Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Cuộc đấu tranh chống nạn thất học, xoá mù chữ trong cả nƣớc nói chung
và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng có một vai trò rất quan trọng trong cuộc
đấu tranh củng cố, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1945-1946) và
cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lƣợc (1946 –
1954). Vì vậy, nghiên cứu quá trình hoạt động và thành tích của phong trào
xoá nạn mù chữ ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm 1945 – 1954 là việc
làm rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học. Mặt khác, việc nghiên cứu này còn có
ý nghĩa thực tiễn đối với công cuộc xoá mù chữ hiện nay ở Thái Nguyên.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Công cuộc xoá nạn mù chữ
ở Thái Nguyên trong những năm 1945 – 1954” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Lịch sử.
2- Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công cuộc xoá nạn mù chữ ở nƣớc ta nói chung và tỉnh Thái Nguyên
trong kháng chiến chống Pháp nói riêng là một đề tài thu hút nhiều nhà khoa
học nghiên cứu dƣới những góc độ khác nhau.
Trong cuốn “Về một nền giáo dục bình dân” (Bộ Quốc gia giáo dục xuất
bản, Hà Nội, 1946), tác giả Vũ Đình Hoè nêu rõ: Cách mạng tháng Tám thành
công, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã đặt ra yêu cầu phải xây
dựng một nền giáo dục cho tất cả mọi ngƣời dân lao động. Tác giả đã trình
bày về cách thức tổ chức nền giáo dục bình dân, về hình thức và phƣơng pháp
tổ chức các lớp học bình dân, trong đó có Bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ
thời kì 1945 - 1954.
Cuốn “Việt Nam chống nạn thất học” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1980) của
tác giả Ngô Văn Cát đã trình bày công cuộc chống nạn thất học ở Việt Nam từ
trƣớc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980. Nội dung cuốn sách
đƣợc chia làm 4 phần; trong đó phần một tác giả đã làm rõ công cuộc chống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
nạn thất học, đƣợc Đảng Cộng sản Việt Nam đặt thành một bộ phận trong
chính sách cách mạng, đã từng bƣớc trở thành phong trào khá mạnh mẽ trƣớc
Cách mạng tháng Tám. Trong phần hai, tác giả Ngô Văn Cát đã trình bày khá
sâu sắc về phong trào xoá nạn mù ở Việt Nam trong kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945 - 1954).
Cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp chống nạn thất học, nâng
cao dân trí” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1986) của tác giả Vƣơng Kiêm Toàn đã
trình bày quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phản đối chính sách giáo
dục nô dịch của thực dân Pháp và sự cần thiết phải xây dựng một nền giáo
dục mới chống nạn thất học, nâng cao dân trí. Tác giả còn nêu rõ sự quan tâm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống nạn thất học, nhƣ ra Lời kêu gọi toàn dân
chống nạn thất học, các bài phát biểu khi tham dự các buổi khai giảng, các
buổi tập huấn giáo viên bình dân học vụ…
Trong cuốn “45 năm phát triển giáo dục Việt Nam” (Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1992), tác giả Phạm Minh Hạc đã làm rõ các bƣớc phát triển của nền
giáo dục nƣớc ta qua các giai đoạn chống Pháp 1945 - 1954, chống Mĩ 1954 -
1975 và thời kì cả nƣớc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội 1975 - 1990. Dƣới
sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nƣớc hệ thống giáo dục ngày càng hoàn thiện,
bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông còn có hệ thống giáo dục Bình dân học
vụ mà sau này là Bổ túc văn hoá. Nội dung và chƣơng trình giáo dục luôn
đƣợc đổi mới, chất lƣợng giáo dục ngày càng đƣợc nâng cao. Cuốn sách đã ít
nhiều đề cập đến công cuộc xoá nạn mù chữ của Đảng và nhân dân ta.
Luận án Phó Tiến sĩ “Công cuộc xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá ở
Bắc Bộ (1945 – 1954)” của tác giả Nguyễn Mạnh Tùng (Trƣờng Đại học Sƣ
phạm, Hà Nội, 1996) không chỉ làm rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc đối
với công cuộc “diệt giặc dốt”, mà còn làm rõ các hình thức tuyên truyền, vận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
động học viên, tổ chức, duy trì lớp học, kết quả và ý nghĩa của công tác xoá
nạn mù chữ.
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tập I (1936–1965)” (Ban chấp
hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, 2003), đƣợc biên soạn công phu, nghiêm
túc, dựng lại một cách trung thực, khách quan quá trình hình thành và phát
triển của Đảng bộ tỉnh. Cuốn sách đã ghi lại những thành tựu to lớn của Đảng
bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có
bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ thời kì kháng chiến chống Pháp.
Cuốn lịch sử Đảng bộ, lịch sử quân sự các huyện, thành đều đề cập ít
nhiều đến công tác xoá mù chữ trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
Tuy nhiên, theo chúng tôi đƣợc biết, cho đến nay chƣa có một công trình
nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về phong trào bình dân học vụ, xoá nạn mù
chữ ở tỉnh Thái Nguyên. Mặc dù vậy, những công trình đã đƣợc công bố nói
trên đều là những tài liệu quan trọng giúp tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và
hoàn thành Luận văn.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là: Công cuộc xoá nạn mù chữ ở Thái
Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian: Từ năm 1945 đến năm 1954. Tuy nhiên, để làm rõ yêu
cầu của đề tài, Luận văn đề cập đến tình hình giáo dục ở Thái Nguyên trong
thời gian trƣớc năm 1945.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát tình hình giáo dục ở Thái Nguyên trƣớc Cách mạng tháng
Tám năm 1945.
- Trình bày hệ thống quá trình triển khai thực hiện chủ trƣơng phát
động phong trào thanh toán nạn mù chữ ở tỉnh Thái Nguyên trong kháng
chiến chống thực dân Pháp.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức xoá nạn mù
chữ ở Thái Nguyên.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng: Các văn kiện Đảng, những
bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kì 1945-1954; các báo cáo,
thông tri của Liên khu Việt Bắc, Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Uỷ ban kháng chiến hành
chính tỉnh Thái Nguyên và các huyện trong tỉnh, các công trình nghiên cứu của các
nhà khoa học đã đƣợc công bố, các hồi kí, bút kí của những cán bộ tham gia phong
trào xoá nạn mù chữ từ năm 1945 đến năm 1954.
Ngoài những nguồn tài liệu thành văn nêu trên, trong quá trình thực hiện đề
tài, chúng tôi còn thu thập thêm nguồn tài liệu qua lời kể của những cán bộ, giáo
viên tham gia phong trào này.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết hợp
phƣơng pháp lôgíc là chủ yếu. Các phƣơng pháp phân tích, so sánh, đối chiếu,
tổng hợp cũng đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ nội dung đề tài. Ngoài ra, chúng
tôi còn sử dụng phƣơng pháp điều tra, phỏng vấn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống quá trình
xoá nạn mù chữ ở Thái Nguyên trong những năm 1945 – 1954.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy
và học tập lịch sử địa phƣơng tỉnh Thái Nguyên.
- Rút ra những kinh nghiệm quý báu về hình thức và biện pháp xoá nạn
mù chữ, từ đó vận dụng vào công cuộc xoá nạn mù chữ hiện nay trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên và trên cả nƣớc.
- Luận văn còn góp phần giáo dục truyền thống hiếu học cho nhân dân
các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.
6. Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nội dung:
Chƣơng 1: Tình hình giáo dục ở Thái Nguyên trƣớc Cách mạng
tháng Tám năm 1945.
Chƣơng 2: Cuộc vận động xoá mù chữ ở Thái Nguyên trong những
năm 1945 – 1950.
Chƣơng 3: Cuộc vận động xoá mù chữ ở Thái Nguyên trong những
năm 1951 – 1954.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
CHƢƠNG 1
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC Ở THÁI NGUYÊN
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1.1. Tỉnh Thái Nguyên dƣới ách cai trị của thực dân Pháp.
Lợi dụng sự suy yếu của xã hội phong kiến Việt Nam, từ giữa thế kỉ
XIX, thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lƣợc nƣớc ta. Thái độ hèn
nhát, đầu hàng của vua quan triều Nguyễn là một trong những nguyên nhân
chủ yếu làm cho nƣớc ta rơi vào tay thực dân Pháp.
Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng và đặt bộ máy cai trị ở các tỉnh
thuộc Nam Bộ, Trung Bộ và đồng bằng Bắc Bộ, thực dân Pháp bắt đầu đem
quân đánh chiếm các tỉnh miền núi phía Bắc.
Ngày 17-3-1884, từ Bắc Ninh, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm Thái
Nguyên. Hai ngàn quân Thanh (Trung Quốc) bỏ chạy, nhƣng quân xâm lƣợc
đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân các dân tộc cùng với 600
quân của triều đình do Nguyễn Quang Khoáng chỉ huy. Chiều 19-3, Nguyễn
Quang Khoáng tử trận, quân Việt Nam buộc phải rút ra khỏi thành Thái
Nguyên cùng với nhân dân tổ chức đánh du kích, tiêu hao dần lực lƣợng quân
đội Pháp. Chiều ngày 19-3, quân Pháp ồ ạt tiến vào trong thành, cƣớp 39 khẩu
súng đại bác (trong đó có 25 khẩu bằng đồng), 20 súng máy, 200 súng trƣờng
cùng nhiều đạn dƣợc, thuốc súng và tiền, gạo dự trữ. Tuy chiếm đƣợc thành
Thái Nguyên, nhƣng chúng thƣờng xuyên bị quân ta đánh du kích quấy rối,
nên ngày 21-3-1884, sau khi đã phá thành, tƣớng Bơrie đờ Lislơ hạ lệnh cho
quân Pháp rút về Bắc Ninh.
Sáng ngày 15-4-1884, hai đại đội quân Pháp và một số nguỵ quân dƣới
quyền chỉ huy của thiếu tá Râygát từ Đa Phúc hành quân qua Phổ Yên lên
đánh chiếm Thái Nguyên lần thứ hai. Đến Lƣu Xá bị quân ta chặn đánh quyết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
liệt, nên mãi đến 13 giờ 10 phút ngày 16-4, chúng mới chiếm đƣợc thành.
Quân ta rút khỏi thành, nhƣng vẫn tiếp tục tổ chức bao vây cắt đứt các đƣờng
tiếp tế lƣơng thực, thực phẩm của quân Pháp. Bị đẩy vào tình thế khó khăn,
ngày 19-4-1884, quân Pháp lại phải bỏ thành Thái Nguyên rút qua Phú Bình
về Bắc Ninh.
Sau hai lần đánh chiếm vẫn không giữ đƣợc thành Thái Nguyên, ngày
10-5-1884, từ Bắc Ninh quân Pháp lại tổ chức một cánh quân lớn do trung
tá Đonniê chỉ huy, đánh chiếm Thái Nguyên lần thứ ba. Trƣớc sức mạnh áp
đảo của kẻ thù, tỉnh lị Thái Nguyên thất thủ, thực dân Pháp chiếm giữ đƣợc
thành Thái Nguyên lâu dài.
Nhƣ vậy, phải trải qua gần hai tháng với ba cuộc hành quân quy mô lớn,
thực dân Pháp mới đánh chiếm và giữ đƣợc thành Thái Nguyên. Sau đó, từ
thành Thái Nguyên, quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng trên địa bàn các
huyện trong tỉnh.
Sau khi chiếm đƣợc thị xã Thái Nguyên, thực dân Pháp ráo riết xây dựng
bộ máy đàn áp, cai trị. Chúng chia tỉnh Thái Nguyên thành 7 huyện: Tƣ Nông,
Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Văn Lãng, Phú Lƣơng và châu Định
Hoá, với 51 tổng, 199 làng. Ngoài tỉnh lị Thái Nguyên và các huyện lị, châu
lị, chúng còn đặt thêm 3 trung tâm hành chính tại Chợ Chu (Định Hoá),
Phƣơng Độ (Phú Bình) và Hùng Sơn (Đại Từ).
Bộ máy cai trị của Pháp ở cấp tỉnh gồm có một viên Công sứ ngƣời Pháp
thuộc ngạch quan cai trị hạng ba làm chủ tỉnh; một viên Phó Công sứ thuộc
ngạch quan cai trị hạng tƣ; 2 tham tá; 3 thanh tra lính khố xanh (ngoài ra còn
có một đại diện Công sứ tại Hùng Sơn, 8 trƣởng trại lính khố xanh, 2 nhân
viên thuế đoan và độc quyền, một nhân viên ngành công chính, một nhân viên
bƣu điện, một viên chức ngạch quan cai trị hạng năm đại diện Công sứ tại
Chợ Chu, một tham tá bậc nhất đại diện Công sứ tại Phƣơng Độ).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Giúp việc cho bộ máy hành chính cai trị của Pháp là quan lại ngƣời Việt
từ tỉnh xuống các châu, huyện gồm một Án sát mang hàm Tuần phủ phụ trách
chung toàn tỉnh; một Thƣơng tá phụ tá cho Án sát; 2 Tri phủ (Phú Bình và
Đại Từ); 4 Tri huyện (Phú Lƣơng, Phổ Yên, Võ Nhai, Đồng Hỷ) và Tri châu
Định Hoá. Tại trung tâm hành chính Phƣơng Độ (Phú Bình), có 1 quan lại
mang hàm Tri phủ cùng với đại diện của Công sứ Pháp phụ trách chung; 1
giáo thụ; 1 thông ngôn; 1 lại mục; 2 nhân viên bƣu điện Chợ Chu và Chợ
Mới. Ở các tổng, có các Chánh tổng, Phó tổng cai quản; ở làng có Lí trƣởng,
Phó Lí trƣởng và Hội đồng kì hào, kì mục điều hành công việc. Hầu hết các
viên quan nắm quyền cai trị từ cấp làng trở lên ở Thái Nguyên đều thuộc giai
cấp địa chủ phong kiến cấu kết làm tay sai cho thực dân Pháp.
Bên cạnh bộ máy cai trị, thực dân Pháp còn thiết lập bộ máy đàn áp
với lực lƣợng quân sự lớn đƣợc bố trí ở 37 đồn binh rải khắp các châu,
huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Mỗi đồn binh lẻ có khoảng từ 30
đến 50 lính, những đồn binh lớn gồm nhiều trại lính có từ 100 đến 200
lính. Những đồn binh này gồm lính lê dƣơng (ngƣời Âu) và lính khố đỏ,
khố xanh thuộc quân đội Pháp, do ngƣời Pháp trực tiếp chỉ huy. Nếu tính
mỗi đồn binh trung bình có 50 lính thì trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có
ít nhất 1.800 lính chính quy. Ngoài ra, còn có lính khố vàng, khố lục,
lính dõng do quan lại ngƣời Việt chỉ huy. Số lính này đƣợc trang bị đầy
đủ, đồn trú tại các phủ, huyện, châu. Nhƣ vậy, tổng cộng trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên số quân lính vũ trang khoảng trên 2.000 ngƣời. Toàn
bộ lính này trải ra thành một mạng lƣới đóng chốt ở những đầu mối quan
trọng nhất, chụp lấy lãnh thổ Thái Nguyên, trung bình từ 5 đến 6 hộ dân
trong tỉnh có một họng súng chĩa vào.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở cấp tỉnh, Công sứ chủ tỉnh là
ngƣời đứng đầu về mọi mặt chính trị, quân sự, tƣ pháp, kinh tế, văn hoá – xã
hội.
Sau khi thiết lập đƣợc bộ máy cai trị, cùng với chính sách bóc lột kinh tế,
đàn áp chính trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hoá - giáo dục nô
dịch, nhằm kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt, lạc hậu.
1.2. Khái quát tình hình giáo dục ở tỉnh Thái Nguyên
Từ thời phong kiến, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã có truyền
thống hiếu học, nhiều ngƣời bằng ý chí và nghị lực của mình đã quyết tâm
học tập, đạt đƣợc vốn kiến thức văn hoá uyên bác. Hàng chục vị thi đỗ đại
khoa, tiến sĩ (học vị cao nhất dƣới thời phong kiến) đƣợc triều đình trọng
dụng, góp phần vào sự hƣng thịnh của quốc gia. Tiêu biểu là các danh nhân
Trình Hiển - thuộc xứ Thái Nguyên đỗ Tiến sĩ năm 1429; Nguyễn Cầu, quê ở
Phổ Yên, đỗ tiến sĩ năm 1463, đƣợc truy phong chức Khâm sai đại thần, chỉ
huy sứ thị vệ long quân Cẩn hầu, Chính đô đốc đức bác quận công; Đỗ Cận,
ngƣời xã Thống Thƣợng (nay là xã Minh Đức) huyện Phổ Yên, đỗ tiến sĩ năm
1478, đƣợc phong tới chức Thƣợng thƣ - một trong sáu vị quan đứng đầu bộ
máy hành chính dƣới triều vua Lê Thánh Tông; Phạm Nhĩ quê ở huyện Đồng
Hỷ, đỗ tiến sĩ năm 1493, đƣợc bổ nhiệm làm quan tới chức Phủ doãn phủ
Phụng thiên (viên quan đứng đầu kinh thành Thăng Long); Đàm Chí, quê Túc
Duyên huyện Đồng Hỷ (nay thuộc thành phố Thái Nguyên), đỗ tiến sĩ năm
1535, làm quan tới chức Thừa Chính sứ, tƣớc Vân Trai (Bá Tƣớc); Dƣơng
Ức, quê Hoá Trung - Đồng Hỷ, đỗ tiến sĩ năm 1541, làm quan tới chức Thừa
Chính sứ; Đồng Doãn Giai, quê ở Hùng Sơn huyện Đại Từ, đỗ tiến sĩ năm
1763, làm quan tới chức Hàn Lâm hiệu thảo, sau đó sung chức Đốc Đồng trấn
Lạng Sơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng mở đầu quá trình xâm lƣợc nƣớc ta.
Đến năm 1886, chúng cơ bản hoàn thành công cuộc xâm lƣợc bằng quân sự
đối với Thái Nguyên và bắt đầu tính đến việc nô dịch bằng văn hoá và giáo
dục. Dƣới chiêu bài “khai hoá văn minh”, thực dân Pháp mở thêm một số
trƣờng tân học học theo chƣơng trình của chính quốc Pháp, nhằm đào tạo tay
sai và thực hiện âm mƣu đồng hoá lâu dài hết sức thâm độc. Thông qua việc
dạy cho lớp trẻ ngƣời bản xứ về nền văn minh của nƣớc Pháp, “ngôn ngữ đẹp
đẽ của nước Pháp”, chúng hi vọng thế hệ trẻ trƣớc hết là con, em các tầng lớp
trên của Thái Nguyên sẽ dần bị “Pháp hoá”, sùng bái văn chƣơng và nền văn
hoá Pháp, coi khinh nền văn hoá cổ truyền của dân tộc và sẽ trở thành ngƣời
dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc Pháp.
Để kìm hãm nhân dân Thái Nguyên trong vòng ngu dốt, thực dân Pháp
đặt thêm nhiều quy định khắt khe về hạn chế việc học của trẻ em.
Ngày 21-12-1917, Toàn quyền Anbe Xarô ban hành bộ luật về giáo dục
mang tên “Học chính tổng quy” và thành lập Hội đồng tƣ vấn học chính Đông
Dƣơng với chức năng tổng quát là giúp cho Toàn quyền Đông Dƣơng đề ra
những quy chế cho ngành giáo dục.
Đến năm 1919, Anbe Xarô ra lệnh bãi bỏ các trƣờng học chữ Hán và các
khoa thi hƣơng, thi hội; Đồng thời cũng ra lệnh cấm các trƣờng tƣ hoạt động
(trừ các trƣờng tƣ Thiên Chúa giáo do các cố đạo ngƣời Pháp mở). Nằm trong
chƣơng trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, tại Thái
Nguyên chúng tuyển mộ rất nhiều ngƣời lao động làm thuê không cần có học
thức vào làm việc ở các hầm mỏ, nhà máy và các đồn điền cao su. Chúng chỉ
cần một số ít ngƣời thừa hành nhƣ đốc công, cai, kí không cần đòi hỏi học
hành nhiều. Vì vậy, thực dân Pháp chỉ giới hạn việc học ở mức thấp nhất.
Từ năm 1924, Toàn quyền Méclanh thi hành một chƣơng trình “cải cách
giáo dục” hết sức nguy hại. Tên thực dân nổi tiếng về đàn áp cách mạng này
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét