ cấu của các loại vốn này
cũng khác nhau. Nếu như trong doanh nghiệp thương mại tỷ trọng của loại vốn này chiếm
chủ yếu trong nguồn vốn kinh doanh thì trong doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng vốn cố định lại
chiếm chủ yếu. Việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn cho thấy mỗi phương pháp
có ưu điểm và nhược điểm khác nhau, từ đó doanh nghiệp có các giải pháp huy động và sử
dụng vốn phù hợp, có hiệu quả.
1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: Là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất.
. Mục đích duy nhất của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là sản xuất
kinh doanh đem lại hiệu quả nhất định, lấy hiệu quả kinh doanh làm thước đo cho mọi hoạt
động kinh tế của doanh nghiệp.
Theo quan điểm chung nhất hiện nay, hiệu quả kinh doanh là lợi ích đạt được trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và do vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác
định dưới hai góc độ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực và
vật lực của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình kinh doanh.
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
Như vậy hiệu quả sử dụng vốn phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được từ hoạt
động sản xuất kinh doanh và chi phí bỏ ra
1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Việt
nam hiện nay
Mục tiêu cũng như ý tưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới hiệu
quả kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng một cách triệt để mọi nguồn lực sẵn có. Khai thác
và sử dụng các tiềm lực về vốn sẽ hình thành nên hiệu quả thực sự cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì thế các nguồn lực kinh tế trên cơ sở khai thác và sử
dụng, đặc biệt là nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ tới
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là nhu
cầu thường xuyên bắt buộc. Đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấy được chất lượng
của việc sản xuất kinh doanh nói chung và sử dụng vốn nói riêng. Hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp có thể dựa vào các nhóm chỉ tiêu đo lường sau đây:
1.2.2.1 - Nhóm chỉ tiêu tổng hợp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu về
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Nó thể hiện mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh trong kỳ
và số vốn kinh doanh bình quân. Ta có thể sử dụng các chỉ tiêu sau (theo giáo trình Quản trị
kinh doanh tổng hợp – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân) :


Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp.
H
v
=
V
D
Trong đó:
H
v
- Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp.
D - Doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ.
V - Toàn bộ vốn sử dụng bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sau một kỳ
đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
Trong đó vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động, do đó ta có
các chỉ tiêu cụ thể sau:
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt

Hiệu quả sử dụng vốn cố định
H
VCĐ
=
cd
V
D
Trong đó: H
VCĐ
: Hiệu quả sử dụng VCĐ
V

: Vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
H
VLĐ
= D / V

Trong đó: H
VLĐ
: Hiệu quả sử dụng VLĐ
V

: Vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ.
Các chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao,
đồng thời chỉ tiêu này còn cho biết doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì
phải quản lý chặt chẽ và tiết kiệm về nguồn vốn hiện có của mình.
1.2.2.2- Tỷ suất lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
cho doanh nghiệp trong kỳ. Hệ số này càng cao thì doanh nghiệp kinh doanh càng phát triển.
Các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất lợi nhuận ( theo giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp –
NXB Đại học kinh tế Quốc dân):

Tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ vốn kinh doanh.
T
LN

Vkd
=


Vkd
LNST
x100
Trong đó:
T
LN

Vkd
- Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn kinh doanh.
∑LNST - Tổng lợi nhuận sau thuế trong kỳ.

Vkd
- Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ.

Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:
T
LN VLĐ
=


Vld
LNST
x100
Trong đó: V

: Tổng vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
T
LNVLĐ
: Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của những đồng vốn lưu động bỏ ra sẽ thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định, T
LNVCĐ.
T
LNVCĐ
=
CD
V
LNTS

x100
Trong đó: V

- Tổng vốn cố địng bình quân trong kỳ
Tuy nhiên phải lưu ý, khi sử dụng chỉ tiêu trên thì tất cả các nguồn thu nhập, lợi
nhuận, doanh thu, phải là do chính vốn cố định tham gia tạo nên. Cùng với việc phân tích
nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định qua một vài chỉ tiêu khác như:
hệ số sử dụng công suất tài sản cố định. Hệ số hao mòn tài sản cố định
1.2.2.3- Tốc độ luân chuyển VLĐ
Là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử
dụng vốn của DN. Nó bao gồm các chỉ tiêu sau ( theo giáo trình Quản trị kinh doanh tổng
hợp – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân) :

Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ:
Là số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ, nó đươc xác định như sau:
C =
ld
V
D
Trong đó: C - Số vòng quay vốn lưu động.
D - Doanh thu thuần trong kỳ.
V

- Vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Vốn lưu động bình quân tháng, quý, năm được tính như sau:
Vốn LĐBQ tháng = (V

đầu tháng + V

cuối tháng)/2
Vốn LĐBQ quý, năm = (V
LĐ1
/2 + V
LĐ2
+ +V
LĐn-1
+ V
LĐn
/2)/(n-1).
Trong đó: V
LĐ1
, V
LĐn
- Vốn lưu động hiện có vào đầu tháng.
Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ VLĐ của doanh nghiệp luân chuyển càng nhanh, hoạt
động tài chính càng tốt, doanh nghiệp cần ít vốn mà tỷ suất lợi nhuận lại cao.

Số ngày luân chuyển:
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
Là số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động.
N =
C
T
=
D
TxV
LD
Trong đó:
N - Số ngày luân chuyển của một vòng quay vốn lưu động.
T - Số ngày trong kỳ.

Hệ số đảm nhiệm LVĐ:
H =
D
V
LD
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra được một đồng doanh thu thì doanh nghiệp cần bao
nhiêu đồng VLĐ. Hệ số này càng nhỏ càng tốt.

Mức tiết kiệm VLĐ:
Nó thể hiện trong quá trình sử dụng VLĐ do sự thay đổi tốc độ quay của nó. Có hai
cách xác định:
♦ Cách 1: M
-+
= V
LĐ1
-
0
1
C
D
Trong đó:
M
-+
- Mức tiết kiệm hay lãng phí VLĐ.
V
LĐ1
- Vốn lưu động bình quân kỳ này.
D
1
- Doanh thu thuần bình quân kỳ này.
C
0
- Số vòng quay vốn lưu động kỳ trước.
♦ Cách 2: M
+
= (N
1
- N
0
) x
T
D
1

Trong đó:
N
1,
N
0
- Thời gian luân chuyển VLĐ kỳ này, kỳ trước
T - Số ngày trong kỳ
1.2.2.4 - Khả năng thanh toán

Phân tích khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán của DN phản ánh mối quan
hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Thị Hồng Việt
trong kỳ. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu sau (theo giáo trình Đại học Kinh tế Quốc
dân):

*Hệ số thanh toán ngắn hạn =
TSNH
Nợ ngắn hạn

* Hệ số thanh toán nhanh =
Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
* Hệ số thanh toán tức thời =
Vốn bằng tiền
Nợ đến hạn
Ngoài ra, ta còn sử dụng chỉ tiêu về cơ cấu tài chính như:
* Hệ số nợ vốn cổ phần =

Nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu
Đó là các chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Phân tích tình hình thanh toán: Chính là xem xét mức độ biến thiên của các khoản
phải thu, phải trả để từ đó tìm ra nguyên nhân của các khoản nợ đến hạn chưa đòi được hoặc
nguyên nhân của việc tăng các khoản nợ đến hạn chưa đòi được.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 1
2.1KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 1
2.1.1 Lịch sử hính thành và phát triển của công ty cổ phần Sông Đà 1
Sinh viên: Tạ Mỹ Hạnh Lớp: Quản lý công 48
* Hệ số cơ cấu nguồn vốn =

Vốn chủ sở hữu


Nguồn vốn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét