LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "các giải pháp nâng cao tăng cường vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển trong các doanh nghiệp nhà nước": http://123doc.vn/document/1047868-cac-giai-phap-nang-cao-tang-cuong-von-va-nang-cao-hieu-qua-dau-tu-phat-trien-trong-cac-doanh-nghiep-nha-nuoc.htm
nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư
quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhân
khách quan nhu giá nguyên liệu tăng, giá sản phẩm giảm, công suất không
đatj công suất thiết kế…Ví dụ, để nghiên cứu tính khả thi về mặt thị trường,
chủ đầu tư phải nghiên cứu tình hình cung, cầu, giá cả… của sản phẩm dự
dịnh đầu tư của dự án. Với mức giá sản phẩm là 10000đồng/sản phẩm, dự án
xây dựng dòng tiền thu, chi và tính được tổng lợi nhuận thuần của cả vòng đời
dự án. Tổng lợi nhuận thuần cang lớn, quyết định đầu tư càng dễ dàng. Tuy
nhiên nếu khi dự án đi vào hoạt động, giá của sản phẩm giảm và chỉ là 5000
đ, thì trong các điều kiện khác không đổi, tổng lợi nhuận thuần của dự án chỉ
đạt 50% so với dự kiến ban đầu. Đây là rủi ro do giá bán sản phẩm giảm. Như
vậy, để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp
quản lý ruỉ ro bao gồm:
+ Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư. Có nhiều nguyên nhân rủi ro, do vay,
việc xác định đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên đẻ tìm
ra giả pháp phù hợp để khắc phục.
+ Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro. Rủi ro có khi xảy ra rất nghiêm trọng,
nhưng có khi chưa đến mức gây nên nhưng thiệt hại về kinh tế.Đánh giá đúng
mức độ rủi ro sẽ giúp ta đưa ra nhưng biện pháp phòng và chống phù hợp.
+ Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro. Mỗi loại rủi ro
và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứng
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể có do rủi ro này gây ra.
1.2.4 Nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn. Nội dung và nguồn gốc của vốn là
những vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết của lý thuyết đầu tư phát triển.Bản
chất của đầu tư phát triển còn được thể hiện ở nội dung vốn và nguồn vốn đầu
tư, lý luận biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa hai vấn đề này.
5
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên phương
diện kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi
phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản
lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.Về cơ bản vốn đầu tư phát triển
mang những đặc trung của vốn như:(1) vốn đại diện cho một lượng giá trị tài
sản;(2) vốn phải vận động sinh lời;(3) vốn cần được tích tụ và tập trung đến
một mức nhất định mới có thể phát huy tác dụng;(4) vốn phải gắn với chủ sở
hữu;(5) vốn có giá trị về mặt thời gian.
Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế bao
gồm:
(a). Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là những chi phí bằng tiền để xây dựng
mới ,mở rộng,xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố
định trong nền kinh tế quốc dân.
(b). Vốn lưu động bổ sung: bao gồm những khoản đầu tư nhằm mua sắm
nguyên vật liệu,thuê mướn lao động…làm tăng tài sản lưu động trong kỳ của
toàn bộ xã hội.
(c). Vốn đầu tư phát triển khác: là tất cả cá khoản đầu tư của xã hội nhằm
gia tăng năng lực phát triển của xã hội,nâng cao trình độ dân trí,cải thiện chất
lượng môi trường.Ví dụ như vốn đầu tư cho lĩnh vực giáo dục:chương trình
phổ cập giáo dục,nghiên cứu,triển khai đầo tạo…Vốn chi cho các chương
trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khoẻ cộng đồng như chương
trình tiêm chủng mở rộng,chương trình nước sạch nông thôn…
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ chỉ các nguồn tích luỹ, tập
trung và phân phối cho đầu tư. Về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư phát
triển chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động để
đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Nguồn vốn đầu tư phát triển trên
phương diện vĩ mô, bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn vốn trong nước gồm: Vốn nhà nước, vốn dân doanh và vốn trên thị
trường vốn. Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
6
(FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay thương mại nước
ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế. Trong mỗi thời kỳ khác nhau,
quy mô và tỷ trọng vốn của từng nguồn vốn có thể thay đổi nhưng để chủ
động phát triển KTXH của quốc gia theo định hướng chiến lược và kế hoạch
đặt ra, cần nhất quán quan điểm: xem vốn trong nước giữ vai trò quết định,
vốn nước ngoài là quan trọng.
II.LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (DNNN).
1. Khái niệm chung về DNNN
Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương Ba, khóa IX, Luật DNNN năm
2003, tại Điều 1 đã quy định: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn".
Đó là những doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc giữ
hơn 50% vốn điều lệ. DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó:
1 - DNNN có 100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật DNNN mới (năm
2003) được gọi là Công ty nhà nước (để phân biệt với DNNN có 100% vốn
nhà nước hoạt động theo các luật khác);
2 - Công ty cổ phần, công ty TNHH một hoặc hai thành viên trở lên có 100%
vốn Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
3 - Công ty cổ phần, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có cổ phần chi
phối hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp,
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Do khái niệm DNNN được mở rộng hơn trước đây, cho nên, nếu dùng
cùng một khái niệm DNNN thì dễ lẫn lộn giữa ba loại DNNN nói trên. Để
phân biệt giữa DNNN hoạt động theo Luật DNNN mới với DNNN hoạt động
theo các luật khác, loại DNNN do Nhà nước thành lập, sở hữu 100% vốn điều
7
lệ hoạt động theo luật DNNN mới (Luật DNNN năm 1995 gọi là DNNN)
được gọi là Công ty Nhà nước.
Ngoài ra theo khoản 1 điều 4 chương I của Luật doanh nghiệp 2005 (sửa
đổi) thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Cũng theo khoản 22 điều 4 chương I của luật này thì “DNNN là doanh
nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”.
Vai trò chủ đạo của DNNN thể hiện qua:
Vai trò kinh tế: DNNN giúp khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị
trường; đảm nhận các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh có tính chiến lược đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng của
tư nhân; tham gia vào những lĩnh vực khoa học-công nghệ mũi nhọn, có hệ số
rủi ro cao; tham gia vào một số ngành có lợi thế cạnh tranh.
Vai trò chính trị: Một là, DNNN nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng
liên quan đến an ninh, quốc phòng quốc gia. Hai là, DNNN tham gia chiếm
giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng (tuỳ theo từng thời kỳ phát triển kinh tế)
để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng trong phát triển hội nhập kinh
tế quốc tế.
Vai trò xã hội: DNNN gánh vác chức năng và vai trò xã hội và khác biệt so
với các loại hình doanh nghiệp khác, những ngành ở những địa bàn khó khăn
có ý nghĩa chính trị-xã hội mà tư nhân không muốn đầu tư, đảm bảo cân bằng
về đầu tư phát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành sản xuất hàng hoá
công cộng thiết yếu.
.
2.Các nội dung cơ bản của đầu tư phát triển trong DNNN.
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: Đầu tư những tài
sản vật chất (tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình. Đầu tư phát triển
các tài sản vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và
8
đầu tư vào hàng tồn kho. Đầu tư phát triển tái sản vô hình gồm các nội dung:
đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khai các
hoạt động khoa học-công nghệ-kĩ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu-quảng
cáo…
2.1. Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định
của doanh nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính như:
Xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Trong doanh nghiệp đặc biệt doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều cần
xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặt trên
nền bệ các máy móc thiết bị… Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm
tỉ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị.
2.2. Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ.
2.2.1 Khái niệm
Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên-nhiên vật liệu, bán
thành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp. Tùy
theo loại hình doanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ cũng
khác nhau. Nguyên vật liệu là một bộ phạn hàng tồn trữ không thể thiếu của
doanh nghiệp sản xuất nhưng lại không có trong doanh nghiệp thương mại
dịch vụ. Tỉ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triển của
doanh nghiệp thương mại thường cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác.
Do vậy xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối ưu cho doanh nghiệp là rất
cần thiết.
9
*Vai trò của dự trữ
Dụ trữ luôn là vấn đề sống còn là một đòi hỏi tất yếu khách quan, nó
đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của sản xuất và tiêu dùng .
Trong mô hình dự trữ JIT ( Just in time ) chỉ ra:
+ Nếu dự trữ thật nhiều dẫn đến ứng đọng vốn , hàng hoá hỏng , tăng
chi phí bảo quản không hiệu quả.
+ Nếu dự trữ ít quá không đủ nguyên vật liệu để sản xuất , không đủ
hàng hoá để bán và dẫn đến gián đoạn sản xuất kinh doanh .
+ Cần phải phân biệt giữa dự trữ và tình trạng dư thừa ứng đọng sản
phẩm trong các doanh nghiệp
2.2.2 Phân loại hàng tồn trữ :
- Căn cứ vào khái niệm hàng tồn trữ được chia thành :
+ Nguyên vật liệu, bán thành phẩm
+ Thành phẩm
- Căn cứ vào bản chất của cầu hàng tồn trữ được chia thành :
+ Cầu các khoản mục độc lập
+ Cầu các khoản mục phụ thuộc
2.2.3 Chi phí hàng tồn trữ
- Theo quan điểm của nhà quản trị chi phí tồn trữ gồm hai loại chi phí
đặt hàng và chi phí dự trữ hàng.
- Chi phí đặt hàng là toàn bộ chi phí liên quan đến việc thiết lập một
đơn hàng.
- Nội dung của chi phí đặt hàng :
+ Chi phí tìm nguồn hàng
+ Chi phí thực hiện quy trình đặt hàng
+ Chi phí chuẩn bị chuyển hàng về kho
- Đặc điểm của chi phí đặt hàng là tương đối ổn định khi quy mô đặt
hàng thay đổi.
10
2.2.4 Chi phí dự trữ hàng
- Chi phí dự trữ hàng là toàn bộ chi phí liên quan đến hàng đang dự trữ
tại kho.
- Nội dung của chi phí dự trữ hàng :
+ Chi phí về kho hàng (lệ phí kho bãi, bảo hiểm kho hàng…)
+ Chi phí sử dụng thiết bị (điện nước
+ Chi phí về nhân lực (tiền công của bảo vệ, giám sát tư
vấn…)
+ Lệ phí đầu tư vào hàng dự trữ lãi suất tiền vay
+ Những hao hụt được phép.
- Đặc điểm chi phí dự trữ là thay đổi tỷ lệ thuận với quy mô đặt hàng.
2.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế và doanh
nghiệp. Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới đảm bảo dành thắng lợi
trong cạnh tranh. Do vậy, đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực là rất cần thiết.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư cho hoạt động đào tạo
(chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ….) đội
ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe-y tế; đầu tư cải thiện
môi trường-điều kiện lao động của người lao động…Trả lương đúng và đủ
cho người lao động cũng được xem là hoạt động đầu tư phát triển. Đầu tư phát
triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từ khâu tuyển người lao
động. Đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt, bởi vậy khâu tuyển
người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất.Tuyển người hiện nay đòi
hỏi phải đạt được các yêu cầu như : Trình độ văn hoá , ngoại ngữ, trình độ vi
tính …Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng lao động của người lao động
thường xuyên.Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất nhiều công nghệ hiện đại
đã và đang được ứng dụng trong các loại hình doanh nghiệp nước ta.Vì vậy
việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan trọng .Cuối cùng là việc khen
thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần giúp người lao động hăng say trong
11
công việc từ đó nâng cao năng suất lao động. Các hinh thức khen thưởng đang
được thực hiện ở các doanh nghiệp các cá nhân thành viên có thanh tích tốt
đều được thưởng xứng đáng góp phần nâng cao trong xí nghiệp , công ty , các
cuộc thi các cá nhân …Nhờ có chính sách đào tạo lao động nhiều doanh
nghiệp đã đạt được những thanh công to lớn , góp phần không nhỏ trong
chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược cạnh tranh của mình.
2.4. Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ.
Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi đầu tư
cho các họat động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ. Đầu tư nghiên
cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao. Hiện nay khả năng
cho họat động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ của doanh
nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn. Cùng với đà phát triển của kinh tế đất
nước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt động đầu tư này sẽ
ngày càng tăng ương ứng với nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp.
*Các yếu tố ảnh hưởng đến nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp
-Khả năng tài chính của doanh nghiệp: khả năng tài chính của doanh nghiệp
sx cho phép xác định được khả năng và quy mô đầu tư nghiên cứu và triển
khai của doanh nghiệp.
-Quy mô sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp: quy mô sản xuất kinh doanh
cang lớn thì khả năng quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai càng lớn .
-Cơ hội về đổi mới kĩ thuật và các cơ hội trong ngành: những ngành có nhiều
cơ hội đổi mới công nghệ và kĩ thuật đòi hỏi các doanh nghiệp trong ngành
đó phải tích cực đầu tư cho nghiên cứu nắm bắt kịp thời các cơ hội về kĩ thuật
và công nghệ của ngành.
Khi đánh giá hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai các doanh nghiệp
thường dựa trên một số quan điểm sau :
12
+ Thứ nhất là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai phải được xem xét
đánh giá toàn diện về các mặt tài chính kinh tế xã hội , môi trường .
+ Thứ hai là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai vừa có thể lượng
hoá được vừa có thể không lượng hoá được. Do đó kết quả của đầu tư cho
nghiên cứu và triển khai có thể được thể hiện dưới dạng hiện hoặc dưới dạng
ẩn tuỳ theo dự án, chương trình nghiên cứu.
Tóm lại có thể nói đầu tư cho nghiên cứu triển khai đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các chương trình và
dự án R&D gắn chặt với chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp đạt
được các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn về kinh tế cũng như các ảnh
hưởng khác.
CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ KHOA HỌC CÔNG
NGHỆ MỚI VÀO SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Một số chỉ tiêu có thể dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học công
nghệ (KHCN) vào sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp (DN). Các
chỉ tiêu đó là:
+ Giá thành sản phẩm;
+ Chất lượng hàng hóa;
+ Lợi nhuận.
*Đánh giá hiệu quả đầu tư KHCN mới vào SXKD bằng các chỉ tiêu
nêu trên có nhiều ưu điểm, đang được nhiều DN áp dụng. Tuy nhiên đối với
DN (ngành, lĩnh vực) có chu kỳ SXKD dài hạn từ 5 đến 7 năm, tức là kể từ
khi đầu tư KHCN mới phải trải qua 5-7 năm mới có sản phẩm, hàng hóa, lợi
nhuận, nhưng lại có yêu cầu biết hiệu quả ngắn hạn (Ví dụ sau một năm đầu
tư KHCN mới) nhằm điều chỉnh SXKD và đầu tư KHCN. Thậm chí có
trường hợp còn muốn biết hiệu quả trước khi đầu tư KHCN để đưa ra quyết
định có đầu tư hay không, hay đầu tư như thế nào. Ở đây thấy rất rõ ràng là
chưa có các thông tin: Giá thành, chất lượng hàng hóa hay lợi nhuận để đánh
giá hiệu quả đầu tư KHCN mới. Muốn khắc phục trở ngại này cần phải dùng
13
thông tin thay thế thích hợp đối với DN. Chẳng hạn như thay thế thông tin lợi
nhuận bằng thông tin số lao động có công ăn việc làm. Ở nước ta hiện nay
đầu tư KHCN mới làm tăng (giảm) số lao động có công ăn việc làm cũng
được coi là hiệu quả. Nếu vậy hiệu quả được đánh giá bằng công thức sau
đây:
00
x
:
N
H
x
N
∆
∆
=
H: Hệ số co dãn đầu tư KHCN thường tính bằng %. Phản ánh tăng (giảm) 1%
đầu tư KHCN làm tăng (giảm) bao nhiêu % số lao động có việc làm.
∆
N
: Số lao động có việc làm tăng (giảm)
∆
N
= N
l
- N
0
N
l
: Số lao động có việc làm sau khi đầu tư KHCN mới (kỳ báo cáo)
N
0
: Số lao động có việc làm trước khi đầu tư KHCN mới (kỳ gốc)
∆
x
: Mức đầu tư KHCN tăng (giảm)
∆
x
= x
1
- x
0
x
l
: Mức đầu tư KHCN mới (kỳ báo cáo)
x
0
: Mức đầu tư KHCN cũ (kỳ gốc)
Ví dụ có số liệu thống kê về đầu tư KHCN và số lao động có việc làm của DN
như sau
Ký hiệu Kỳ gốc Kỳ báo cáo
Tăng (giảm)
Tuyệt đối %
Mức đầu tư KHCN (tỷ đ) x 10 10,2 0,2 2
Số lao động có việc làm (người) N 100 130 30 30
H = 30% : 2% = 15
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét