LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc": http://123doc.vn/document/1055173-xay-dung-mot-nen-van-hoa-tien-tien-dam-da-ban-sac-dan-toc.htm
6. Kết cấu khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 2 chương.
Chương 1
Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền
văn hóa Việt Nam
1.1. Văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian
1.1.1. Khái niệm văn hóa
1.1.2. Văn hóa tín ngưỡng dân gian
1.1.3. Tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn
hóa
1.1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
1.1.3.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa
1.1.3.3. Đường lối, chính sách của Đảng bộ An Giang về văn hóa
1.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam
1.2.1. Thờ Mẫu trong lịch sử người Việt
1.2.2. Về kiến trúc, bày trí điện thần và lễ thức của tín ngưỡng thờ Mẫu
Chương 2
Giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã
Châu Đốc, tỉnh An Giang
2.1. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang
2.1.1. Vị trí địa lý và tình hình kinh tế - xã hội thị xã Châu Đốc hiện nay
2.1.1.1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành thị xã Châu Đốc
2.1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội thị xã Châu Đốc hiện nay
2.1.2. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang
2.2. Tác động của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam đến đời sống người
dân
2.2.1. Ý thức người dân đối với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
2.2.2. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam tác động đến người dân
2.3. Một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi
Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang
2.3.1. Một số vấn đề tồn tại trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
2.3.2. Một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi
Sam
Trang
5
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
2.3.2.1. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và nâng cao nhận
thức về giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
2.3.2.2. Phát huy nét đẹp, điều đúng ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
2.3.2.3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và biện pháp quản lý của
Nhà nước đối với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
Trang
6
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ
Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam
1.1. Văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Tiến trình lịch sử của nhân loại cho thấy, ngay từ thuở sơ khai, văn hóa đã là
nền tảng, là động lực của quá trình phát triển của toàn thể cộng đồng nói chung và
từng cá thể thành viên của cộng đồng nói riêng. Văn hóa đã trở thành một chủ đề
thu hút sự quan tâm chung của toàn thể cộng đồng nhân loại chứ không còn là
vấn đề riêng của giới nghiên cứu học thuật nữa.
Trong tiếng Việt, văn hóa là danh từ có nội hàm khá rộng và phức tạp.
Người ta có thể hiểu văn hóa như là một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng
cũng có thể hiểu văn hóa như lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn
hóa như trình độ học vấn mà mỗi công nhân viên chức vẫn ghi trong lý lịch công
chức của mình.
Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, tùy thuộc vào những không
gian, thời gian khác nhau và những tác giả khác nhau. Điều đó chứng tỏ tính đa
dạng phong phú và tính luôn luôn biến đổi của văn hóa. Bản thân thực thể văn
hóa đã trở thành đối tượng cho nhiều nhà nghiên cứu, văn hóa không còn giới hạn
trong khuôn khổ của một khoa học mà là sự đa chiều của nhiều khoa học. Điều
này đã dẫn đến việc có quá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa được đề cập
đến ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Quả thật, văn hóa là một khái niệm có
nội dung rất phong phú và đa dạng, qua đó cho thấy việc xác định khái niệm văn
hóa không đơn giản bởi các tác giả khác nhau thường hiểu nội dung của nó khác
nhau tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và tùy thuộc vào việc xuất phát từ cứ liệu
riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu.
Trong quyển “Nhân chủng học Văn hóa”, giáo sư Richley H.Crapo cho
rằng, hai nhà khoa học Mỹ A.L.Krober và Kluckhôn đã khảo sát 158 định nghĩa
về văn hóa. Năm 1967, Abraham Moles, nhà Văn hóa học Pháp cho rằng, có 250
định nghĩa về văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa Trung Hoa Từ Hồng Hưng cho
rằng, có đến “hàng nghìn định nghĩa về văn hóa” [31;10]. Theo tác giả Đoàn Văn
Trang
7
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
Chúc trong sách “Xã hội học văn hóa” thống kê cho đến nay có tới 256 định
nghĩa khác nhau về văn hóa [13;21]. Năm 1994, trong công trình Văn hóa Việt
Nam và cách tiếp cận mới, Phó Giáo Sư Phan Ngọc cho biết: “Một nhà dân tộc
học Mỹ đã dẫn ngót bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau” [22;19].
Ngược dòng thời gian, ở phương Tây, từ văn hóa xuất hiện sớm trong đời
sống ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt cho rằng: Văn hóa là
một từ có căn gốc Latinh: Colere, sau trở thành Cultura nghĩa là cày cấy, gieo
trồng. Từ nét nghĩ này về sau dẫn đến nghĩa rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng
tinh thần, trí tuệ. Thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, nhà hùng biện thời La Mã
Cicéron có câu nói nổi tiếng: “Triết học là văn hóa tinh thần” [17;13]. Quay sang
phương Đông, ở Trung Quốc, từ văn hóa đã xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ ở
thời Tây Hán (206 trước Công nguyên - 220 sau Công nguyên), hai từ văn và hóa
đã được kết hợp lại thành văn hóa, và nhìn chung có hàm nghĩa: Dung, Thi, Thư,
Lễ, Nhạc, điển chương, chế độ… để giáo hóa dân chúng. Trong quyển sách
Thuyết uyển bài Chỉ vũ của Lưu Hướng viết: Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước
dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Như vậy, trong cách nghĩ của Lưu Hướng,
từ văn hóa được hiểu như một cách giáo hóa đối lập với vũ lực, văn hóa gần
nghĩa với giáo hóa [17;14]. Trong phong trào “Minh trị duy tân” khởi xướng vào
năm 1868, Nhật Bản đã dịch rất nhiều sách của phương Tây, hai từ văn hóa đã
được Nhật Bản dùng để dịch những từ có cùng gốc Latinh Cultura.
Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương
Đông như vậy, nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hóa mới được đưa vào khoa
học, sử dụng như thuật ngữ khoa học. Năm 1774, từ này mới được xuất hiện
trong thư tịch và ghi vào từ điển năm 1783 ở Đức. Người đầu tiên sử dụng từ văn
hóa trong khoa học là Pufendorf, người Đức. Ông cho rằng văn hóa là toàn bộ
những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái
tự nhiên. Trong khi nhà triết học H.Kant lại cho rằng văn hóa là sự phát triển,
bộc lộ các khả năng, năng lực và sức mạnh của con người [17;14]. Cùng với các
nhà triết học Đức, nhà triết học Vico người Ý cho rằng, văn hóa là một từ chỉ
phức thể gồm: khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị.
Đến năm 1855, khi Klemm công bố công trình Khoa học chung về văn hóa
thì người ta mới coi khoa học về văn hóa hình thành và thực sự phát triển. Năm
1871, E.B.Tylor công bố công trình Văn hóa nguyên thủy ở Luân Đôn. Lúc này,
ngành khoa học về văn hóa mới chính thức được khẳng định, bởi E.B.Tylor đã
Trang
8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
xác lập được đối tượng nghiên cứu của ngành văn hóa học. Trên cơ sở này,
E.B.Tylor đã đề xuất một định nghĩa đầu tiên về văn hóa và khá nổi tiếng: “Văn
hóa, hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng và tập quán khác
mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [10;19]. Như
vậy, E.B.Tylor cho rằng con người có được văn hóa với tư cách là một thành viên
xã hội, không có cộng đồng nào không có văn hóa và cũng không có văn hóa nào
tồn tại ngoài cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu định nghĩa này, có thể thấy, E.B.Tylor đã
nhấn mạnh về mặt tinh thần của văn hóa. Định nghĩa này cũng nêu gộp mọi bình
diện, cấp độ của văn hóa, do đó chưa nêu được bản chất văn hóa, vì vậy chỉ là
định nghĩa mang tính chất mô tả và văn hóa không đơn giản là sự hiểu biết. Đây
được xem là định nghĩa đầu tiên, cổ điển, tiêu biểu về văn hóa, dù chưa phải là
hay nhất và đầy đủ nhất. Đến giữa những năm 60 của thế kỷ này, Abraham
Moles, một nhà văn hóa học Pháp, lại quan niệm: “Văn hóa - đó là chiều cạnh trí
tuệ của môi trường nhân tạo, do con người xây dựng nên trong tiến trình đời
sống xã hội của mình” [13;21]. Các Pốp nhà văn hóa thuộc Liên Xô cũ thì định
nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt
động có tính chất xã hội và lịch sử của xã hội loài người” [19;21].
Như đã nói trên, bản thân thực thể văn hóa đã trở thành một đối tượng được
nhiều chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn quan tâm đi sâu
nghiên cứu, trước kia là khoa học nhân học và hiện nay là chuyên ngành văn hóa
học. Cùng với thời gian, hàm nghĩa văn hóa không ngừng được mở rộng, ngày
càng thêm phong phú, chuẩn xác, nhưng “văn hóa là gì?” vẫn là một vấn đề luôn
được đặt ra để đón nhận những lời giải đáp ngày càng thấu đáo và đầy đủ hơn.
Những năm thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, vấn đề văn hóa được quan
tâm, được xem là yếu tố có vị trí quan trọng để vừa bảo tồn dân tộc, vừa phát
triển dân tộc. Quan điểm của UNESCO là: văn hóa bao gồm tất cả những gì làm
cho dân tộc này khác dân tộc khác. Rất nhiều cuộc hợp bàn về văn hóa dưới sự
chủ trì của Liên hiệp quốc đã được tổ chức, qua đó nhiều định nghĩa về văn hóa
đã được đề xuất. Tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa tổ chức tại
Paris ngày 21/1/1988, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor lại đưa ra định
nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra
trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên hệ thống các giá trị,
Trang
9
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản
sắc riêng của mình” [13;22].
Bên cạnh đó, trong các bộ Từ điển bách khoa và các từ điển chuyên ngành
của các nước, từ văn hóa cũng có một vị trí xứng đáng với những lời giải thích
khá đầy đủ và sâu sắc: “Văn hóa theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn
ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ … những hiểu biết kĩ thuật cũng như toàn bộ việc
tổ chức môi trường con người… những công cụ, nhà ở… và nói chung toàn bộ
công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và ứng xử của một
nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó…” (Bách khoa toàn thư Pháp)
[10;35].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, văn hóa bắt nguồn từ lao động.
C. Mác viết: Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên
của mọi sự tồn tại con người, và do đó tiền đề của mọi lịch sử, đó là người ta phải
có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì
trước hết phải có thức ăn, nước uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác. Như
vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất những tư liệu để thỏa mãn những nhu
cầu ấy, việc sản xuất ra đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một
điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước)
người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ để nhằm duy trì đời sống con
người [31;10-11]. Từ đây Mác cho rằng, khởi điểm của hành vi lịch sử đầu tiên là
văn hóa. Văn hóa như là sự thăng hoa của quá trình sản xuất vật chất, là cái để
con người khẳng định mình. Và do vậy, bản chất con người luôn sáng tạo theo
quy luật của cái đẹp. Quan niệm của Mác, Ăngghen về văn hóa đã được
V.I.Lênin kế thừa và phát triển. Với V.I.Lênin, văn hóa luôn gắn liền với phát
triển và hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội [31;11].
Thuật ngữ văn hóa xuất hiện rất lâu trong ngôn ngữ Hán, du nhập vào Việt
Nam từ hơn 2000 năm trước [3;10]. Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác
nhau được các giáo sư, các nhà văn hóa học Việt Nam nêu lên. Căn cứ vào nghĩa
gốc của từ Culture trong tiếng Latinh, Giáo sư Vũ Khiêu, nhà văn hóa học Việt
Nam, cho rằng: “Văn hóa thể hiện trình độ vun trồng của con người, của xã hội…
Văn hóa là trạng thái của con người ngày càng tách khỏi giới động vật, ngày
càng xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con
người” [13;21].
Trang
10
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
P. Giáo Sư, Viện sĩ Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra khái niệm về văn hóa:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [25;10]. Theo ông, văn hóa có bốn
đặc trưng cơ bản: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh.
Ngày nay, văn hóa thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp, văn hóa
nói chung và các nền văn hóa cụ thể. Văn hóa hiểu theo cách khái quát nhất và
rộng nhất có thể coi văn hóa là để chỉ toàn bộ những sáng tạo của con người về
vật chất, về tinh thần và về ứng xử, đó là những sáng tạo và hoạt động có ích cho
cuộc sống con người, cho xã hội loài người và cho thế giới xung quanh trong mối
quan hệ với môi trường tự nhiên, quần thể cộng đồng và thế giới tâm linh. Còn
văn hóa hiểu theo nghĩa riêng, chính là đặc trưng đời sống mang tính chung cho
cộng đồng người, đồng thời là bản sắc riêng khi đối sánh, phân biệt văn hóa với
cộng đồng người khác.
Nhìn chung, tuy có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa nhưng mọi
khái niệm văn hóa đều thống nhất những đặc điểm sau:
Một là, văn hóa bao gồm văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất chứ không
chỉ là văn hóa tinh thần hay văn hóa nghệ thuật;
Hai là, văn hóa không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông thường
người ta thường nói. Văn học nghệ thuật chỉ là một bộ phận cao nhất trong lĩnh
vực văn hóa;
Ba là, văn hóa là sự sáng tạo của con người hướng tới giá trị chân – thiện –
mỹ. Do vậy, nó trở thành dấu hiệu tộc loại để phân biệt con người với động vật
khác;
Bốn là, văn hóa xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức
của con người với tự nhiên nên văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi đó;
Năm là, nói đến văn hóa là nói đến tính hệ thống với chức năng tổ chức xã
hội, tính giá trị với chức năng điều tiết xã hội, tính lịch sử với chức năng giáo
dục, tính nhân bản với chức năng giao tiếp;
Sáu là, văn hóa về bản chất là một quá trình phát triển mang tính người, nó
là cái đặc trưng cho một cộng đồng dân tộc.
Tóm lại, điểm qua một vài định nghĩa xưa và nay, trong và ngoài nước về
văn hóa, có thể thấy rằng trên cả hai bình diện chính trị và khoa học thì những
quan điểm hoặc định nghĩa về văn hóa là rất khác nhau nhưng không vì thế mà
Trang
11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
chúng ta không thấy điểm chung trong các định nghĩa, quan niệm về văn hóa (văn
hóa thuộc về con người và có tính giá trị). Tất nhiên, ở mọi cộng đồng người khác
nhau do những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau thì những giá trị này không
đồng nhất mà chúng hết sức khác nhau thậm chí đối nghịch nhau.
Bên cạnh khái niệm văn hóa, còn có những khái niệm gần gũi, có liên quan
song không đồng nhất với nó. Đó là các khái niệm văn minh, văn hiến, văn vật.
Văn hóa là một khái niệm bao trùm, có chứa cả giá trị vật chất lẫn tinh thần.
Văn hóa luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc. Khái niệm văn hóa và các nền văn
hóa cổ đại đều xuất phát từ các nước phương Đông có nền kinh tế nông nghiệp
trồng lúa nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, … Nền văn hóa phương
Tây xuất hiện sớm nhất là văn hóa Hy lạp và La Mã cùng có nguồn gốc từ
phương Đông, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của nền văn hóa Ai Cập -
Lưỡng Hà. Các trung tâm văn hóa cổ đại phương Đông đều hình thành ở những
lưu vực có con sông lớn - là những nơi sản xuất nông nghiệp từ xưa đến nay.
Văn minh (văn là vẻ đẹp, minh là sáng) là một từ có nguồn gốc trong tiếng
Hán được Hán Việt hóa, được ghép bằng hai từ Văn và Minh. Trong các tiếng
Anh, Pháp, Đức, Nga, Latinh cùng có một nguồn gốc là Civilisation là để chỉ sự
khai hóa, làm cho con người thông tuệ lên. Như vậy, quan niệm của phương
Đông và phương Tây thì có sự đồng nhất trong khái niệm văn minh, đó là làm
cho con người tân tiến hơn cả về vật chất, về tinh thần, về ứng xử, cũng có nghĩa
là làm cho xã hội ngày càng phát triển. Nếu như văn hóa là toàn bộ những sáng
tạo từ đầu đến cuối của nhân loại thì văn minh là để chỉ mỗi một nấc thang, từng
cấp độ của sự phát triển trong đó có văn hóa. Văn minh chỉ cho ta trình độ phát
triển nhất định của văn hóa; nó là một đặc trưng của thời đại và có tính quốc tế,
đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại. Một dân tộc có trình độ
văn minh cao song có khi nền văn hóa lại rất nghèo nàn. Ngược lại một dân tộc
còn lạc hậu có khi lại có nền văn hóa phong phú.
Văn hiến là một khái niệm của phương Đông, theo nghĩa gốc là “sách vở,
điển chương chế độ, người hiền tài”.Văn hiến là khái niệm thiên về các giá trị
tinh thần. Nếu văn hóa là tổng thể những sáng tạo về văn hóa, văn minh là các
cấp độ, nấc thang cao thấp của sáng tạo văn hóa; văn hiến lại ghi nhận, khẳng
định cho sáng tạo của nền văn hóa - văn minh. Muốn xác lập một nền văn hiến
cho một quốc gia phải có đủ các tiêu chuẩn: chữ viết và những quy định bằng văn
Trang
12
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
bản (chữ viết, bản đồ, các loại hình mã hóa trên cơ sở của chữ viết) khắp các lĩnh
vực hoạt động của đất nước đó.
Văn vật có nghĩa hẹp hơn, là khái niệm bộ phận của văn hóa, chỉ khác văn
hóa ở độ bao quát các giá trị. Văn vật là truyền thống văn hóa thiên về các giá trị
văn hóa vật chất ở một vùng đất. Nó biểu hiện ở việc có nhiều nhân tài, nhiều di
tích, công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử.
Tóm lại, văn hóa là một khái niệm có nội dung rất phong phú và phức tạp.
Các tác giả khác nhau thường hiểu nội dung của nó khác nhau tùy thuộc vào góc
độ tiếp cận của từng người. Cùng với lịch sử, nội hàm văn hóa ngày càng mở
rộng và chuẩn hóa thêm, số lượng khái niệm văn hóa tăng lên ngày một nhiều,
nhưng câu hỏi văn hóa là gì? luôn đặt ra và luôn chờ những lời giải thích. Tùy
thuộc vào góc độ, khía cạnh khác nhau mà chúng ta tìm hiểu về khái niệm văn
hóa khác nhau.
1.1.2. Văn hóa tín ngưỡng dân gian
Từ khi có loài người đã có tín ngưỡng. Các tín ngưỡng xa xưa ấy đều là bái
vật giáo, đa thần giáo theo quan niệm sơ khai của nhân loại là vạn vật hữu linh.
Cùng với sự tiến bộ của nhân loại, các tôn giáo lớn ra đời dần thay thế các tín
ngưỡng sơ khai. Tuy nhiên, nhiều bộ tộc, nhiều dân tộc của các quốc gia, kể cả
các quốc gia có nền văn hóa sớm phát triển, vẫn duy trì tín ngưỡng đa thần giáo.
Theo Đào Văn Tập trong Tự điển Việt Nam phổ thông: “Tín ngưỡng là lòng
tin, ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [27;95].
Trong Hán – Việt tự điển, Đào Duy Anh đã giải thích: “Tín ngưỡng là lòng
ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [27;95].
Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật
thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người
suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm. Tín ngưỡng là một thành tố của văn
hóa tổ chức cộng đồng, thuộc phạm vi đời sống cá nhân, được hình thành tự phát,
nhưng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người.
Tín ngưỡng của người Việt thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Ra đời trên nền tảng
xã hội nông nghiệp cổ truyền, tố chất nông dân mạnh về tư duy tổng hợp, thiếu tư
duy phân tích nên tín ngưỡng của người Việt là tín ngưỡng dân dã đang ở giai
đoạn hình thành mầm móng của tôn giáo sơ khai; nghĩa là tín ngưỡng Việt Nam
chưa chuyển được thành tôn giáo.
Trang
13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
Cũng như các thành tố khác của văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng Việt Nam
phản ánh rất rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt
Nam. Đó là: sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên); là sự phản ánh đậm nét nguyên lý Âm – Dương (từ đối tượng thờ cúng
như Trời – Đất, Chim – Thú, Rừng – Nước, cơ quan sinh dục Nam – Nữ… cho
đến cách thức giao lưu giữa con người và thần linh, trần gian và cõi linh thiêng);
là khuynh hướng đề cao nữ tính với hàng loạt nữ thần được thờ cúng ở mọi làng
quê (Mẹ Trời, Mẹ đất, nữ thần Mây, Mưa…) là tính tổng hợp thể hiện ở tính đa
thần, tính cộng đồng.
Một số tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của người Việt:
Tín ngưỡng thờ vua Hùng
Vua Hùng là vị Vua Tổ của người Việt, người có công sáng lập ra nước Văn
Lang và mở ra thời đại Hùng Vương trong lịch sử Việt Nam (từ khoảng thế kỷ
thứ VII đến thế kỷ thứ III Tr. CN). Tương truyền, Vua Hùng (Hùng Vương thứ
nhất) là con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, cháu đời thứ 6 của Thần Nông.
Theo thần thoại, Âu Cơ lấy Lạc Long Quân, sinh ra bọc có 100 trứng, nở thành
100 con trai. Một nửa theo Cha xuống bể, một nửa theo Mẹ lên non. Đến đất
Phong Châu (vùng Việt Trì – Phú Thọ ngày nay) Mẹ Âu Cơ cùng các con tôn
người con trưởng làm vua nước Văn Lang. Mảnh đất Phong Châu nơi đóng đô
của các Vua Hùng trở thành vùng Đất Tổ. Ngày 10 tháng 3 (âm lịch) hàng năm
được lấy làm ngày giỗ Tổ.
Thờ cúng Vua Hùng mang một ý nghĩa thiêng liêng cao cả hướng về cội
nguồn, tưởng nhớ những người có công trong việc tạo lập non sông đất nước, xây
dựng cuộc sống ngày nay trong mỗi người dân và để mong tổ tiên phù hộ cho
cuộc sống của con cháu. “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta
phải cùng nhau giữ lấy nước” là lời của Bác Hồ căn dặn các thế hệ người Việt
Nam phải đoàn kết để xây dựng và bảo vệ non sông gấm vóc này. Và “Dù ai đi
ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng Ba” là điều mà mỗi người Việt
Nam hằng tâm niệm.
Tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái sự sinh tồn
nảy nở của tự nhiên và con người (phồn = nhiều; thực = nảy nở). Tín ngưỡng
phồn thực hình thành từ xa xưa trong lịch sử, trên cơ sở tư duy trực quan, cảm
tính của cư dân nông nghiệp trước sự sinh sôi để duy trì cuộc sống con người (là
Trang
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét