pháp hữu hiện giúp doanh nghiệp nhanh chóng thực hiện quá trình tái cấu trúc tài chính
doanh nghiệp, đồng thời nó cũng có những tác động tích cực cho doanh nghiệp trong
việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở các khía cạnh khác. Nhưng đồng
thời nó cũng có những tác động không tốt đi kèm cho cả đối với doanh nghiệp và nền
kinh tế. Hoạt động này sẽ phát huy tốt những tác động tích cực nếu như được quản lý và
thực hiện tốt. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp là một
hoạt động rất mới, nhưng lại đang phát triển khá nhanh nhưng những cơ sở về phương
diện pháp lý và kỹ thuật cho hoạt động này còn chưa đầy đủ.
Chính vì thế, vấn đề chính mà đề tài hướng đến góp phần xây dựng nên khung
pháp lý và đưa ra các giải pháp nhằm tạo điều kiện thúc đẩy cho hoạt động mua lại, sáp
nhập doanh nghiệp ở Việt Nam để thực hiện yêu cầu tái cấu trúc doanh nghiệp trong
thời gian tới. Chính vì thế mà đề tài sẽ tập trung phân tích và tổng hợp về các vụ mua
lại, sáp nhập doanh nghiệp điển hình đã diễn ra trên thị trường Việt Nam trong thời gian
qua.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt những mục tiêu chính thì phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là
phân tích điển hình và tổng hợp. Nghiên cứu, phân tích các vụ M&A điển hình trên thế
giới để đút kết các kinh nghiệm thực hiện M&A ở các nước đang phát triển và nghiên
cứu, phân tích các vụ giao dịch M&A ở thị trường Việt Nam trong thời gian qua để
đánh giá thực trạng và những hạn chế hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp hiện tại
trong nước.
Do đặc điểm thị trường mua lại, sáp nhập mới xuất hiện tại Việt Nam và vấn đề
kiểm soát, quản lý hoạt động này còn rất nhiều khoảng trống nên các số liệu thống kê
về hoạt động của thị trường này chưa có một nguồn cung cấp thống nhất. Đồng thời do
đặc tính của hoạt động M&A là một hoạt động đòi hỏi độ bảo mật rất cao nên việc thu
thập thông tin chi tiết các vấn đề liên quan đến một vụ mua lại hay sáp nhập doanh
nghiệp là một vấn đề rất khó thực hiện. Trong điều kiện như thế, đề tài không tập trung
vào việc phân tích điển hình một số ít các vụ M&A cụ thể. Dựa trên các nguồn thông tin
từ các công ty tư vấn hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp đang hoạt động trên thị
trường Việt Nam về thống kê thị trường và kết quả giao dịch của các thương vụ M&A
5
đã thực hiện trong thời gian qua cùng với việc thu thập số liệu thứ cấp trên thị trường,
các thông tin được công bố trên các phương tin thông tin đại chúng do chính các công ty
tư vấn thực hiện giao dịch M&A, hay trên kênh công bố thông tin của thị trường chứng
khoán, tác giả phân tích và đánh giá nhằm xác định những vấn đề hạn chế hiện tại trong
quá trình thực hiện hoạt động M&A. Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp phù hợp với
thực tiễn để cho hoạt động này được phát triển tốt đáp ứng yêu cầu tái cấu trúc doanh
nghiệp rất cấp thiết ở Việt Nam trong thời gian sắp tới. Đây là phương pháp nghiên cứu
phù hợp với giai đoạn sơ khai của thị trường. Trong tương lai, khi mà hoạt động của thị
trường đã đi vào ổn định và có sự quản lý, kiểm soát và việc công bố thông tin trên thị
trường Việt Nam đi vào nề nếp thì việc phân tích hoạt động trên thị trường M&A cũng
như những vấn đề liên quan đến hoạt động này sẽ được thực hiện với những phương
pháp định lượng rõ ràng hơn. Và đây cũng chính là hạn chế của đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Khi đề tài hoàn thành thì nó được kỳ vọng là một tài liệu tham khảo có tính tổng
quát cho các nhà quản lý nền kinh tế và các nhà quản trị doanh nghiệp và hoạt động mua
lại và sáp nhập doanh nghiệp. Đề tài sẽ cung cấp những nội dung lý thuyết về hoạt động
M&A được các nhà nghiên cứu trên thế giới và các nền kinh tế phát triển thừa nhận.
Ngoài ra, những bài học từ các vụ M&A ở thị trường thế giới cũng được rút ra để giúp
cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong nước có thêm kiến thức, kinh nghiệm thực hiện
hoạt động M&A cho chính doanh nghiệp của mình.
Đồng thời, đề tài sẽ cung cấp các giải pháp mang tính thực tiễn cho nhà quản lý
nhằm xây dựng một hệ thống hành lang pháp lý cho hoạt động mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp tại thị trường Việt Nam phù hợp với thế giới và điều kiện kinh tế trong nước.
Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp thì đề tài cũng là một kim chỉ nam cho các nhà
quản trị khi họ tham gia vào hoạt động M&A từ việc chuẩn bị để thực hiện cho đến
những vấn đề cần lưu ý trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, những giải pháp trong đề tài
về phương diện kỹ thuật để thực hiện hoạt động mua lại hay sáp nhập doanh nghiệp và
vấn đề định giá giá trị doanh nghiệp, một mảng nội dung rất quan trọng trong các giao
dịch này. Đề tài sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn các phương pháp định giá doanh nghiệp
6
phù hợp với tình hình hoạt động của doanh nghiệp và những nội dung quan trọng trong
quá trình ứng dụng phương pháp đó trong thực tiễn.
6. Nội dung chính của đề tài
Với những mục tiêu tổng quát và cụ thể đã được xác định thì đề tài này sẽ tập
trung vào các vấn đề chính như:
Những vấn đề mang tính lý thuyết về hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp;
những bài học kinh nghiệm cho hoạt động mua lại sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
để đáp ứng yêu cầu tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp được rút ra từ các vụ giao dịch
trên thế giới sẽ được trình bày trong chương1.
Chương 2 sẽ tập trung vào nội dung đánh giá thực trạng hoạt động của thị trường
mua lại, sáp nhập doanh nghiệp và từ đó rút ra những đặc điểm chính của thị trường này
tại Việt Nam trong thời gian qua.
Dựa trên kết quả đánh giá, chương 3 của đề tài sẽ tập trung vào việc tóm tắt lại
những vấn đề gây hạn chế hoặc có nguy cơ gây hạn chế cho hoạt động cũng như sự phát
triển của hoạt động này trong tương lai. Trong bối cảnh yêu cầu tái cấu trúc tài chính
doanh nghiệp là rất thiết, đề tài đưa ra các giải pháp mang tính vĩ mô và tính kỹ thuật
đối với các đối tượng có liên quan nhằm để tạo điều kiện cho hoạt động mua lại, sáp
nhập doanh nghiệp phát triển tốt hơn, chuyên nghiệp hơn phục vụ cho yêu cầu tái cấu
trúc tài chính doanh nghiệp trong thời gian thời gian sắp tới.
(1)
: Tổng cục thống kế (2008), “Niên giám thống kê 2008”
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG “MUA LẠI, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP”
(MERGERS AND ACQUISITIONS – M&A)
1.1.Tổng quan về hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
“Merger and Acquisition” là một cụm từ tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt là
“mua lại và sáp nhập doanh nghiệp”. Thuật ngữ này thể hiện hoạt động hai công ty kết
hợp lại với để nhằm đạt được những mục tiêu đã được xác định trước trong chiến lược
kinh doanh của công ty, là một giao dịch có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cả hai
công ty tham gia trực tiếp vào giao dịch mà còn đối với nhiều đối tượng khác như:
người lao động, người quản lý của hai công ty, đối thủ cạnh tranh, cộng đồng và cả nền
kinh tế. Sự thành công hay thất bại của hoạt động "mua lại, sáp nhập doanh nghiệp" có
tầm quan trọng to lớn đối với cổ đông, chủ nợ cũng như các đối tượng nêu trên. Các
công ty trên thế giới đã đầu tư hàng tỷ đôla để thực hiện các vụ "mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp".
Cụm từ "mua lại, sáp nhập doanh nghiệp" là một cụm từ thể hiện các hoạt động
khác nhau là mua lại công ty (acquisition) và sáp nhập doanh nghiệp (merger).
Tuy nhiên, hai hoạt động này cũng có một số điểm tương đồng. Chính vì thế
mà hai từ này được gắn liền với nhau khi nói gây ra sự nhằm lẫn.
1.1.1. Hoạt động mua lại doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm
Mua lại công ty là sự mua lại một công ty, gọi là công ty mục tiêu (the target) bởi
một công ty khác. Một vụ mua lại công ty có thể mang tính chất là thân thiện (friendly)
nhưng cũng có thể mang tính chất thù địch (hostile).
Mua lại mang tính chất thân thiện là việc các công ty đồng ý tiến hành đàm phán
để kết hợp lại với nhau. Mua lại mang tính chất thù địch là trường hợp công ty mục tiêu
(công ty bị mua lại) miễn cưỡng để công ty khác mua giành quyền kiểm soát đối với
công ty mình hoặc công ty bị mua không có chút thông tin nào về vụ mua lại này.
Mua lại công ty thường là do một công ty lớn mua lại công ty nhỏ hơn. Nhưng
đôi khi vẫn có trường hợp công ty nhỏ hơn giành được sự điều kiển quản lý đối với một
8
công ty lớn hơn hoặc một công ty có tiếng lâu đời và giữ lại danh tiếng đó cho công ty.
Đó được gọi là nằm quyền kiểm soát ngược (reverse takeover).
1.1.1.2. Các hình thức của hoạt động mua lại doanh nghiệp
Mua lại doanh nghiệp, về bản chất nó không là một hoạt động đưa đến việc thành
lâp doanh nghiệp mới để dẫn đến sự hình thành một doanh nghiệp mới thay thế cho
doanh nghiệp cũ. Mua lại doanh nghiệp là việc một công ty mua lại công ty khác và cổ
phiếu của công ty đi mua vẫn tồn tại trên thị trường, đối với công ty bị mua lại có thể
vẫn còn hoặc biến mất tùy theo mục tiêu và ý muốn của hai bên tham gia vào cuộc mua
lại.
• Nếu xét về tính chất của giao dịch mua lại doanh nghiệp thì ta có thế phân
hoạt động mua lại doanh nghiệp thành 2 loại:
- Mua lại doanh nghiệp mang tính chất thân thiện (friendly acquisition):
đây là hình thức mua bán được diễn ra trong sự đồng thuận của hai bên
vì cả 2 đều cảm thấy thỏa mãn với thương vụ đó.
- Mua lại doanh nghiệp mang tính chất thù địch (hostile acquisition): đây
là vụ mua lại không được sự đồng ý và hợp tác của các người quản lý
cấp cao của công ty bị mua lại. Trong trường hợp này công ty đi mua sẽ
dùng tiềm lực tài chính của mình để mua lại công ty khác, có thể hiểu rõ
hơn đó là tiến hành thâu tóm công ty mục tiêu. Mục tiêu của giao dịch
này là công ty đi mua muốn triệt tiêu sự cạnh tranh của công ty mục
tiêu.
• Nếu xét về hình thức thực hiện trong các giao dịch mua lại thì hoạt động mua
lại doanh nghiệp cũng có 2 hình thức:
- Công ty đi mua mua cổ phiếu của công ty mục tiêu. Việc mua bán này
sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn chủ sỡ hữu của công ty mục tiêu rồi lần lượt
sự chuyển nhượng đó làm thay đổi đến cả tài sản của công ty. Tuy
nhiên, công ty bị mua lại vẫn giữ nguyên các hoạt động kinh doanh,
hình thức kinh doanh và công ty phải gánh chịu tất cả các khoản nợ đã
xảy ra trong quá khứ, và tất cả những rủi ro mà công ty phải đối mặt
9
trong môi trường kinh doanh của công ty. Như vậy cổ phiếu của công ty
bị mua vẫn còn tồn tại trên thị trường.
- Công ty đi mua sẽ mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của công ty
mục tiêu. Trong hình thức này, số tiền mặt mà công ty mục tiêu nhận
được từ vụ mua lại sẽ được chia cho các cổ đông của công ty dưới hình
thức tiền được trả lại hoặc dưới hình thức thanh toán những khoản nợ
của công ty mục tiêu đang gánh chịu. Đây là một hình thức giao dịch
thường được thực hiện đối với những trường hợp công ty bị mua lại là
những công ty có qui mô nhỏ. Người mua sẽ mua những tài sản mà họ
muốn và tách loại những tài sản có liên quan đến việc thực hiện trách
nhiệm pháp lý. Đây là một vấn đề rất quan trọng. Những trách nhiệm
pháp lý đó không chỉ bao gồm không những trách nhiệm hiện tại và có
thể có cả những thiệt hại cho tòa án ra quyết định trong tương lai và tài
sản không thể đảm bảo được. Những thiệt hại đó có thể xuất hiện từ
những vụ kiện tụng về vấn đề sản phẩm kém chất lượng, quyền lợi của
người lao động, sự chấm dứt hoạt động của công ty mục tiêu, thiệt hại
về môi trường. Một khó khăn khi thực hiện việc mua lại công ty bằng
việc mua lại tài sản của công ty đó là thuế, thuế chuyển nhượng tài sản
có thể được đánh vào cả người mua lẫn người bán. Trong khi đó, các vụ
giao dịch mua bán cổ phiếu có thể thường được thực hiện với tư cách là
một sự chuyển nhượng hoặc những giao dịch này có thể được dàn xếp
để được miễn thuế hoặc trung lập về thuế cho cả đối với người mua và
người bán. Chính vì thế, hình thức giao dịch bằng cách mua lại tài sản
của công ty mục tiêu ít được thực hiện hơn so với hình thức đi mua cổ
phiếu của công ty mục tiêu.
• Sự nổi lên của vấn đề toàn cầu hóa đã làm cho các vụ mua lại doanh nghiệp
được thực hiện bởi các công ty nước ngoài ngày càng gia tăng nhanh chóng.
Những thương vụ giao dịch đó được gọi là mua lại doanh nghiệp xuyên quốc
gia (transnational acquisitions) hoặc mua lại doanh nghiệp chéo (cross-border
acquisitions). Các vụ giao dịch này được thúc đẩy bởi việc quan tâm đến sự
10
đa dạng của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các vụ mua
lại doanh nghiệp chéo diễn ra khá là phức tạp hơn so với các vụ mua lại giữa
các doanh nghiệp trong nước. Sự phức tạp đó là do sự khác nhau về môi
trường chính trị, kinh tế, cách thức tổ chức doanh nghiệp, văn hóa, phong tục
truyền thống, nguyên tắc thuế, kế toán giữa các nước của công ty đi mua và
công ty mục tiêu. Các công ty đi mua lại các công ty khác cần phải quan tâm
đến những sự khác biệt đó bởi vì nó thường là nguyên nhân dẫn đến sự thất
bại cho công ty đi mua sau khi hoạt động mua lại đã được tiến hành. Chính do
bởi sự phức tạp đó mà các nhà môi giới tìm đến các Tập đoàn tài chính quốc
tế và các tổ chức tương tự để được tư vấn như là một vấn đề thiết yếu trong
việc thực hiện hoạt động M&A ngày nay.
1.1.2. Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm
Sáp nhập doanh nghiệp là sự kết hợp của hai công ty để trở thành một công ty
mới có giá trị lớn hơn hai công ty đang hoạt động riêng lẻ. Hoạt động này đặc biệt hữu
ích khi các công ty rơi vào những thời kỳ khó khăn cho cạnh tranh, tác động thị trường
hay bất kỳ yếu tố nào khác.
Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp thường là hành vi mang tính chất tự nguyện và
được thực hiện bằng hình thức như hoán đổi chứng khoán – việc thực hiện giao dịch
trong trường hợp này thường được sự đồng ý của cổ đông của hai công ty để chia sẻ rủi
ro có liên quan đến việc sáp nhập - hoặc bằng hình thức chi trả tiền mặt để đạt được
mục tiêu sáp nhập. Sáp nhập doanh nghiệp có thể tương tự như là mua giành quyền
kiểm soát đối với một công ty nhưng kết quả là một công ty mới với tên mới được hình
thành, (tên mới của công ty thường là tên kết hợp của cả hai công ty cũ, chẳng hạn như
trường hợ công ty Daimler – Benz và Chrysler sáp nhập và dẫn đến sự hình thành công
ty mới với tên gọi Daimler Chrysler), hoặc là một chi nhánh mới.
1.1.2.2. Các hình thức của hoạt động sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập được hiểu là việc kết hợp giữa hai hay nhiều công ty và cho ra đời một
công ty (pháp nhân) mới thay thế cho sự biến mất của các công ty cũ, thường nhằm để
thực hiện mục tiêu đầu tiên là làm cho giá trị của công ty lớn hơn so với khi hoạt động
11
riêng lẻ. Qua nghiên cứu lịch sử của hoạt động sáp nhập doanh nghiệp của một số nước
và khu vực có nền kinh tế phát triển trên thế giới thì chúng ta nhận thấy rằng, hoạt động
sáp nhập doanh nghiệp có rất nhiều hình thức khác nhau. Tùy theo khía cạnh đang
nghiên cứu về hoạt động sáp nhập doanh nghiệp mà chúng sẽ được phân thành nhiều
loại khác nhau.
Chẳng hạn, nếu dựa vào mối quan hệ giữa các công ty tiến hành sáp nhập chúng
ta có những hình thức như: sáp nhập theo chiều ngang (horizontal mergers), sáp nhập
theo chiều dọc (vertical mergers) hay sáp nhập kiểu tập đoàn (conglomerate mergers)
Nếu dựa theo mục đích của thương vụ sáp nhập thì ta có thể phân hoạt động sáp
nhập doanh nghiệp ra thành 2 hình thức: sáp nhập để mở rộng thị trường, sáp nhập để
mở rộng sản phẩm.
• Phân loại theo mối quan hệ giữa các công ty tiến hành sáp nhập:
- Sáp nhập chiều ngang (horizontal acquisition) còn được gọi là sáp nhập
cùng ngành, là hình thức sáp nhập giữa các công ty cùng cạnh tranh trực
tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường.
- Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều dọc (vertical mergers): Đây là hình
thức sáp nhập giữa công ty khách hàng hoặc công ty là nhà cung cấp của
công ty lại với nhau.
- Sáp nhập kiểu tập đoàn (conglomerate mergers): xảy ra khi hai hay
nhiều công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng
hóa hoạt động kinh doanh của mình – mở rộng kinh doanh sang những
lĩnh vực khác không liên quan – tiến hành sáp nhập lại với nhau.
(Tham khảo thêm phục lục 1.1)
• Phân loại theo mục đích của thương vụ sáp nhập:
Có rất nhiều lý do dẫn đến sự sáp nhập giữa các doanh nghiệp như nhằm cắt
giảm lượng nhân công để giảm chi phí sản xuất, nhằm để đạt được hiệu quả nhờ vào qui
mô, được trang bị công nghệ mới, tăng thị phần và danh tiếng trong ngành,… Trong đó
mục tiêu mở rộng thị trường và mở rộng sản phẩm kinh doanh là 2 mục tiêu thường
được đặt ra. Chính vì thế trong cách phân loại này có 2 hình thức sáp nhập
12
- Sáp nhập để mở rộng thị trường: đây là hình thức sáp nhập giữa hai
hoặc nhiều công ty kinh doanh trong cùng một loại sản phẩm nhưng
hoạt động ở những thị trường khác nhau. Sự sáp nhập này sẽ giúp cho
công ty sáp nhập là công ty kinh doanh hàng hóa này ở đồng thời trong
nhiều thị trường.
- Sáp nhập để mở rộng sản phẩm: diễn ra đối với các công ty bán những
sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan với nhau trong cùng một thị
trường. Kết quả của vụ sáp nhập này sẽ giúp cho công ty sáp nhập vẫn
tiếp tục hoạt động trong thị trường cũ nhưng lại kinh doanh đồng thời
nhiều loại hàng hóa có liên quan với nhau.
1.1.3. Sự khác nhau giữa hoạt động “mua lại” và “sáp nhập” doanh nghiệp
Mặc dù “mua lại” và “sáp nhập” thường được đề cập cùng nhau thành một thuật
ngữ "Mua lại, sáp nhập doanh nghiệp" nhưng đây là hai thuật ngữ hoàn toàn khác biệt
nhau về bản chất.
Khi một công ty mua lại một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới
thì thương vụ đó được gọi là mua lại. Về khía cạnh pháp lý, công ty bị mua lại – công ty
mục tiêu – không còn tồn tại. Bên mua đã thôn tính bên bán và cổ phiếu của bên vẫn
tiếp tục tồn tại.
Khi hai công ty đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động đơn
lẻ thì gọi là sáp nhập. Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của
công ty mới sẽ được phát hành.
Tóm lại, trong một vụ sáp nhập, một công ty mới sẽ được hình thành thay cho cả
hai công ty đơn lẻ, ngược lại, trong một vụ mua lại thì công ty bị mua trở thành một chi
nhánh của công ty đi mua. Nhưng cả hai đều cùng mong muốn đạt được lợi thế qui mô,
tăng hiệu quả kinh doanh và thị phần
Tuy nhiên có sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Bởi vì, trên thực tế hình thức
sáp nhập, đặc biệt là hình thức sáp nhập ngang – sự sáp nhập của hai công ty
trong cùng ngành nghề có cùng qui mô– không thường xuyên xảy ra do nhiều
lý do. Một trong những lý do chính là do việc truyền tải thông tin ra công
chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi sáp nhập.
13
Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏa thuận đàm
phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bối với công chúng đây là một thương
vụ sáp nhập ngang bằng cho dù về mặt bản chất nó là một vụ mua lại. Một vụ
mua lại cũng có thể được gọi là sáp nhập khi mà bên mua đồng ý mua và bên
bán đồng ý bán vì lợi ích của cả hai bên. Trong trường hợp công ty bị mua
không muốn bị xem là thị thâu tóm thì sẽ được xem là một vụ mua lại. Như
vậy, một thương vụ được xem là “mua lại” hay “sáp nhập” hoàn toàn phụ
thuộc vào việc nó được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay bị ép
buộc thâu tóm nhau. Mặt khác nó còn phụ thuộc vào cách truyền tải thông tin
ra bên ngoài và cách nhìn nhận của ban giám đốc, nhân viên và cổ đông của
công ty.
Hoạt động "mua lại, sáp nhập doanh nghiệp" đã xuất hiện rất lâu ở các nước có
nền kinh tế phát triển mạnh trên thế giới. Hiện tượng này đã trải qua một quá
trình lịch sử lâu dài với nhiều biến động. Những đợt biến động của hiện
tượng này xảy ra ở các nước khác nhau do những nguyên nhân khác nhau và
có những đặc tính khác nhau. Chính vì thế, một khía cạnh nổi bật của hiện
tượng "mua lại, sáp nhập doanh nghiệp" đó là nó xảy ra một cách bất ngờ, rải
rác và có khi lại rơi vào tình trạng trầm lắng, không hoạt động. Do đó, người
ta hình dung diễn biến của hoạt động "mua lại, sáp nhập doanh nghiệp" trên
thế giới đã tạo thành những đợt sóng (waves of merger). Ở Mỹ các đợt sóng
này đã xuất hiện rất lâu, cách đây khoảng hơn 100 năm. Ở Anh, nó bắt đầu từ
những năm đầu 1960 vào tạo thành một đợt sóng mạnh nhất vào năm 1988.
Gần đây nhất, hoạt động "mua lại, sáp nhập doanh nghiệp" hình thành nên
những đợt sóng mới ở Châu Âu.
1.1.4. Mối quan hệ giữa mua lại và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) với sự
phát triển của thị trường chứng khoán
Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của thị trường tài
chính. Một thị trường tài chính hoàn chỉnh cần phải bao gồm đầy đủ các bộ phận cấu
thành nên nó và từng bộ phận cần phát triển để phát huy tác dụng của nó đối với nền
kinh tế. Trong các bộ phận của thị trường tài chính thì thị trường chứng khoán giữ một
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét