Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Tài liệu Đề án "Bước phát triển trong quan hệ Eu -Asean " docx

chinh phục và nô dịch thuộc địa của ngoại bang. Trước hết, đó là sự xâm nhập
của nền văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ, Arập và sau này từ thế kỷ XVII là châu
Âu. Thế nhưng chính nhờ có sự tương đồng và gần gũi về văn hoá , truyền
thống ngoại xâm và tinh thần hợp tác bạn bè, các dân tộc Đông Nam Á
không những bảo vệ được cốt lõi nền văn hoá sở hữu bản địa của mình mà
còn có thể tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của các nền văn hoá khác. Trên cơ sở
đó các dân tộc Đông Nam Á lần lượt dành được độc lập từ ách nô dịch và
thuộc địa của ngoại bang, đặt nền tảng cho sự hợp tác và liên kết khu vực.
Một cột mốc rõ rệt được đánh dấu trong lịch sử Đông Nam Á là sự kiện
thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á: ngày8-8-1967 tại Bangkok
(thủ đô Thái Lan), tuyên bố Bangkok được ký kết, tạo dựng nền tảng cho sự
ra đời của ASEAN. ASEAN bao gồm 10 nước trong vùng Đông Nam Á là
Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Lào,
Campuchia và Myanmar. ASEAN hiện nay có dân số hơn 500 triệu người,
GDP khoảng gần 600 tỷ USD/năm. Đây cũng là nơi có nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và là nơi thu
hút nhiều nguồn vốn FDI.
Mục tiêu chính của ASEAN được ghi rõ trong tuyên bố Bangkok là
thông qua những nỗ lực chung trên tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá ở mỗi
nước, củng cố hào bình, ổn định ở mỗi quốc gia thành viên, khu vực và trên
thế giới.
Chương trình hành động của ASEAN gồm có các chương trình lớn về
hợp tác kinh tế, tự do hoá thương mại, dịch vụ và đầu tư trong khu vực đang
được thực hiện như xây dựng khu vực thương mại tự do ASEAN(ASEAN
Free Trade Area- AFTA), khu vực đầu tư AIA, chương trình hợp tác công
nghiệp ASEAN- AICO, hợp tác hải quan ASEAN. Các nước trong khu vực
cùng nhau đẩy nhanh hơn tốc độ thực hiện khu vực mậu dịch tự do AFTA để
thúc đẩy thương mại trong nội bộ khu vực, tăng tính cạnh tranh, thu hút đầu

4
tư nước ngoài. Với ASEAN 6 (Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore,
Thái Lan và Brunei) mức giảm thuế nhập khẩu CEPT từ 0-5% đạt được vào
năm 2002, với Việt Nam vào năm 2006 , còn Lào và Myanmar vào năm 2008.
Mức 0% với ASEAN 6 vào năm 2010 con với các thành viên mới là 2015.
Như vậy với mục tiêu ban đầu là giữ gìn ổn định và an ninh trong khu
vực, lúc đầu Hiệp hội được xem như là khối mang màu sắc chính trị là chủ
yếu , đến nay sự hợp tác giữa các thành viên trong ASEAN ngày càng khăng
khít và toàn diện.
3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ HỢP TÁC EU-ASEAN
3.1 Quan điểm và chiến lược của cả hai phía khi xúc tiến quan hệ
hợp tác.
Sau Đại chiến thế giới lần II, khu vực Đông Nam Á càng ngày càng thu
hút được sự quan tâm của thế giới. Một bằng chứng cụ thể là người ta xuất
bản ngày càng nhiều sách báo, bài viết, ấn phẩm về khu vực này. Tuy vậy,
mặc dù quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU với các nước ASEAN đã
có từ lâu nhưng trong một thời gian tương đối dài sau chiến tranh thế giới lần
II, các nước EU rất ít chú ý đên ASEAn. Nói khác đi, sau chiến tranh thế giới
lần II vị trí của EU ở Đông Nam Á bị suy giảm, quan hệ kinh tế cũng vì thế
trở nên mờ nhạt nhường bước cho sự lấn sâu của Mỹ và Nhật Bản. Hiện nay
sự tăng trưởng kinh tế ở Đông Nam Á đã là điểm thu hút đối với EU. Năm
2000, một nửa tổng số tăng trưởng kinh tế thế giới thuộc về châu Á ( gồm
Đông và Đông Nam Á) cho nên EU phải quan tâm đặc biệt đến châu Á trong
đó có khu vực Đông Nam Á.
Ngày nay, khi chiến tranh lạnh kết thúc, EU thấy cần phải điều chỉnh lại
chính sách của mình đối với châu Á theo hướng hợp tác chặt chẽ, bình đẳng
và hài hoà lợi ích của các bên trong khu vực này. Ngày 14-7-1994, EU đã
thông qua một văn kiện quan trọng với tiêu đề “Tiến tới một chiến lược mới
đối với châu Á”. Văn kiện này dã đề ra những định hướng và chính sách mới
của EU đối với châu Á đặc biệt là Đông Nam Á không chỉ cho những năm

5
còn lại của thế kỷ XX mà còn cho cả những năm đầu của thế kỷ XXI. Đồng
thời trên các phương tiện thông tin đại chúng, Liên minh châu Âu cũng giới
thiệu đến người dân nước họ hình ảnh của một Đông Nam Á năng động và
phát triển để người dân châu Âu tăng cường hơn nữa việc tìm hiểu, nghiên
cứu và xúc tiến đầu tư tại Đông Nam Á.
Nhân tố thúc đẩy mạnh nhất trong quan hệ giữa EU và ASEAN là giao
lưu buôn bán và trao đổi hàng hoá. Các nước ASEAN hiện nay đều mở cửa
thị trường, lợi dụng chính sách thương mại tự do của EU và biện pháp khuyến
khích nhập khẩu hàng hoá, nhất là hệ thống ưu đãi thuế quan chung để đưa
hàng vào thị trường EU, tăng tỉ trọng xuất khẩu của mình. Để tranh thủ sự
giúp đỡ về mọi mặt, năm 1980 ASEAN đã nâng cấp quan hệ ASEAN- EU
thành quan hệ đối thoại đầy đủ, sự kiện này được đánh dấu bằng thoả thuận
hợp tác ASEAN-EC trong đó nhẫn mạnh EC giúp đỡ ASEAN về tài chính
cũng như kỹ thuật nhằm thúc đẩy,phát triển bạn hàng hữu nghị giữa các nước
và tổ chức của hai khu vực này. Ngoài việc nâng cao khả năng thâm nhập
hàng hoá của ASEAN vào thị trường EU, thông qua kênh đối thoại này các
nước ASEAN cũng được tiếp cận với nguồn viện trợ phát triển cho các lĩnh
vực khác như khoa học- công nghệ, văn hoá- xã hội và phát triển nguồn nhân
lực. Về phía Liên minh châu Âu, mở cửa thị trường ASEAN cũng có nghĩa là
tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp EU. Rõ ràng là các nhà xuất khẩu
EU hiện nay đã cạnh tranh lành mạnh hơn với Mỹ. Hiện tại buôn bán giữa các
nước trong khu vực Đông Nam Á rất sôi động và thị trường ở đây đòi hỏi
nhiều vốn và hàng tiêu dùng nên các hãng châu Âu nhất là các hãng vừa và
nhỏ đang có kế hoạch mở rộng, tăng cường hoạt động của mình ở khu vực
này. Hiện nay các hãng của châu Âu đã dành được những vị trí vững chắc tại
nhiều lĩnh vực ở châu Á. Tuy EU đầu tư vào ASEAN còn chậm nhưng lại thu
được nhiều thành tựu.
Một đặc điểm cũng tác động không nhỏ tới quan hệ giữa hai khối là
ASEAN và EU có sự tiếp cận khác nhau về hợp tác giữa hai nhóm nước. Đối

6
với ASEAN sự hợp tác này có thể cho phép sử dụng EU như một đối trọng
nhằm ngăn cho ASEAN khỏi bị phụ thuộc vào Mỹ và Nhật Bản và ASEAN hi
vọng nhận được những đặc quyền mà EU đã dành cho sản phẩm của các nước
APC (các nước châu Phi, Caribê, Thái Bình Dương). Với EU, ASEAN có thể
phục vụ EU như là nguồn cung cấp tư liệu thô, nguồn lao động rẻ và thị
trường tiêu thụ cho hàng hoá EU. Cộng đồng châu Âu cũng có ý định nghiêm
túc trong việc theo đuổi hợp tác với ASEAN, một khu vực mà EU có thể tìm
thấy một thị trường lớn với sức mua đang tăng lên và nguồn tài nguyên phong
phú.
Qua đây ta có thể nhận thấy quan hệ EU- ASEAN là quan hệ hợp tác
toàn diện, mỗi bên đều có mục đích riêng khi tham gia hợp tác nhưng tựu
chung lại các hoạt động đó đều nhằm mục đích phát triển kinh tế, xã hội, đảm
bảo sự ổn định, hoà bình và an ninh trong mỗi khu vực và trên toàn thế giới.
3.2 . Sự hình thành và phát triển quan hệ EU- ASEAN
Để cùng tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia cần phải tích cực đẩy mạnh
các mối quan hệ. Mở rộng quan hệ hợp tác không chỉ giúp cho các nước, các
tổ chức và các khu vực hiểu biết lẫn nhau mà còn thúc đẩy kinh tế phát triển,
lấp chỗ trống trong sự thiếu hụt về nguồn lực.
Bất chấp khoảng cách về vị trí địa lý, sự khác biệt về văn hoá xã hội,
con người cũng như trình độ phát triển kinh tế, Liên minh châu Âu ngày càng
đẩy nhanh quá trình hợp tác với các quốc gia ở Đông Nam Á. Bằng chứng cụ
thể là Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) là đối tác đầu tiên thiết lập quan hệ
với ASEAN vào năm 1972 thông qua Uỷ ban phối hợp đặc biệt của ASEAN
(Special Coordinating Committee of ASEAN - SCCAN).
Trong lịch sử hơn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai tổ chức này
đã đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực. Quá trình phát triển mối quan
hệ EU-ASEAN được đánh dấu bằng nhiều sự kiện quan trọng nhưng có thể
tóm tắt trong 3 giai đoạn chính:
* Giai đoạn đầu (1967-1972)

7
Thời kỳ này quan hệ EU-ASEAN chưa được thiết lập chính thức. Quan
hệ hai bên diễn ra chủ yếu dưới hình thức quan hệ song phương giữa các
nước thành viên. Đây là thời kỳ EU chú trọng đến việc liên kết, ổn định nội
bộ, kết nạp thêm thành viên mới nhằm tăng uy tín của cộng đồng, đồng thời
tăng cường phát triển kinh tế. Trong công tác đối ngoại, EU chú ý tới các
nước lớn như Mỹ, Nhật Bản và các nước thuộc “sân sau“ của EU là Trung
Cận Đông, Châu Phi, Trung Mĩ, Caribê.
Trong khi đó Đông Nam Á lại là điểm nóng trong thời kỳ chiến tranh
lạnh, hầu hết các nước ASEAN mới bước vào giai đoạn đầu công nghiệp hoá
cho nên ASEAN chưa thu hút được sự chú ý của EU. Hoạt động của ASEAN
chủ yếu tập trung vào giải quyết những bất đồng hay xung đột giữa các
nước trong cộng đồng nhằm tìm kiếm lập trường chung về chính trị và khả
năng hợp tác trong khối. Do vậy ASEAN cũng chưa có chính sách cụ thể đối
với EU - một thị trường còn xa lạ với ASEAN.
* Giai đoạn thứ hai(1972-1980)
Đây là giai đoạn quan hệ EU- ASEAN được thiết lập chính thức. Mở
đầu của mối quan hệ này là ASEAN thành lập một Uỷ ban phối hợp đặc biệt
của các thành viên ASEAN (SCCAN) gồm Bộ trưởng thương mại của 5 nước
nhằm mục đích tiếp xúc với EU và điều tra khả năng thâm nhập thị trường EU
của ASEAN. Việc ra đời của SCCAN được coi như là sự thể chế hoá quan hệ
đối thoại giữa ASEAN - EU. Vào tháng 11-1972 tại Brussels đã diễn ra cuộc
tiếp xúc đầu tiên giữa hai nhóm nước ở cấp đại sứ. Năm 1975 nhóm nghiên
cứu hỗn hợp (Joint Study Group- JSG) được thành lập gồm các uỷ viên của
EU và viên chức chính phủ của ASEAN để thúc đẩy quan hệ EU-ASEAN.
Như vậy từ cuối những năm 70, cả ASEAN lẫn EU đều nỗ lực tìm kiếm
những khả năng tạo nên quan hệ gần gũi hơn, các nước ASEAN coi EU là địa
điểm hấp dẫn đối với các hàng hoá xuất khẩu của họ.
* Giai đoạn ba (từ năm 1980

hiện nay)

8
Giai đoạn này mở đầu bằng hiệp định hợp tác EU-ASEAN (3-1980), cả
EU và ASEAN đều thực sự tăng cường quan hệ với nhau. Các cuộc gặp cấp
Bộ trưởng diễn ra đều đặn 18 tháng một lần tại các thành phố của các nước
EU và ASEAN.
3-1980 tại Kuala Lumpur (Malaysia) hai bên ký Hiệp định hợp tác EU-
ASEAN với mục tiêu phát triển quan hệ văn hoá xã hội cũng như các quan hệ
thương mại và kinh tế trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi, đồng thời đóng góp
vào việc mở rộng thương mại quốc tế.
Sau hơn một thập kỷ quan hệ, cả EU và ASEAN đã định ra được thể
chế pháp lý ở nhiều cấp: Uỷ ban hợp tác chung, Uỷ ban Brussels của ASEAN,
Hội nghị bộ trưởng ASEAN-EU, Hội nghị các quan chức cao cấp ASEAN-
EU… Điều này đã đưa đến kết quả là EU chính thức trở thành thành viên đối
thoại của ASEAN khi mà cả thế giới còn đang trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Quan hệ EU-ASEAN ngày càng được phát triển theo cả chiều rộng lẫn
chiều sâu. Trong các cuộc tiếp xúc, vấn đề thương mại vẫn được đặt lên hàng
đầu, tuy nhiên hai bên cũng quan tâm đến những vấn đề thời sự nóng bỏng
của thế giới như vấn đề hoà bình, giải trừ quân bị, kiểm soát vũ khí hạt nhân,
vấn đề môi trường, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, phát triển nguồn nhân lực…
Trong lĩnh vực hợp tác phát triển, EU trợ giúp ASEAN về kỹ thuật tài chính
cho các dự án của ASEAN, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực khoa học công
nghệ, năng lượng. Bên cạnh đó EU còn giành cho ASEAN nhiều ưu đãi như
các khoản viện trợ phát triển, hưởng một số đặc quyền của hệ thống ưu đãi
chung (GSP). Còn đối với EU, ASEAN là một khu vực đang phát triển, sẽ
cung cấp cho EU thị trường và nguyên liệu, là nơi tiêu thụ hàng hoá của EU
với số dân khá đông. Nhìn chung trong quan hệ hợp tác giữa EU và ASEAN
cả trong quá khứ lẫn hiện tại, phía ASEAN được hưởng lợi nhiều hơn nhưng
EU cũng tìm kiếm được nhiều lợi ích khi hợp tác với ASEAN.
4. HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC PHÁT TRIỂN GIỮA EU VÀ ASEAN
4.1. Quan hệ hợp tác toàn diện EU-ASEAN

9
Kể từ khi thiết lập quan hệ chính thức, hai tổ chức EU và ASEAN đã
cùng nhau hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Hội nghị Bộ trưởng ASEAN-EU
(AEMM) - cấp đối thoại cao nhất - lần thứ 13 diễn ra tại Vientiane (Lào) đã
đặt nền móng cho định hướng hợp tác toàn diện trong những năm tới của thế
kỷ XXI bởi hợp tác toàn diện là con đường duy nhất đạt đến sự phát triển
đồng đều. Trong điều kiện các mối quan hệ trên thế giới có sự liên hệ chặt
chẽ, một sự kiện diễn ra ở nơi này cũng có thể ảnh hưởng đến nơi khác. Chính
vì thế quan điểm hợp tác toàn diện của EU-ASEAN sẽ là cơ sở cho các mối
quan hệ giữa hai tổ chức.
Vậy các khía cạnh của "Hợp tác toàn diện" được thể hiện trong những
điểm gì?
4.1.1. Về vấn đề chính trị và an ninh
EU và ASEAN có vai trò quan trọng và ổn định trong phạm vi từng khu
vực và trên thế giới. Về phía EU, Liên minh Châu Âu đã thông báo với
ASEAN những bước tiến quan trọng do Hội đồng Châu Âu thực thiện tại
Nice, trong đó có chính sách an ninh và quốc phòng châu Âu, sự mở rộng
Liên minh châu Âu. Đồng thời, ASEAN đã thông báo diễn biến tại khu vực
Đông Nam Á, việc thực thi các hiệp ước và các kế hoạch hành động như: kế
hoạch hành động Hà Nội (HAP), Hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC), Hiệp
ước khu vực phi vũ khí hạt nhân tại Đông Nam Á (ASEANNFZ)…
Quan điểm của hai bên về vấn đề chính trị và an ninh bao gồm các
điểm:
- Tăng cường hợp tác an ninh khu vực thông qua ARF. Đây được xem
là một diễn đàn quan trọng đối thoại vấn đề hoà bình và an ninh tại khu vực
châu Á - Thái Bình Dương. Nhấn mạnh tầm quan trọng của các biện pháp xây
dựng lòng tin (CBM
S
) đã được thực hiện nhằm tăng cường tiến trình ARF và
khuyến khích nỗ lực hơn nữa để tăng cường CBM
S
cũng như hoàn thành khái
niệm và nguyên tắc ngoại giao phòng ngừa. EU cũng bày tỏ thiện chí sẵn sàng
trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vực này với ASEAN.

10
- Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền tự do chính đáng.
- EU quan tâm và hy vọng tiếp tục có những diễn biến tích cực trong
quá trình hoà giải dân tộc ở Myanmar.
- Ủng hộ mạnh mẽ một Indonesia thống nhất, dân chủ và thịnh vượng,
EU cũng cùng với các nước nỗ lực trong việc giải quyết xung đột nội bộ
thông qua đối thoại và hoà giải.
- Hoan nghênh đối thoại trực tiếp Liên Triều đạt được những bước tiến
tích cực. Hoan nghênh những bước tiến trong việc thực hiện Tuyên bố Bắc -
Nam bao gồm vấn đề nhân đạo, hợp tác kinh tế, đối thoại về quân sự và
CBM
S
. Mong đợi có những tiến triển trong vấn đề này.
- Tình hình Balkans, chính biến tại Croatia và Nam Tư dọn đường cho
quá trình hoà giải và hợp tác giữa các nước trong khu vực và tạo cơ hội lịch
sử cho khu vực này hoà nhập với xu thế ở Châu Âu, kêu gọi tất cả các bên
liên quan từ bỏ bạo lực và chủ nghĩa cực đoan, tiếp tục ủng hộ những nỗ lực
hoà bình và ổn định.
- Cả hai tổ chức cũng đặc biệt quan tâm về tình hình Trung Đông thể
hiện sự quan tâm sâu sắc về tình hình bạo lực gần đây và kêu gọi tất cả các
bên liên quan trở lại quá trình đàm phán.
Như vậy quan điểm của cả hai phía EU và ASEAN là rất rõ ràng, hai
bên luôn xúc tiến các chương trình đối thoại nhằm tăng cường hiểu biết lẫn
nhau đồng thời bày tỏ thái độ quan tâm đến các vấn đề nóng hổi đang diễn ra
ở khắp nơi trên thế giới. Liên minh Châu Âu và Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á mong muốn cùng hau hợp tác phát triển trong bối cảnh tình hình thế
giới hoà bình và ổn định.

11
4.1.2. Về các vấn đề kinh tế
Vấn đề "kinh tế" luôn được coi là vấn đề quan trọng nhất khi đánh giá
sự phát triển của mỗi quốc gia bởi kinh tế phát triển là nền tảng thúc đẩy các
lĩnh vực khác. Hiện nay, quan hệ hợp tác giữa các quốc gia với nhau, giữa các
tổ chức, giữa các khu vực cũng đặt "kinh tế" lên hàng đầu. Trên cơ sở đó EU
và ASEAN đã và đang thúc đẩy nhiều chương trình phát triển kinh tế. Năm
1999, với sự kiện phát hành thành công đồng tiền chung Châu Âu Euro cũng
như sự phục hồi kinh tế tại khu vực ASEAN sau cuộc khủng hoảng tài chính
năm 1997 là tín hiệu đáng mừng chứng tỏ tiềm năng kinh tế giữa hai khu vực
là vô cùng lớn. Cả hai bên cũng đã nhất trí về tầm quan trọng của việc tiếp tục
cải cách kinh tế và tài chính phạm vi quốc gia và hợp tác toàn cầu trong việc
cải cách cơ cấu tài chính quốc tế vì sự phát triển kinh tế bền vững của các
nhóm nước trong 2 khu vực và nhất trí cho rằng đây là lý do để tăng cường
hợp tác trong tất cả các lĩnh vực:
- Tiến triển của ASEAN trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực.
Ghi nhận việc ASEAN tiếp tục tăng cường cam kết trong việc đẩy nhanh hội
nhập kinh tế khu vực thông qua tự do thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư,
hợp tác nông nghiệp và thông tin viễn thông, hoan nghênh cố gắng chung của
các thành viên mới của ASEAN bao gồm dự án phát triển lưu vực sông Mê
Kông và sáng kiến vì hội nhập ASEAN.
- Nhấn mạnh vai trò quan trọng của tổ chức Thương mại thế giới
(World Trade Organization - WTO) trong việc thúc đẩy tăng trưởng, phát
triển và thịnh vượng kinh tế toàn cầu. Ủng hộ việc phát động sớm vòng đàm
phán mới về thương mại của WTO và nhất trí sự cần thiết một chương trình
nghị sự mở rộng và cân bằng phản ánh lợi ích của tất cả các thành viên WTO,
cụ thể là các nước đang phát triển. Cả hai khối đều nhất trí về tầm quan trọng
của việc đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, Lào, Campuchia.
- Thể hiện sự ủng hộ việc tiếp tục hợp tác cắt giảm hàng rào phi thuế
quan để tạo thuận lợi trao đổi thương mại giữa hai khu vực.

12

13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét